Đổi mới kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực đối với các môn Lý luận chính trị ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum
50
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
ĐỔI MỚI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỐI VỚI CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM
Hoàng Xuân Lĩnh*
Trường CĐ Cộng đồng Kon Tum
Tóm tắt
Bài viết đề cập thực trạng việc kiểm tra- đánh giá (KTĐG) kết quả học tập người học
đối với các môn uận ch nh tr tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum trong thời gian
vừa qua. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp đổi mới cách thức KTĐG theo đ nh hướng phát
triển năng ực người học.
Từ khóa: Đổi mới; kiểm tra – đánh giá; đánh giá năng ực; uận ch nh tr ;
Abstract
Innovating the method of testing and assessment in the direction of developing
learners’ capacity in teaching Political Theory at Kon Tum Community College
The article mentions the current situation and the status quo of testing and
assessing earners’ academic resu ts of teaching Po itica Theory at Kon Tum Community
College in the past time; on that basis, some solutions are proposed to innovate the testing
and assessment method in the direction of developing learners' capacity in the coming time.
Keywords: Innovation; testing and assessment; assessing capacity; political theory;
xuất một số giải pháp gắn với nhiệm vụ thể
của mỗi giảng viên trong quá trình đổi mới
công tác KTĐG tại trường CĐ Cộng đồng
KonTum.
2. Nội dung
1. Thực trạng việc KTĐG các môn
LLCT hiện nay
Cũng như các bộ môn khác trong nhà
trường, thời gian qua việc KTĐG các môn
LLCT đã có những thay đổi đáng kể như:
xây dựng được hệ thống ngân hàng đề thi
cho tất cả các học phần của bộ môn; thực
hiện, tuân thủ đúng yêu cầu chuyên môn
trong tất cả các khâu, từ ra đề, tổ chức thi,
chấm bài đến lên điểm… đảm bảo tính
khách quan trong KTĐG; tạo sự phân hóa
tương đối rõ nét về điểm số giữa các cá
nhân người học và phần nào tạo được động
lực cho người học trong quá trình học tập.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới KTĐG là yêu cầu tất yếu,
đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho
quá trình đổi mới phương pháp dạy học
theo định hướng phát triển năng lực người
học. Tuy nhiên, thời gian qua vì nhiều lý do
khác nhau, việc KTĐG các môn Lý luận
chính trị (LLCT) nói riêng và những bộ
môn khác trong nhà trường vẫn chưa theo
kịp xu thế đổi mới phương pháp dạy và học
theo định hướng năng lực hiện nay.
Làm gì để nâng cao chất lượng
KTĐG nhằm đảm bảo tính khách quan,
công bằng và tạo động lực cho người học
đối ở các môn LLCT trong điều kiện cụ thể
của nhà trường? Dưới góc độ của một
giảng viên trực tiếp đứng lớp, bài viết đề
__________________________
* Email: linhkontum@gmail.com
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
51
Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm
trên, việc KTĐG bộ môn vẫn còn một số
tồn tại, hạn chế sau:
- Thứ nhất, việc đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát triển năng
ực người học vẫn chưa được chú trọng.
Phương pháp chủ đạo được sử dụng khi
giảng dạy bộ môn vẫn là thuyết trình, đàm
thoại. Điều này đã chi phối không nhỏ đến
mục tiêu, nội dung và phương thức KTĐG
bộ môn. Bởi nguyên tắc của mối quan hệ
giữa hai quá trình này chính là phương
châm: học gì thi đó và ngược lại. Bên cạnh
đó, nhà trường vẫn chưa có lộ trình cụ thể
trong việc đưa ra các định hướng cho công
tác KTĐG theo định hướng năng lực;
Thứ nhất, hình thức thi còn nghèo
nàn, chủ yếu là thi viết với kiểu đề “đóng”;
còn thiếu các loại hình khác như: trắc
nghiệm khách quan, vấn đáp, bài tập thực
hành, vận dụng, trình bày kết quả thảo luận
nhóm... Do vậy chưa kích thích được sự
sáng tạo, không đánh giá được năng lực
người học;
Thứ hai, vì mục tiêu của đánh giá là
để xếp loại người học nên nội dung của đề
thi thuần túy là những kiến thức trong sách
vở, nhằm kiểm tra khả năng tái hiện, ghi
nhớ kiến thức; còn thiếu những đề thi có
vận dụng liên hệ thực tiễn. Do vậy đề thi
không đánh giá được năng lực sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn người
học; chưa kích thích được khả năng tự học,
tự nghiên cứu của sinh viên; thiếu khả năng
phân hóa người học, dễ dẫn đến tình trạng
“học lệch”, “học tủ”; tạo nên áp lực thi cử
cho người học;…
Thứ ba, việc tổ chức KTĐG chủ yếu
tập trung vào việc thi cuối học phần, còn
thiếu chú trọng đến việc đánh giá quá trình
của người học. Điều này thể hiện ở chỗ:
trong cơ cấu điểm học phần thì tỷ lệ điểm
thường xuyên và điểm thi kết thúc học phần
là 4/6. Bên cạnh đó, việc kiểm tra thường
xuyên trên lớp chỉ được thực hiện chủ yếu
bằng kiểm tra viết, đề “đóng”. Do vậy, việc
đánh giá người học không đảm bảo được
tính thường xuyên, còn mang yếu tố may
rủi đối với người học; không thấy được sự
tiến bộ của mỗi sinh viên trong quá trình
học tập; có sự chênh lệch giữa điểm thường
xuyên và điểm thi cuối học phần…
- Thứ hai, do t nh đặc thù của bộ
môn: là những môn học lý luận, kiến thức
có tính hàn lâm, trừu tượng và khái quát
cao. Điều đó càng được thể hiện rõ hơn khi
thực hiện chương trình môn học theo Quyết
định 52, ngày 19/8/2008 của Bộ GD-ĐT.
Theo đó những nội dung kiến thức có liên
quan đến thực tiễn Cách mạng Vệt Nam ở
chương trình trước đây đã được tách khỏi
học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Điều này làm cho nội
dung các học phần này chỉ là những kiến
thức thuần túy về lý luận, rất khó cho giảng
viên bộ môn liên hệ thực tiễn trong khi ra đề;
- Thứ ba, yếu tố chủ quan của người
dạy: đây mới là nguyên nhân chính của
những thực trạng trên. Bởi việc KTĐG theo
hướng phát triển năng lực đòi hỏi mỗi giáo
viên ngoài việc nắm chắc, sâu nội dung
kiến thức phải có khả năng sáng tạo, chọn
lọc tình huống điển hình, tình huống có vấn
đề liên quan đến nội dung kiến thức chương
trình để đưa vào đề thi… Do đó việc giáo
viên bộ môn ngại thiết kế, xây dựng đề thi
theo hướng này cũng là điều dễ hiểu.
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân
khác như: tâm lý thụ động trong học tập
của sinh viên; cơ sở vật chất kỹ thuật của
nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu đổi
mới; việc ứng dụng công nghệ thông tin
2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của những tồn tại trên
có nhiều, nhưng theo chúng tôi tập trung
vào một số nguyên nhân chủ yếu sau:
52
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
trong KTĐG còn hạn chế…. cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất
lượng KTĐG theo định hướng phát triển
năng lực người học hiện nay.
đáp; trắc nghiệm khách quan; làm bài tập
lớn…
- Có cơ chế hỗ trợ về tài chính đối
với việc đổi mới KTĐG theo hướng năng
lực; khuyến khích thực hiện đề tài nghiên
cứu khoa học các cấp về xây dựng bộ câu
hỏi, tiến tới xây dựng ngân hàng đề thi theo
hướng đánh giá năng lực của các bộ môn;
trước hết là “đặt hàng” cho một số học
phần có đủ điều kiện xây dựng bộ câu hỏi
theo hướng đánh giá năng lực người học để
tiến tới xây dựng hệ thống ngân hàng đề thi
các học phần trong toàn trường; có cơ chế
khuyến khích việc đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong KTĐG; tổ chức
các hội thảo khoa học chuyên đề; cử giảng
viên bộ môn đi tập huấn; đưa việc đổi mới
KTĐG thành một tiêu chí thi đua bắt
buộc…
3. Giải pháp
Trước hết cần nhận thức rằng, việc
đổi mới KTĐG theo hướng năng lực chỉ là
một khâu nằm trong chuỗi hệ thống của quá
trình đổi mới các hoạt động dạy- học.
Trong đó mỗi giai đoạn có vị trí, vai trò
khác nhau và liên quan đến các bộ phận
khác nhau; từ việc ban hành cơ chế, chính
sách mang tính định hướng của nhà trường
đến việc tổ chức thực thi của các bộ phận
liên quan mà đặc biệt là mỗi giáo viên đứng
lớp. Dưới góc độ của một giáo viên trực
tiếp giảng dạy, chúng tôi đề xuất một số
giải pháp sau:
3.1. Về phía nhà trường
Nhà trường, cụ thể là phòng Khảo
thí & kiểm định chất lượng cần tham mưu
để Hiệu trưởng ban hành các văn bản có
tính định hướng và ràng buộc trong công
tác KTĐG đối với các Tổ chuyên môn theo
các hướng:
- Đối với các bài kiểm tra thường
xuyên: cần tăng trọng số điểm quá trình này
lên tỷ lệ 5/5 thay cho tỷ lệ 4/6 như hiện
nay. Trong đó cần hạn chế bớt điểm kiểm
tra cá nhân và tăng dần tỷ trọng điểm hoạt
động nhóm. Có thể phân bố điểm thường
xuyên theo cơ cấu: điểm chuyên cần 10%;
tham gia các hoạt động nhóm tại lớp 20%
và kiểm tra cá nhân 20%; Song song với
quá trình này cần khuyến khích giảng viên
cho sinh viên làm bài tập thực hành vận
dụng, tiểu luận chuyên đề, viết thu hoạch…
thay cho cột điểm kiểm tra tại lớp.
3.2. Về phía giảng viên
Phải nhận thức rằng giảng viên là
nhân tố quyết định sự thành công của quá
trình đổi mới KTĐG theo định hướng phát
triển năng lực người học. Do vậy xuất phát
từ kinh nghiệm thực tiễn bản thân, chúng
tôi đề xuất một số biện pháp gắn với những
công việc cụ thể của mỗi giảng viên sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới
phương pháp giảng dạy theo hướng tăng
cường tính tự chủ, tự hoạt động của người
học làm cơ sở cho việc đánh giá điểm quá
trình. Để làm được, mỗi giảng viên cần:
- Tăng cường các hoạt động nhóm:
tiến hành chia nhóm ngay trong buổi học
đầu tiên, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng và
địa chỉ email riêng. Mọi công tác liên lạc,
thực hiện nhiệm vụ học tập của nhóm đều
được gửi qua email. Các nhóm s được giữ
ổn định trong suốt quá trình học.
- Đối với bài kiểm tra cuối học phần:
đa dạng hóa các hình thức KTĐG theo
hướng giảm dần những bài kiểm tra viết
“đề đóng”, thay vào đó là dạng “đề mở”, có
liên hệ vận dụng thực tiễn; tổ chức thi vấn
Giao nhiệm vụ cụ thể cho các
nhóm, như: các câu hỏi thảo luận; chuẩn bị
nội dung bài mới; các bài tập điều tra thực
tế… Việc đánh giá các nhóm s được tiến
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
53
hành dựa vào mức độ hoàn thành công việc
được giao; song song với đó cần có cơ chế
thưởng, phạt (bằng điểm) cho các nhóm
hoặc các cá nhân tích cực.
bài tập
Thứ hai, xây dựng bộ câu hỏi/ bài
tập theo hướng đánh giá năng lực người
học:
- Xây dựng hệ thống các bài tập
- Trước hết cần xác định đúng về
vận dụng, điều tra thực tế, hệ thống các câu
hỏi thảo luận, tiểu luận chuyên đề …; Nội
dung các đề tài phải gắn với nội dung lý
thuyết trong chương trình, đồng thời phải
liên hệ với thực tiễn, phải có tính chất mới
mẻ, cần hướng vào những vấn đề chưa
được giải quyết.
mục đích (nội dung) đánh giá. Mục đích
đánh giá không phải là khả năng tái hiện
kiến thức mà là khả năng vận dụng, sáng
tạo tri thức trong các tình huống cụ thể.
Hay nói cách khác, là xem mức độ đạt được
của người học trên các mặt kiến thức, kỹ
năng, thái độ trong một bối cảnh nhất định.
Tức là đánh giá năng lực người học. Do đó,
yêu cầu của loại câu hỏi /bài tập này là:
(1) Phải có tính liên hệ, vận dụng:
Quá trình thực hiện nhiệm vụ nên
tiến hành theo các bước sau:
+ Lựa chọn tên, chủ đề: ngoài
những đề tài mà giảng viên đưa ra, chúng ta
có thể khuyến khích và tạo điều kiện cho
các nhóm suy nghĩ và lựa chọn đề tài cho
mình, miễn sao đề tài đó đáp ứng được yêu
cầu của môn học, nhằm tạo sự hứng thú,
đam mê cho sinh viên khi thực hiện.
nội dung đề thi luôn có tình huống, sự kiện
cụ thể gắn với nội dung bài học, qua đó
buộc người học phải vận dụng kiến thức lý
luận để giải quyết các tình huống cụ thể mà
thực tiễn đặt ra. Tức là thông qua một sự
kiện, một vấn đề thực tiễn cụ thể, hoặc một
bài tập tình huống... yêu cầu SV vận dụng
kiến thức bài học giải quyết vấn đề, sự
kiện, tình huống đó.
+ Các nhóm tiến hành phân công
nhiệm vụ cho các thành viên. Việc này s
do bản thân nhóm tự quyết và giảng viên
không can thiệp mà chỉ yêu cầu nộp kèm
theo sản phẩm là bản phân công công việc
của nhóm.
(2) Vì có tính vận dụng nên các câu
hỏi/ bài tập tình huống luôn phải có xu
hướng “mở”, cho phép người học tự quyết
định nội dung và cấu trúc câu trả lời dựa
trên chủ đề gắn với thực tiễn đã cho.
+ Trình bày kết quả làm việc của
nhóm mình: tổ chức cho các nhóm tiến
hành báo cáo trước lớp. Nếu có đủ thời gian
thì cho lần lượt các nhóm tiến hành thuyết
trình. Giảng viên cũng cần đưa ra tiêu chí,
hướng dẫn chấm điểm và tổ chức cho sinh
viên tự đánh giá và đánh giá chéo.
VD: Ở học phần Những nguyên lý
cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (phần
I), khi cần đánh giá năng lực nhận thức của
người học về nội dung “quy uật chuyển
hóa từ những sự thay đổi về ượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược ại”
(quy luật lượng - chất). Thay vì đưa ra các
câu hỏi mang tính kiểm tra mức độ thuộc
bài của SV theo truyền thống là: “Trình bày
nội dung quy uật chuyển hóa từ những sự
thay đổi về ượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược ại; nghĩa phương pháp
uận của quy uật?”. Chúng ta có thể ra
một đề dưới dạng tình huống như sau:
Cách tổ chức này s tạo được hứng
thú cho sinh viên, kích thích hứng thú học
tập và tăng khả năng diễn đạt, tranh luận
trước đám đông cũng như khả năng nghe và
ghi chép. Giảng viên không còn là người
duy nhất đánh giá kết quả mà vai trò chính
là hướng dẫn và góp ý cho sinh viên. Điều
cần lưu ý là giảng viên cần đưa ra tiêu chí
đánh giá cho sinh viên trước khi thực hiện
54
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
“Theo quy đ nh của uật Giáo dục,
có thể sử dụng câu hỏi: “Tại sao trong ĩnh
vực xây dựng, so với anh kỹ sư người phụ
hồ có ao động vất vả, năng nhọc hơn
nhưng thu nhập ại thấp hơn? Qua tình
huống trên chúng ta có thể rút được bài
học gì cho bản thân?”...
để tạo thuận ợi cho trẻ vào ớp Một,
chương trình Mầm non chỉ được phép dạy
cho trẻ àm quen với chữ cái và các con số
từ 1 đến 10; quá trình này phải được thực
hiện thông qua các hoạt động vui chơi nhẹ
nhàng. Nhưng trên thực tế, thời gian qua có
một số trường mầm non ngoài công ập đã
thực hiện giảng dạy chương trình ớp 1
theo kiểu các “ ò” uyện thi để trẻ biết đọc,
biết viết trước khi vào ớp Một”
Những đề thi trên có đầy đủ hai yếu
tố, là có bối cảnh (tình huống) và có tính
chất “mở” như đã đề cập. Với cấu trúc như
vậy, buộc người học phải nhận diện được
tình huống đưa ra nằm trong nội dung kiến
thức nào của chương trình và vận dụng nó
để giải quyết một vấn đề thực tiễn đã cho.
Quan trọng hơn, đề thi đã tạo ra cơ hội để
người học thể hiện năng lực thực tiễn gắn
với nội dung công việc của mình đang theo
học.
1. Theo anh (chị), việc làm trên đã
vi phạm quan điểm nào của phép biện
chứng duy vật? Giải thích?
2. Là một giáo viên Mầm non trong
tương lai, anh (chị) hãy cho biết ý nghĩa
phương pháp luận từ quy luật trên vào công
tác giáo dục trẻ mầm non của mình sau này.
(Đề thi dành cho hệ CĐ GDMN)
Hoặc cũng ở học phần Những
nguyên lý cơ bản 2, chúng ta có thể đưa ra
các bài tập tình huống như:
Việc xây dựng đề thi theo hướng
này có khả năng phân loại rất cao và s là
điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá các
năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết
vấn đề thực tiễn, năng lực sáng tạo và tư
duy làm việc độc lập của mỗi SV. Ngoài ra,
với cấu trúc đề thi như vậy s giảm được áp
lực trong tổ chức KT-ĐG đối với cả người
học lẫn người dạy.
Bảng số liệu sau phản ánh kết quả
học tập môn Những Nguyên lý cơ bản phần
2 do tác giả phụ trách với hai phương thức
ra đề khác nhau giữa 43 SV lớp K20
GDTH (năm học 2015-2016) và với 47 SV
lớp K21 GDTH A (năm học 2016-2017):
1. Khi đánh giá phần: Tác động của
quy uật giá tr , chúng ta có thể ra tình
huống: “Tại sao trong những năm gần đây
thường xảy ra hiện tượng người nông dân
khi ại chặt bỏ oại cây này để trồng oại
cây khác? Hiện tượng đó à do sự tác động
của quy uật nào? Để khắc phục hiện tượng
trên, nhà nước cần phải àm gì?”
2. Hoặc ở phần Những nhân tố ảnh
hưởng đến ượng giá tr của hàng hóa, ta
Điểm
<4
4-5,4
5,5-6,9
SL
7,0-8,4
SL
>8,4
Tổng /TB
chung
SL
3
%
SL
6
%
%
%
SL
%
K20 GDTH
K21GDTHA
4,6
2,1
13,9 18 41,8 15 34,8
1,6 11 23,4 21 44,6
1
9
2,3
43 /6,85
47/7,25
1
5
19,1
(Nguồn: Phòng Khảo th KĐC – phần x ý số iệu à của tác giả)
Qua bảng số liệu trên có thể thấy: ở
phương thức ra đề mới điểm trung bình
chung học phần của lớp K21 GDTH cao
hơn K20 là 0,4 điểm. Nhưng điều quan
trọng hơn là phổ điểm của K21 được phân
bố đều hơn giữa các mức. Nếu như ở K20
phổ điểm chỉ tập trung vào điểm B và C;
đặc biệt là điểm C chiếm đến 41,8% và rất
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
55
ít sinh viên đạt điểm A thì ở K21 phổ điểm
đã được dàn trải tương đối hợp lý giữa các
mức, trong đó điểm B chiếm đến 44,5% và
đặc biệt là có 9 Sinh viên đạt từ 8,5 trở lên.
Điều này cho thấy khả năng phân hóa cao
của hình thức KTĐG theo hướng này.
chính xác, khách quan.
4. Kết luận
Việc đổi mới KTĐG theo định
hướng phát triển năng lực người học chỉ là
một khâu nằm trong chuỗi hệ thống của quá
trình đổi mới các hoạt động dạy- học. Mỗi
giai đoạn có vị trí, vai trò khác nhau và liên
quan đến các bộ phận khác nhau; từ việc
ban hành cơ chế, chính sách mang tính định
hướng của nhà trường đến việc tổ chức
thực thi của các bộ phận liên quan mà đặc
biệt là vai trò của mỗi giáo viên đứng lớp.
Vai trò của GV bộ môn được thể hiện rõ
nét nhất trong quá trình tổ chức các hoạt
động dạy học theo hướng phát triển năng
lực người học và xây dựng bộ câu hỏi/ bài
tập để đánh giá được năng lực của mỗi
người học. Đây là một vấn đề đòi hỏi sự
đầu tư nghiên cứu, thực hành vận dụng và
tổng kết của mỗi cá nhân, tập thể các đơn vị
trong nhà trường để làm rõ hơn cả về lý
luận cũng như thực tiễn
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng
công tác KTĐG theo định hướng phát triển
năng lực cần có sự đầu tư đồng bộ về cơ sở
vật chất trong nhà trường; việc tăng cường
dụng công nghệ thông tin trong các khâu
của công tác KTĐG: từ khâu ra đề, quản lý
đề, tổ chức thi, chấm điểm đến quản lý
điểm… Nhằm đảm tính an toàn, công bằng
khách quan trong KTĐG người học
Tóm lại, để đổi mới KTĐG theo
hướng năng lực người học, giảng viên phải
thực hiện hai nhiệm vụ song song: tổ chức
các hoạt động dạy học theo hướng tạo điều
kiện cho sinh viên chủ động tham gia các
hoạt động học tập để bộc lộ các năng lực cá
nhân; đồng thời phải đưa ra bộ công cụ hữu
hiệu để đánh giá các năng lực đó một cách
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Vũ Đình Bảy, Dạy học các môn uận ch nh tr theo đ nh hướng phát triển năng ực
trong điều kiện ớp đông sinh viên ở trường ĐHSP Huế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học,
ĐHSP Huế, 6/2015;
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn “Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm
tra đánh giá môn Giáo dục ch nh tr TCCN năm 2014”
[3] Nguyễn Cư, Đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận năng ực đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục phổ thông sau năm 2015. Hội thảo khoa học trường CĐSP Kon Tum,
năm học 2013-2014;
[4] Hoàng Xuân Lĩnh, Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học các môn
Lý uận ch nh tr theo hướng chú trọng phẩm chất, năng ực người học. Hội thảo
khoa học trường CĐSP Kon Tum, năm học 2013-2014;
[5] Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ Ðảng khóa XI.
(Ngày nhận bài: 28/02/2019; ngày phản biện: 11/03/2019; ngày nhận đăng: 02/10/2019)
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực đối với các môn Lý luận chính trị ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doi_moi_kiem_tra_danh_gia_theo_dinh_huong_phat_trien_nang_lu.pdf

