Đổi mới kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực đối với các môn Lý luận chính trị ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum

50  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
ĐỔI MỚI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG  
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỐI VỚI CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM  
Hoàng Xuân Lĩnh*  
Trường CĐ Cộng đồng Kon Tum  
Tóm tắt  
Bài viết đề cập thực trạng việc kiểm tra- đánh giá (KTĐG) kết quả học tập người học  
đối với các môn     uận ch nh tr  tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum trong thời gian  
vừa qua. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp đổi mới cách thức KTĐG theo đ nh hướng phát  
triển năng  ực người học.  
Từ khóa: Đổi mới; kiểm tra – đánh giá; đánh giá năng  ực;     uận ch nh tr ;  
Abstract  
Innovating the method of testing and assessment in the direction of developing  
learners’ capacity in teaching Political Theory at Kon Tum Community College  
The article mentions the current situation and the status quo of testing and  
assessing  earners’ academic resu ts of teaching Po itica  Theory at Kon Tum Community  
College in the past time; on that basis, some solutions are proposed to innovate the testing  
and assessment method in the direction of developing learners' capacity in the coming time.  
Keywords: Innovation; testing and assessment; assessing capacity; political theory;  
xuất một số giải pháp gắn với nhiệm vụ thể  
của mỗi giảng viên trong quá trình đổi mới  
công tác KTĐG tại trường CĐ Cộng đồng  
KonTum.  
2. Nội dung  
1. Thực trạng việc KTĐG các môn  
LLCT hiện nay  
Cũng như các bộ môn khác trong nhà  
trường, thời gian qua việc KTĐG các môn  
LLCT đã có những thay đổi đáng kể như:  
xây dựng được hệ thống ngân hàng đề thi  
cho tất cả các học phần của bộ môn; thực  
hiện, tuân thủ đúng yêu cầu chuyên môn  
trong tất cả các khâu, từ ra đề, tổ chức thi,  
chấm bài đến lên điểm… đảm bảo tính  
khách quan trong KTĐG; tạo sự phân hóa  
tương đối rõ nét về điểm số giữa các cá  
nhân người học và phần nào tạo được động  
lực cho người học trong quá trình học tập.  
1. Đặt vấn đề  
Đổi mới KTĐG là yêu cầu tất yếu,  
đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho  
quá trình đổi mới phương pháp dạy học  
theo định hướng phát triển năng lực người  
học. Tuy nhiên, thời gian qua vì nhiều lý do  
khác nhau, việc KTĐG các môn Lý luận  
chính trị (LLCT) nói riêng và những bộ  
môn khác trong nhà trường vẫn chưa theo  
kịp xu thế đổi mới phương pháp dạy và học  
theo định hướng năng lực hiện nay.  
Làm gì để nâng cao chất lượng  
KTĐG nhằm đảm bảo tính khách quan,  
công bằng và tạo động lực cho người học  
đối ở các môn LLCT trong điều kiện cụ thể  
của nhà trường? Dưới góc độ của một  
giảng viên trực tiếp đứng lớp, bài viết đề  
__________________________  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
51  
Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm  
trên, việc KTĐG bộ môn vẫn còn một số  
tồn tại, hạn chế sau:  
- Thứ nhất, việc đổi mới phương  
pháp dạy học theo hướng phát triển năng  
 ực người học vẫn chưa được chú trọng.  
Phương pháp chủ đạo được sử dụng khi  
giảng dạy bộ môn vẫn là thuyết trình, đàm  
thoại. Điều này đã chi phối không nhỏ đến  
mục tiêu, nội dung và phương thức KTĐG  
bộ môn. Bởi nguyên tắc của mối quan hệ  
giữa hai quá trình này chính là phương  
châm: học gì thi đó và ngược lại. Bên cạnh  
đó, nhà trường vẫn chưa có lộ trình cụ thể  
trong việc đưa ra các định hướng cho công  
tác KTĐG theo định hướng năng lực;  
Thứ nhất, hình thức thi còn nghèo  
nàn, chủ yếu là thi viết với kiểu đề “đóng”;  
còn thiếu các loại hình khác như: trắc  
nghiệm khách quan, vấn đáp, bài tập thực  
hành, vận dụng, trình bày kết quả thảo luận  
nhóm... Do vậy chưa kích thích được sự  
sáng tạo, không đánh giá được năng lực  
người học;  
Thứ hai, vì mục tiêu của đánh giá là  
để xếp loại người học nên nội dung của đề  
thi thuần túy là những kiến thức trong sách  
vở, nhằm kiểm tra khả năng tái hiện, ghi  
nhớ kiến thức; còn thiếu những đề thi có  
vận dụng liên hệ thực tiễn. Do vậy đề thi  
không đánh giá được năng lực sáng tạo,  
năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn người  
học; chưa kích thích được khả năng tự học,  
tự nghiên cứu của sinh viên; thiếu khả năng  
phân hóa người học, dễ dẫn đến tình trạng  
“học lệch”, “học tủ”; tạo nên áp lực thi cử  
cho người học;…  
Thứ ba, việc tổ chức KTĐG chủ yếu  
tập trung vào việc thi cuối học phần, còn  
thiếu chú trọng đến việc đánh giá quá trình  
của người học. Điều này thể hiện ở chỗ:  
trong cơ cấu điểm học phần thì tỷ lệ điểm  
thường xuyên và điểm thi kết thúc học phần  
là 4/6. Bên cạnh đó, việc kiểm tra thường  
xuyên trên lớp chỉ được thực hiện chủ yếu  
bằng kiểm tra viết, đề “đóng”. Do vậy, việc  
đánh giá người học không đảm bảo được  
tính thường xuyên, còn mang yếu tố may  
rủi đối với người học; không thấy được sự  
tiến bộ của mỗi sinh viên trong quá trình  
học tập; có sự chênh lệch giữa điểm thường  
xuyên và điểm thi cuối học phần…  
- Thứ hai, do t nh đặc thù của bộ  
môn: là những môn học lý luận, kiến thức  
có tính hàn lâm, trừu tượng và khái quát  
cao. Điều đó càng được thể hiện rõ hơn khi  
thực hiện chương trình môn học theo Quyết  
định 52, ngày 19/8/2008 của Bộ GD-ĐT.  
Theo đó những nội dung kiến thức có liên  
quan đến thực tiễn Cách mạng Vệt Nam ở  
chương trình trước đây đã được tách khỏi  
học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ  
nghĩa Mác- Lênin. Điều này làm cho nội  
dung các học phần này chỉ là những kiến  
thức thuần túy về lý luận, rất khó cho giảng  
viên bộ môn liên hệ thực tiễn trong khi ra đề;  
- Thứ ba, yếu tố chủ quan của người  
dạy: đây mới là nguyên nhân chính của  
những thực trạng trên. Bởi việc KTĐG theo  
hướng phát triển năng lực đòi hỏi mỗi giáo  
viên ngoài việc nắm chắc, sâu nội dung  
kiến thức phải có khả năng sáng tạo, chọn  
lọc tình huống điển hình, tình huống có vấn  
đề liên quan đến nội dung kiến thức chương  
trình để đưa vào đề thi… Do đó việc giáo  
viên bộ môn ngại thiết kế, xây dựng đề thi  
theo hướng này cũng là điều dễ hiểu.  
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân  
khác như: tâm lý thụ động trong học tập  
của sinh viên; cơ sở vật chất kỹ thuật của  
nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu đổi  
mới; việc ứng dụng công nghệ thông tin  
2. Nguyên nhân  
Nguyên nhân của những tồn tại trên  
có nhiều, nhưng theo chúng tôi tập trung  
vào một số nguyên nhân chủ yếu sau:  
52  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
trong KTĐG còn hạn chế…. cũng ảnh  
hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất  
lượng KTĐG theo định hướng phát triển  
năng lực người học hiện nay.  
đáp; trắc nghiệm khách quan; làm bài tập  
lớn…  
- Có cơ chế hỗ trợ về tài chính đối  
với việc đổi mới KTĐG theo hướng năng  
lực; khuyến khích thực hiện đề tài nghiên  
cứu khoa học các cấp về xây dựng bộ câu  
hỏi, tiến tới xây dựng ngân hàng đề thi theo  
hướng đánh giá năng lực của các bộ môn;  
trước hết là “đặt hàng” cho một số học  
phần có đủ điều kiện xây dựng bộ câu hỏi  
theo hướng đánh giá năng lực người học để  
tiến tới xây dựng hệ thống ngân hàng đề thi  
các học phần trong toàn trường; có cơ chế  
khuyến khích việc đẩy mạnh việc ứng dụng  
công nghệ thông tin trong KTĐG; tổ chức  
các hội thảo khoa học chuyên đề; cử giảng  
viên bộ môn đi tập huấn; đưa việc đổi mới  
KTĐG thành một tiêu chí thi đua bắt  
buộc…  
3. Giải pháp  
Trước hết cần nhận thức rằng, việc  
đổi mới KTĐG theo hướng năng lực chỉ là  
một khâu nằm trong chuỗi hệ thống của quá  
trình đổi mới các hoạt động dạy- học.  
Trong đó mỗi giai đoạn có vị trí, vai trò  
khác nhau và liên quan đến các bộ phận  
khác nhau; từ việc ban hành cơ chế, chính  
sách mang tính định hướng của nhà trường  
đến việc tổ chức thực thi của các bộ phận  
liên quan mà đặc biệt là mỗi giáo viên đứng  
lớp. Dưới góc độ của một giáo viên trực  
tiếp giảng dạy, chúng tôi đề xuất một số  
giải pháp sau:  
3.1. Về phía nhà trường  
Nhà trường, cụ thể là phòng Khảo  
thí & kiểm định chất lượng cần tham mưu  
để Hiệu trưởng ban hành các văn bản có  
tính định hướng và ràng buộc trong công  
tác KTĐG đối với các Tổ chuyên môn theo  
các hướng:  
- Đối với các bài kiểm tra thường  
xuyên: cần tăng trọng số điểm quá trình này  
lên tỷ lệ 5/5 thay cho tỷ lệ 4/6 như hiện  
nay. Trong đó cần hạn chế bớt điểm kiểm  
tra cá nhân và tăng dần tỷ trọng điểm hoạt  
động nhóm. Có thể phân bố điểm thường  
xuyên theo cơ cấu: điểm chuyên cần 10%;  
tham gia các hoạt động nhóm tại lớp 20%  
và kiểm tra cá nhân 20%; Song song với  
quá trình này cần khuyến khích giảng viên  
cho sinh viên làm bài tập thực hành vận  
dụng, tiểu luận chuyên đề, viết thu hoạch…  
thay cho cột điểm kiểm tra tại lớp.  
3.2. Về phía giảng viên  
Phải nhận thức rằng giảng viên là  
nhân tố quyết định sự thành công của quá  
trình đổi mới KTĐG theo định hướng phát  
triển năng lực người học. Do vậy xuất phát  
từ kinh nghiệm thực tiễn bản thân, chúng  
tôi đề xuất một số biện pháp gắn với những  
công việc cụ thể của mỗi giảng viên sau:  
Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới  
phương pháp giảng dạy theo hướng tăng  
cường tính tự chủ, tự hoạt động của người  
học làm cơ sở cho việc đánh giá điểm quá  
trình. Để làm được, mỗi giảng viên cần:  
- Tăng cường các hoạt động nhóm:  
tiến hành chia nhóm ngay trong buổi học  
đầu tiên, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng và  
địa chỉ email riêng. Mọi công tác liên lạc,  
thực hiện nhiệm vụ học tập của nhóm đều  
được gửi qua email. Các nhóm s  được giữ  
ổn định trong suốt quá trình học.  
- Đối với bài kiểm tra cuối học phần:  
đa dạng hóa các hình thức KTĐG theo  
hướng giảm dần những bài kiểm tra viết  
“đề đóng”, thay vào đó là dạng “đề mở”, có  
liên hệ vận dụng thực tiễn; tổ chức thi vấn  
Giao nhiệm vụ cụ thể cho các  
nhóm, như: các câu hỏi thảo luận; chuẩn bị  
nội dung bài mới; các bài tập điều tra thực  
tế… Việc đánh giá các nhóm s  được tiến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
53  
hành dựa vào mức độ hoàn thành công việc  
được giao; song song với đó cần có cơ chế  
thưởng, phạt (bằng điểm) cho các nhóm  
hoặc các cá nhân tích cực.  
bài tập  
Thứ hai, xây dựng bộ câu hỏi/ bài  
tập theo hướng đánh giá năng lực người  
học:  
- Xây dựng hệ thống các bài tập  
- Trước hết cần xác định đúng về  
vận dụng, điều tra thực tế, hệ thống các câu  
hỏi thảo luận, tiểu luận chuyên đề …; Nội  
dung các đề tài phải gắn với nội dung lý  
thuyết trong chương trình, đồng thời phải  
liên hệ với thực tiễn, phải có tính chất mới  
mẻ, cần hướng vào những vấn đề chưa  
được giải quyết.  
mục đích (nội dung) đánh giá. Mục đích  
đánh giá không phải là khả năng tái hiện  
kiến thức mà là khả năng vận dụng, sáng  
tạo tri thức trong các tình huống cụ thể.  
Hay nói cách khác, là xem mức độ đạt được  
của người học trên các mặt kiến thức, kỹ  
năng, thái độ trong một bối cảnh nhất định.  
Tức là đánh giá năng lực người học. Do đó,  
yêu cầu của loại câu hỏi /bài tập này là:  
(1) Phải có tính liên hệ, vận dụng:  
Quá trình thực hiện nhiệm vụ nên  
tiến hành theo các bước sau:  
+ Lựa chọn tên, chủ đề: ngoài  
những đề tài mà giảng viên đưa ra, chúng ta  
có thể khuyến khích và tạo điều kiện cho  
các nhóm suy nghĩ và lựa chọn đề tài cho  
mình, miễn sao đề tài đó đáp ứng được yêu  
cầu của môn học, nhằm tạo sự hứng thú,  
đam mê cho sinh viên khi thực hiện.  
nội dung đề thi luôn có tình huống, sự kiện  
cụ thể gắn với nội dung bài học, qua đó  
buộc người học phải vận dụng kiến thức lý  
luận để giải quyết các tình huống cụ thể mà  
thực tiễn đặt ra. Tức là thông qua một sự  
kiện, một vấn đề thực tiễn cụ thể, hoặc một  
bài tập tình huống... yêu cầu SV vận dụng  
kiến thức bài học giải quyết vấn đề, sự  
kiện, tình huống đó.  
+ Các nhóm tiến hành phân công  
nhiệm vụ cho các thành viên. Việc này s  
do bản thân nhóm tự quyết và giảng viên  
không can thiệp mà chỉ yêu cầu nộp kèm  
theo sản phẩm là bản phân công công việc  
của nhóm.  
(2) Vì có tính vận dụng nên các câu  
hỏi/ bài tập tình huống luôn phải có xu  
hướng “mở”, cho phép người học tự quyết  
định nội dung và cấu trúc câu trả lời dựa  
trên chủ đề gắn với thực tiễn đã cho.  
+ Trình bày kết quả làm việc của  
nhóm mình: tổ chức cho các nhóm tiến  
hành báo cáo trước lớp. Nếu có đủ thời gian  
thì cho lần lượt các nhóm tiến hành thuyết  
trình. Giảng viên cũng cần đưa ra tiêu chí,  
hướng dẫn chấm điểm và tổ chức cho sinh  
viên tự đánh giá và đánh giá chéo.  
VD: Ở học phần Những nguyên lý  
cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (phần  
I), khi cần đánh giá năng lực nhận thức của  
người học về nội dung “quy  uật chuyển  
hóa từ những sự thay đổi về  ượng thành  
những sự thay đổi về chất và ngược  ại”  
(quy luật lượng - chất). Thay vì đưa ra các  
câu hỏi mang tính kiểm tra mức độ thuộc  
bài của SV theo truyền thống là: “Trình bày  
nội dung quy  uật chuyển hóa từ những sự  
thay đổi về  ượng thành những sự thay đổi  
về chất và ngược  ại;   nghĩa phương pháp  
 uận của quy  uật?”. Chúng ta có thể ra  
một đề dưới dạng tình huống như sau:  
Cách tổ chức này s  tạo được hứng  
thú cho sinh viên, kích thích hứng thú học  
tập và tăng khả năng diễn đạt, tranh luận  
trước đám đông cũng như khả năng nghe và  
ghi chép. Giảng viên không còn là người  
duy nhất đánh giá kết quả mà vai trò chính  
là hướng dẫn và góp ý cho sinh viên. Điều  
cần lưu ý là giảng viên cần đưa ra tiêu chí  
đánh giá cho sinh viên trước khi thực hiện  
54  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
“Theo quy đ nh của  uật Giáo dục,  
có thể sử dụng câu hỏi: “Tại sao trong  ĩnh  
vực xây dựng, so với anh kỹ sư người phụ  
hồ có  ao động vất vả, năng nhọc hơn  
nhưng thu nhập  ại thấp hơn? Qua tình  
huống trên chúng ta có thể rút được bài  
học gì cho bản thân?”...  
để tạo thuận  ợi cho trẻ vào  ớp Một,  
chương trình Mầm non chỉ được phép dạy  
cho trẻ  àm quen với chữ cái và các con số  
từ 1 đến 10; quá trình này phải được thực  
hiện thông qua các hoạt động vui chơi nhẹ  
nhàng. Nhưng trên thực tế, thời gian qua có  
một số trường mầm non ngoài công  ập đã  
thực hiện giảng dạy chương trình  ớp 1  
theo kiểu các “ ò”  uyện thi để trẻ biết đọc,  
biết viết trước khi vào  ớp Một”  
Những đề thi trên có đầy đủ hai yếu  
tố, là có bối cảnh (tình huống) và có tính  
chất “mở” như đã đề cập. Với cấu trúc như  
vậy, buộc người học phải nhận diện được  
tình huống đưa ra nằm trong nội dung kiến  
thức nào của chương trình và vận dụng nó  
để giải quyết một vấn đề thực tiễn đã cho.  
Quan trọng hơn, đề thi đã tạo ra cơ hội để  
người học thể hiện năng lực thực tiễn gắn  
với nội dung công việc của mình đang theo  
học.  
1. Theo anh (chị), việc làm trên đã  
vi phạm quan điểm nào của phép biện  
chứng duy vật? Giải thích?  
2. Là một giáo viên Mầm non trong  
tương lai, anh (chị) hãy cho biết ý nghĩa  
phương pháp luận từ quy luật trên vào công  
tác giáo dục trẻ mầm non của mình sau này.  
(Đề thi dành cho hệ CĐ GDMN)  
Hoặc cũng ở học phần Những  
nguyên lý cơ bản 2, chúng ta có thể đưa ra  
các bài tập tình huống như:  
Việc xây dựng đề thi theo hướng  
này có khả năng phân loại rất cao và s  là  
điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá các  
năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết  
vấn đề thực tiễn, năng lực sáng tạo và tư  
duy làm việc độc lập của mỗi SV. Ngoài ra,  
với cấu trúc đề thi như vậy s  giảm được áp  
lực trong tổ chức KT-ĐG đối với cả người  
học lẫn người dạy.  
Bảng số liệu sau phản ánh kết quả  
học tập môn Những Nguyên lý cơ bản phần  
2 do tác giả phụ trách với hai phương thức  
ra đề khác nhau giữa 43 SV lớp K20  
GDTH (năm học 2015-2016) và với 47 SV  
lớp K21 GDTH A (năm học 2016-2017):  
1. Khi đánh giá phần: Tác động của  
quy  uật giá tr , chúng ta có thể ra tình  
huống: “Tại sao trong những năm gần đây  
thường xảy ra hiện tượng người nông dân  
khi  ại chặt bỏ  oại cây này để trồng  oại  
cây khác? Hiện tượng đó  à do sự tác động  
của quy  uật nào? Để khắc phục hiện tượng  
trên, nhà nước cần phải  àm gì?”  
2. Hoặc ở phần Những nhân tố ảnh  
hưởng đến  ượng giá tr  của hàng hóa, ta  
Điểm  
<4  
4-5,4  
5,5-6,9  
SL  
7,0-8,4  
SL  
>8,4  
Tổng /TB  
chung  
SL  
3
%
SL  
6
%
%
%
SL  
%
K20 GDTH  
K21GDTHA  
4,6  
2,1  
13,9 18 41,8 15 34,8  
1,6 11 23,4 21 44,6  
1
9
2,3  
43 /6,85  
47/7,25  
1
5
19,1  
(Nguồn: Phòng Khảo th  KĐC  – phần x   ý số  iệu  à của tác giả)  
Qua bảng số liệu trên có thể thấy: ở  
phương thức ra đề mới điểm trung bình  
chung học phần của lớp K21 GDTH cao  
hơn K20 là 0,4 điểm. Nhưng điều quan  
trọng hơn là phổ điểm của K21 được phân  
bố đều hơn giữa các mức. Nếu như ở K20  
phổ điểm chỉ tập trung vào điểm B và C;  
đặc biệt là điểm C chiếm đến 41,8% và rất  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
55  
ít sinh viên đạt điểm A thì ở K21 phổ điểm  
đã được dàn trải tương đối hợp lý giữa các  
mức, trong đó điểm B chiếm đến 44,5% và  
đặc biệt là có 9 Sinh viên đạt từ 8,5 trở lên.  
Điều này cho thấy khả năng phân hóa cao  
của hình thức KTĐG theo hướng này.  
chính xác, khách quan.  
4. Kết luận  
Việc đổi mới KTĐG theo định  
hướng phát triển năng lực người học chỉ là  
một khâu nằm trong chuỗi hệ thống của quá  
trình đổi mới các hoạt động dạy- học. Mỗi  
giai đoạn có vị trí, vai trò khác nhau và liên  
quan đến các bộ phận khác nhau; từ việc  
ban hành cơ chế, chính sách mang tính định  
hướng của nhà trường đến việc tổ chức  
thực thi của các bộ phận liên quan mà đặc  
biệt là vai trò của mỗi giáo viên đứng lớp.  
Vai trò của GV bộ môn được thể hiện rõ  
nét nhất trong quá trình tổ chức các hoạt  
động dạy học theo hướng phát triển năng  
lực người học và xây dựng bộ câu hỏi/ bài  
tập để đánh giá được năng lực của mỗi  
người học. Đây là một vấn đề đòi hỏi sự  
đầu tư nghiên cứu, thực hành vận dụng và  
tổng kết của mỗi cá nhân, tập thể các đơn vị  
trong nhà trường để làm rõ hơn cả về lý  
luận cũng như thực tiễn  
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng  
công tác KTĐG theo định hướng phát triển  
năng lực cần có sự đầu tư đồng bộ về cơ sở  
vật chất trong nhà trường; việc tăng cường  
dụng công nghệ thông tin trong các khâu  
của công tác KTĐG: từ khâu ra đề, quản lý  
đề, tổ chức thi, chấm điểm đến quản lý  
điểm… Nhằm đảm tính an toàn, công bằng  
khách quan trong KTĐG người học  
Tóm lại, để đổi mới KTĐG theo  
hướng năng lực người học, giảng viên phải  
thực hiện hai nhiệm vụ song song: tổ chức  
các hoạt động dạy học theo hướng tạo điều  
kiện cho sinh viên chủ động tham gia các  
hoạt động học tập để bộc lộ các năng lực cá  
nhân; đồng thời phải đưa ra bộ công cụ hữu  
hiệu để đánh giá các năng lực đó một cách  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Vũ Đình Bảy, Dạy học các môn     uận ch nh tr  theo đ nh hướng phát triển năng  ực  
trong điều kiện  ớp đông sinh viên ở trường ĐHSP Huế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học,  
ĐHSP Huế, 6/2015;  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn “Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm  
tra đánh giá môn Giáo dục ch nh tr  TCCN năm 2014”  
[3] Nguyễn Cư, Đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận năng  ực đáp ứng yêu cầu đổi  
mới giáo dục phổ thông sau năm 2015. Hội thảo khoa học trường CĐSP Kon Tum,  
năm học 2013-2014;  
[4] Hoàng Xuân Lĩnh, Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học các môn  
Lý  uận ch nh tr  theo hướng chú trọng phẩm chất, năng  ực người học. Hội thảo  
khoa học trường CĐSP Kon Tum, năm học 2013-2014;  
[5] Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ Ðảng khóa XI.  
(Ngày nhận bài: 28/02/2019; ngày phản biện: 11/03/2019; ngày nhận đăng: 02/10/2019)  
pdf 6 trang Thùy Anh 16660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực đối với các môn Lý luận chính trị ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_moi_kiem_tra_danh_gia_theo_dinh_huong_phat_trien_nang_lu.pdf