Đề cương Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam

Chương 1  
SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH  
CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG  
I. Hoàn cảnh lịch sử ra đời Đảng cộng sản Việt Nam.  
1. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX  
1.1. Sự chuyển biến của Chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó.  
- Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai  
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).  
Nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó  
chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc  
gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản  
phẩm hàng hoá, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư  
bản của các nước đế quốc.  
-> Mâu thuẫn thời đại có sự thay đổi:  
+ >< giữa giai cấp TS và VS  
+ >< giữa CNĐQ với các dân tộc thuộc địa  
+>< giữa CNĐQ với CNĐQ  
=> Phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.  
1.2. Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin.  
- Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát  
triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách  
là vũ khí tư tưỏng cũa giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống CNTB ->  
CN Mác ra đời, về sau Lênin phát triển trở thành CN Mác – Lênin.  
- Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ, muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu trnh  
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình giai cấp công nhân phải lập ra Đảng cộng sản  
-> nay là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân  
chống áp bức, bóc lột.  
- 1 -  
-> Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật của chính Đảng của giai cấp  
công nhân: tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân thực hiện mục  
đích giành chính quyền và xây dựng xã hội mới.  
+ Phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lược sách  
lược của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân  
+ Đảng phải đại biểu quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động.  
- Từ khi CN Mác – Lênin ra đời và truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu  
nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng  
vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức Đảng ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã  
vận dụng sáng tạo và phát triển CN Mác – lênin vào thực tiễn cách mạng VN.  
- CN Mác – Lênin là nền tảng tư tưỏng của Đảng cộng sản Việt Nam.  
1.3. Tác động của cách mạng tháng Mười Nga và của Quốc tế cộng sản.  
- Năm 1917: Cách mạng tháng mười Nga thành công, đánh dấu nước chuyển  
trong xã hội loài người: thời kỳ quá độ từ Chủ nghỉa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội  
trên phạm vi toàn thế giới.  
+ Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga, CN Mác – Lênin từ lý luận  
trở thành hiện thực, đồng thời mở ra thời đại mới “thời đại cách mạng chống Đế  
quốc, thời đại giải phóng dân tộc”.  
+ Đối với các nước thuộc địa, cách mạng tháng Mười Nga đã nêu tấm gương  
trong việc giải phóng dân tộc bị áp bức.  
“Cách mạng tháng Mười Nga như tiếng sét đã đánh thức nhân dân  
Châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay…” Nguyễn Ái Quốc  
- 3.1919: Quốc tế cộng sản (Quôc tế III) được thành lập -> tiến hành tuyên  
truyền tư tưởng cộng sản, đồng thời đề ra đường lối, phương hướng và trực tiếp  
chỉ đạo, giúp đỡ các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam, trong  
cuộc đấu tranh chống ách nô dịch của chủ nghĩa Tư bản phương Tây. Sự ra đời  
của Quốc tế III cũng khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong việc  
quyết định sự phát triển của xã hội.  
2. Hoàn cảnh trong nước.  
- 2 -  
2.1. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp.  
a. Chính sách cai trị của thực dân Pháp.  
Năm 1858, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược  
Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang, thiết lập bộ máy  
thống trị trên toàn bộ đất nước ta. Thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa với  
mục đích sau:  
- Vơ vét tài nguyên thiên nhiên;  
- Bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt;  
- Cho vay nặng lãi;  
- Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ế thừa của chính quốc.  
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam và cả Đông  
Dương là:  
- Bóc lột nặng nề về kinh tế;  
- Chuyên chế về chính trị  
- Triệt để thực hiện chính sách nô dịch về văn hoá.  
Nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho chủ nghĩa đế quốc Pháp chứ không phải  
đem đến cho nhân dân ta cái mà chúng gọi là “sự khai hoá văn minh”  
Hồ Chí Minh viết: “Khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có  
thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất” {Toàn tập, t.2,  
tr.56}.  
* Sự xâm lược của thực dân Pháp và đặc biệt là chính sách khai thác thuộc  
địa của chúng đã đem lại những biến đổi lớn, hết sức sâu sắc về kinh tế, xã hội và  
giai cấp đối với nước ta.  
* Về kinh tế:  
- Thông qua 2 cuộc khai thác thuộc địa mà trọng tâm là khai thác mỏ và đồn  
điền với nhiều chính sách bóc lột khác: vay nặng lãi, chính sách độc quyền, dùng  
hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng nhập từ nước khác…-> Nền kinh tế của ta  
bị kìm hãm trong vòng lạc hậu, mất hẳn tính độc lập; lệ thuộc vào thực dân Pháp  
- 3 -  
và mang tính chất tư bản thực dân – phong kiến; cơ cấu kinh tế què quặt,mất cân  
đối, nền kinh tế chuyển biến quá chậm.  
* Về chính trị:  
- Mọi quyền hành thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, biến  
vua quan Nam thành bù nhìn tay sai  
- Bóp nghẹt tự do dân chủ, thẳng tay đàn áp khủng bố, dìm các cucộ đấu  
tranh của ta trong biển máu  
- Thi hành chính sách chia để trị: chia nước ta làm 3 kỳ, mỗi kỳ một chế độ  
cai trị riêng, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chia rẽ dân tộc Việt Nam với các dân tộc  
trên bán đảo Đông Dương.  
-> Nhân dân ta không có chút tự do dân chủ nào, đời sống chính trị của nhân  
dân hết sức ngột ngạt.  
* Về văn hoá: Triệt để thi hành chính sách văn hoá nô dịch gây tâm lý tự ti,  
vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục, ngăn  
cấm các hoạt động yêu nước của nhân dân ta, bưng bít, ngăn chặn ảnh hưởng của  
nền văn hoá tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam.  
-> Tuy nhiên chúng không thể hoàn toàn ngăn chặn được trào lưu tư tưởng  
tiến bộ và những tri thức khoa học – kỹ thuật mới tràn Việt Nam.  
b. Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.  
- Xã hội Việt Nam: Từ một xã hội phong kiến độc lập biến thành xã hội  
thuộc địa nửa phong kiến hay nói cách khác vừa mang tính chất thuộc địa, vừa  
mang tính chất phong kiến.  
- Mọi mâu thuẫn của xã hội Việt Nam đều do tính chất trên chi phối và có hai  
mâu thuẫn cơ bản:  
+ Giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp  
+ Giữa nhân dân Việt Nam (mà chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ  
phong kiến.  
Trong đó, mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn cơ bản, ngày càng mở rộng và  
gay gắt thêm. Bởi vì, hễ sự áp bức bóc lột và sự chà đạp quyền dân tộc ngày càng  
- 4 -  
tăng thì sự phản kháng và đấu tranh dân tộc sẽ ngày càng mạnh, càng quyết liệt  
hơn.  
- Vị trí, thái độ các giai cấp trong xã hội Việt Nam cũng thay đổi sâu sắc.  
* Giai cấp địa chủ:  
- Là giai cấp thống trị lâu đời, có vị trí quan trọng trong xã hội phong kiến  
Việt Nam. Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp thì giai cấp này  
có sự phân hoá:  
+ Một bộ phận cam tâm bán nước, làm tay sai cho Pháp để duy trì quyền lợi  
của họ;  
+ Một bộ phận nêu cao truyền thống và tinh thần dân tộc, khởi xướng lãnh  
đạo các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp để giành độc lập và bảo vệ chế  
độ phong kiến (tiêu biểu là phong trào Cần Vương);  
+ Một số trở thành người lãnh đạo phong trào nông dân, phong trào quần  
chúng chống thực dân Pháp và chống lại triều đình phong kiến bán nước;  
+ Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối TBCN.  
* Giai cấp nông dân:  
- Chiếm 90% dân số cả nước. Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp  
bức và bóc lột nặng nề. Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ, bán đắt, tô cao, cho  
vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng  
hoá, không tìm ra lối thoát.  
- Họ mâu thuẫn sâu sắc với cả đế quốc và phong kiến  
- Trong cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, giai cấp nông dân là lực lượng  
cách mạng đông đảo nhưng họ không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng được.  
* Giai cấp tư sản:  
- Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của  
thực dân Pháp, rõ rệt nhất là từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong  
quá trình phát triển, giai cấp tư sản phân hoá thành hai bộ phận:  
+ Giai cấp tư sản mại bản: Gồm những tư sản lớp trên (tư sản lớn), hợp tác  
kinh doanh với đế quốc, phần đông có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho  
- 5 -  
phát canh thu tô. Đây là tầng lớp phản động (có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn  
liền với đế quốc thực dân), do đó là đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam.  
+ Giai cấp tư sản dân tộc: Là bộ phận đông đảo nhất trong giai cấp tư sản,  
bao gồm tư sản loại vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh trong các ngành thương  
nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.  
Giai cấp này có tính chất hai mặt:  
Thứ nhất, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến (khuynh hướng dân tộc  
dân chủ);  
Thứ hai, bạc nhược về chính trị (không nêu mục tiêu giành độc lập dân tộc),  
không có ý chí và năng lực chiền đấu, hay đí đến đường lối thoả hiệp (đây chính là  
lập trường tư tưởng cải lương, là bản chất chính trị của giai cấp tư sản dân tộc).  
* Giai cấp tiểu tư sản:  
- Là một giai cấp mới xuất hiện trong quá trình khai thác thuộc địa của thực  
dân Pháp, bao gồm: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, học sinh, sinh  
viên. Giai cấp này: Hay bị dao động trước sự đàn áp của kẻ thù nhưng rất hăng hái  
cách mạng (do có tinh thần yêu nước nồng nàn, lai bị đế quốc và phong kiến áp  
bức bóc lột), thiết tha với độc lập tự do và dân chủ; nhạy cảm, thức thời.  
- Đây là lực lượng cách mạng quan trọng và đáng tin cậy của giai cấp công  
nhân.  
* Giai cấp công nhân:  
- Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp  
và nắm trong những mạch máu quan trọng do chúng nắm giữ.  
- Thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ nhất, giai cấp công nhân đã hình thành,  
là một giai cấp mang tư cách xã hội.  
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhất là từ những năm 1920 –1929, giai  
cấp công nhân tăng từ 10 vạn (1914) lên 22 vạn (1929). Nếu tính chung cả những  
người làm thuê trong các hãng kinh doanh vừa và nhỏ thì số người vô sản và nửa  
vô sản sống ở thành thị và nông thôn tăng đã lên tới nửa triệu người.  
- 6 -  
- Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới do điều kiện  
kinh tế xã hội quy định (đặc điểm chính trị - xã hội: giai cấp tiên tiến nhất, có tính  
cách mạng triệt để nhất, có kỷ luật chặt chẽ nhất, có bản chất quốc tế), do điều  
kiện lịch sử cụ thể, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm nổi bật  
riêng biệt:  
+ Phải chịu ba tầng áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư bản bản xứ);  
+ Giai cấp công nhân Việt Nam do nguồn gốc xuất thân luôn gắn bó máu thịt  
với giai cấp nông dân, với tấng lớp trí thức và nhân dân lao động, đó là cơ sở để  
hình thành nên khối liên minh vững chắc.  
+ Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, do đó không chịu ảnh hưởng của chủ  
nghĩa công đoàn, chủ nghĩa cải lương  
+ Kế thừa được truyền thống yêu nước của dân tộc; giai cấp công nhân Việt  
Nam có 2 mối thù sâu sắc với đế quốc, thực dân (mối thù dân tộc do bị áp bức và  
mối thù giai cấp do bị bóc lột nặng nề. Vì thế đây là giai cấp có tinh thần cách  
mạng triệt để nhất), đã sớm tổ chức ra chính Đảng của mình.  
+ Ra đời vào lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh  
mẽ, được ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng Trung Quốc,  
tác động tích cực của Quốc tế Cộng sản nên giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm  
tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin, và nhận được sự giúp đỡ của giai cấp công nhân  
quốc tế.  
*** Tóm lại:  
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt  
Nam trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.  
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra 2 yêu cầu:  
+ Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc  
+ Hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ  
yếu là ruộng đất cho nông dân.  
-> Trong đó chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.  
- 7 -  
2.2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối  
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.  
a. Khuynh hướng phong kiến.  
Dân tộc Việt Nam vốn có một truyền thống yêu nước nồng nàn và một tinh  
thần đấu tranh anh hùng, bất khuất. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân  
dân ta đã anh dũng đứng lên đấu tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Các phong  
trào yêu nước chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến đã diễn ra trong suốt  
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, có thể kể đến:  
- Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Kỳ (1862 – 1872)  
- Phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1885 – 1895)  
Tóm lại: Các phong trào chống Pháp theo tư tưởng phong kiến cuối cùng đều  
thất bại và bị thực dân pháp đàn áp (do thiếu đường lối cách mạng đúng đắn, khoa  
học, chịu ảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời, không tập hợp được  
đông đảo quần chúng nhân dân dưới một ngọn cờ thống nhất, thiếu người lãnh đạo  
đủ sáng suốt...), nhưng đã khẳng định được tinh thần yêu nước quật cường của  
nhân dân Việt Nam: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”  
(Nguyễn Trung Trực).  
b. Khuynh hướng tư sản.  
Đầu thế kỷ XX, các phong trào dân chủ tư sản ở Châu Âu đã tạo nên cao  
tràophương Đông thức tỉnh. Phong trào dân tộc ở Việt Nam cũng hoà nhập vào  
cao trào phương Đông thức tỉnh trên cơ sở một xã hội với kết cấu giai cấp đã  
chuyển biến theo một trào lưu tư tưởng mới, mang nội dung và hình thức tổ chức  
chính trị mới. Tiêu biểu là các trào lưu dân chủ tư sản:  
- Tư tưởng cải lương của Trương Khải Siêu, Khang Hữu Vi...ở Trung Quốc  
- Tư tưởng cách mạng của giai cấp tư sản Pháp với các đại biểu: Rútxô,  
Môngtexkiơ, Vônte...  
- Nước Nhật duy tân và tự cường cũng có sức hút mạnh đối với các sỹ phu  
yêu nước và tiến bộ của Việt Nam.  
- 8 -  
Phong trào dân tộc nhờ đó lại sôi động với nhiều tổ chức chính trị theo  
khuynh hướng dân chủ tư sản.  
*Xu hướng cải lương.  
Khái niệm  
* Phong trào Duy tân (1906 – 1908) do các sỹ phu yêu nước như Phan Chu  
Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng.  
* Phong trào Đông kinh nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn  
Quyền, Dương Bá Trạc lãnh đạo.  
Ngoài ra còn có các phong trào đấu tranh của tiểu tư sản, tư sản thành thị  
* Xu hướng cách mạng quốc gia (bạo động).  
* Phong trào Đông Du (1906 –1908) và Việt Nam quang phục hội (1912 –  
1916) do Phan Bội Châu lãnh đạo.  
* Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 1930): Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn  
Tài, Nguyễn Khắc Nhu.Về tư tưởng: đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của  
Tôn Trung Sơn. Về chính trị: chủ trương đánh đuổi đế quốc, xoá bỏ chế độ vua  
quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa có đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng; Về  
tổ chức: không có một hệ thống tổ chức thống nhất.  
Khởi nghĩa Yên Bái (2.1930) nổ ra khi chưa có thời cơ nên nhanh chóng thất  
bại. Các chiến sỹ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình.  
-> Các tổ chức trên đây tuy có tên gọi và cách tổ chức khác nhau song nhìn  
chung đều không có đường lối chính trị rõ ràng, hệ thống tổ chức không chặt chẽ,  
hoạt động rời rạc, lẻ tẻ, không có khả năng tập hợp quần chúng nên cuối cùng đều  
đi đến thất bại.  
-> Vào đầu những năm XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã  
diễn ra sâu sắc, trầm trọng. Tình hình cách mạng Việt Nam “đen tối không có  
đường ra”. Sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tính chất thời đại thay đổi.  
Việc tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏnh nhất của dân tộc  
ta lúc bấy giờ.  
2.3. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản  
- 9 -  
a. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức  
cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.  
* Quá trình tìm tòi con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc  
Nguyễn Ái Quốc sinh năm 1890, quê ở Nam Đàn, Nghệ An, là một thanh  
niên sớm có lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày 5.6.1911  
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước với mục đích tìm một giải pháp mới  
cho quê hương, tìm cách giải phóng đồng bào.  
Người đã trải qua những bước ngoặt lớn như sau:  
* Nhận ra hạn chế của những người yêu nước đương thời  
* Tìm ra hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là không giải phóng được  
công nông và quần chúng lao động.  
* Đã phân biệt rõ bạn và thù:  
*Các dân tộc bị áp bức phải tự đấu tranh giành lấy độc lập tự do, không nên  
trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài.  
* Đi theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga, của Quốc tế cộng sản.  
*. Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và chuẩn bị thành lập Đảng  
Quá trình truyền bá CN Mác – Lênin của Nguyễn Ai Quốc diễn ra liên tục,  
dựa vào phương pháp truyền bá có thể chia quá trình truyền bá CN Mác – Lênin  
của Nguyễn Ai Quốc ra làm hai kỳ:  
Thời kỳ:1920 – 1923, Nguyễn Ai Quốc sống ở Pháp, phương pháp truyền  
bá chủ yếu bằng báo chí và tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.  
- Tháng 4.1921, ở Pháp, trong bài báo Đông Dương, Người cho rằng: “Chế  
độ cộng sản có thể được áp dụng ở Châu Á nói chung và ở Đông Dương nói  
riêng” và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể góp phần  
vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.  
- Tháng 7.1921, cùng với các chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước thuộc đại  
Pháp (Algeria, Marocco, Tuynidi...) thành lập Hội liên hiệp thuộc địa (tố cáo tội ác  
của chủ nghĩa đế quốc, đoàn kết các lực lượng cách mạng chống Chủ nghĩa đế  
- 10 -  
quốc, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin đến các dân tộc thuộc địa), ra tuyên  
ngôn nêu bật tư tưởng tự lực tự cường.  
- Ra báo Người cùng khổ, viết báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, tố cáo tội  
ác của thực dân Pháp, thức tỉnh đồng bào.  
- Cũng trong năm 1921, Người viết tác phẩm: Bản án chế độ thực dân Pháp,  
nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua  
hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi. Muốn giết con vật ấy “Người  
ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn  
lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái  
vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”. {Toàn tập, t.2, tr.120}.  
Thời kỳ 2: Từ năm 1923 – 1930, Người sống ở Liên Xô, Trung Quốc,  
Thái Lan. Phương pháp truyền bá lúc này có hệ thống hơn, CN Mác – Lênin  
được Người vận dụng vào việc đề ra đường lối cho cách mạng Việt Nam.  
Ngoài báo chí Người còn tổ chức các lớp học để đào tạo đội ngũ cán bộ  
chuyên làm nhiệm vụ tuyên truyền giảng dạy.  
- Tháng 6.1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô, học tập, nghiên cứu Chủ  
nghĩa Mác – lênin. Năm 1925, dự đại hội Quốc tế V cộng sản, Người đã thẳng  
thắn phê bình thiếu sót của các Đảng cộng sản Tây Âu và Quốc tế cộng sản về  
việc coi nhẹ vấn đề thuộc địa, chưa biết kết hợp phong trào cách mạng ở chính  
quốc với cách mạng ở các nước thuộc địa để thành lập một mặt trận đấu tranh  
chung.  
- Tháng 7.1924, Người tham dự Quốc tế cộng sản lần thứ V, trình bày lập  
trường quan điểm của mình về vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, về mối  
quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng  
ở các nước thuộc địa.  
- Tháng 11.1924, Người đến Trung Quốc làm nhiệm vụ Đặc phái viên của  
Quốc tế cộng sản, trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.  
- 11 -  
* Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6.1925). Đây là tổ chức  
cách mạng có tính chất quá độ vừa tầm phù hợp với phong trào cách mạng Việt  
Nam lúc bấy giờ.  
- Cơ quan tuyên truyền của hội là tuần báo Thanh niên. Từ năm 1925 – 1927,  
người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, đào tạo đội ngũ cán bộ  
cho cách mạng Việt Nam. Sau các khoá học một số được chọn đi học ở trường Đại  
học phương Đông của Quốc tế Cộng sản, một số được cử đi học ở trường quân sự  
Hoàng Phố, còn phần lớn trở về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và  
đường lối cứu nước của Nguyễn Ai quốc vào các tầng lớp nhân dân.  
Tất cả các bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu của Người  
được tập hợp lại, in thành sách lấy tên “Đường kách mệnh”, xuất bản 1927.  
- Năm 1928, Hội VNCMTN thực hiện chủ trương “vô sản hoá”, đưa hội viên  
của mình vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền trong nước, cùng sống và làm việc  
với công nhân, rèn luyện cho họ lập trường của giai cấp công nhân và kết hợp chủ  
nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.  
“Nó (Hội VNCMTN) là quả trứng, mà từ đó, nở ra con chim non cộng sản  
(Đảng cộng sản)”. {Báo cáo gửi quốc tế cộng sản, toàn tập, t.3, tr.13}.  
Nội dung cơ bản của tác phẩm:  
- Một là, Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa  
số dân chúng.  
- Hai là, Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam  
Là CNXH, trải qua hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng  
XHCN. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.  
- Ba là, về lực lượng cách mạng.  
Công nông là gốc của cách mệnh; học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là  
bầu bạn của công nông  
- Bốn là, về phương pháp cách mạng.  
Quan điểm của cách mạng bạo lực: khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền  
(đề ra từ 1924) và giác ngộ quần chúng.  
- 12 -  
- Năm là, đoàn kết quốc tế.  
“Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách  
mạng trên thế giới là đồng chí của Việt Nam” {toàn tập, t.1, tr.17}  
“Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại!”  
Nguyễn Ái Quốc chú ý hai điều:  
+ Muốn người ta giúp cho mình thì trước hết phải biết tự giúp mình.  
+ Cách mạng Việt Nam có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô  
sản ở chính quốc.  
-Sáu là, Cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng.  
“Đảng có vững thì cách mạng mới thành công. Đảng không có chủ nghĩa  
như người không có trí khôn... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng  
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”  
{Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, HCM toàn tập, t.2, tr.268}  
Trên đây là tư tưởng cốt lõi trong con đường cứu nước của Nguyễn Ai Quốc  
* Ý nghĩa tác phẩm: Đường kách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng  
chính trị cho việc thành lập chính Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam  
b. Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng ô sản  
+ Thời kỳ đấu tranh tự giác: 1919 – 1925.  
- Từ đầu thế kỷ XX trở đi, song song với phong trào yêu nước và dân chủ  
theo khuynh hướng phong kiến và tư sản, phong trào đấu tranh của giai cấp công  
nhân cũng diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức khác nhau: ban đầu diễn ra lẻ tẻ,  
với hình thức sơ khai như bỏ trốn, đập phá máy móc, công xưởng… rồi tiến dần  
lên những hình thức đấu tranh đặc thù của giai cấp mình như đình công, lãn công  
(không có tổ chức, quy mô nhỏ hơn).  
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp công nhân tăng nhanh về số  
lượng, sống tập trung ở những khu công nghiệp lớn, do đó, những cuộc đấu tranh  
liên tiếp nổ ra ở khắp nơi như: Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Định, Hà Nội... Đặc biệt là  
cuộc đấu tranh của công nhân hãng đóng tàu Ba Son do Tôn Đức Thắng tổ chức,  
không chịu chữa chiến hạm Misơlê (Michelet), để thực dân Pháp chở quân đi đàn  
- 13 -  
áp phong trào nổi dậy chống xâm lược của nhân dân Trung Quốc tại các thành phố  
có tô giới của đế quốc.  
=> Nhìn chung thời kỳ nay công nhân đấu tranh chủ yếu đòi quyền lợi kinh tế  
chưa vươn tới mục đích chính trị, chưa có lý luận cách mạng đúng đắn soi đường.  
Có thể nói đây là thời kỳ tích luỹ về lượng chuẩn bị cho sự biến đổi về chất của  
công nhân Việt Nam.  
+ Thời kỳ đấu tranh tự giác 1926 – 1929:  
Dưới tác động mạnh mẽ của Hội Thanh Niên và phong trào vô sản hoá, trình  
độ tự giác của công nhân ngày càng tăng lên rõ rệt:  
- Trong thời này phong trào công nhân đã có những bước tiến bộ mới. Các  
cuộc đấu tranh tự phát giảm đi, thay vào đó là các cuộc đấu tranh có ý thức, có tổ  
chức và quy mô ngày càng lớn. Họ không chỉ đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế (tăng  
lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện sinh hoạt) mà còn nhằm mục đích chính  
trị (chống lại các chính sách áp bức, bóc lột của bọn chủ tư bản và chính quyền  
phong kiến). Ví dụ: Phong trào đấu tranh của công nhân mỏ than Mạo Khê, đồn  
điền cao sư Lộc Ninh, nhà máy cưa Bến Thuỷ, nhà máy xe lửa Tràng Thi, nhà máy  
xi măng Hải Phòng...  
- Bên cạnh đó, phong trào nông nhân phát triển khá mạnh mẽ ở nhiều vùng  
trong cả nước (Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Ngệ An, Rạch Giá...), cùng với  
phong trào công nhân hỗ trợ lẫn nhau.  
Phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, và các tầng lớp thị dân càng  
phát triển sôi nổi thì càng đòi hỏi nhiều người tổ chức và lãnh đạo. Nhu cầu thành  
lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng dân tộc và gánh  
vác vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng đất nước đang được đặt ra và ngày càng  
trở nên bức xúc đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.  
c. Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.  
- Vào cuối những năm 20, ở Bắc Kỳ có Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên  
(Hội Thanh Niên) và Việt Nam quốc dân đảng cùng hoạt động. Trong đó Hội  
Thanh Niên có tới 1600 hội viên, hoạt động hiệu quả hơn.  
- 14 -  
- Dưới tác động của phong trào cộng sản qua con đường ở trung quốc và  
phong trào “vô sản hoá”, nhiều hội viên Thanh Niên nhận thấy yêu cầu cấp thiết  
phải thành lập một Đảng cộng sản thay thế hội để lãnh đạo và đưa phong trào cách  
mạng Việt Nam tiến lên.  
- Cuối tháng 3.1929, một số phần tử tiên tiến họp ở số 5Đ, phố Hàm Long  
(Hà Nội) để thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên, gồm 7 đảng viên ( Ngô Gia Tự,  
Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Cung, Dương Hạc  
Đính, Kim Tôn), do Trần Văn Cung làm bí thư.  
- Tháng 5.1929, Đại hội I của hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đoàn đại  
biểu kỳ bộ Bắc kỳ đề nghị giải tán tổ chức, thành lập Đảng cộng sản nhưng không  
được chấp thuận nên đã bỏ Đại hội về nước. Sau đó 20 đại biểu ưu tú của kỳ bộ  
Thanh Niên Bắc Kỳ (Ngô Gia tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu) đã thành  
lập Đông Dương cộng sản Đảng vào tháng 6.2929 (tại số nhà 312, phố Khâm  
Thiên, Hà Nội). Tuyên ngôn của Đảng nêu rõ đảng đại biểu cho giai cấp vô sản,  
bênh vực quyền lợi cho “toàn thể vô sản giai cấp, dân cày nghèo và tất cả những  
người làm lụng bị bóc lột và đè nén” (Lịch sử Việt Nam tập II, Nxb. Giáo dục,  
tr.282).  
- Trước ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của Đông Dương cộng sản Đảng,  
tổng bộ Thanh niên và kỳ bộ Nam Kỳ đã quyết định thành lập An Nam cộng sản  
Đảng vào tháng 8.1929, xuất bản báo “Đỏ” đưa vào trong nước tuyên truyền.  
- Cùng với quá trình phân hoá trong Hội Việt nam cách mạng thanh niên dẫn  
tới sự ra đời của hai tổ chức cộng sản, xu hướng XHCN ngày càng lôi cuốn và  
tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số đảng viên Tân Việt. Phái tả của  
Tân Việt (Trần Hữu Chương, Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Khoa Văn...) họp tại  
Sài Gòn (9.1929) đã ra “Tuyên đạt” chính thức lập ra Đông Dương cộng sản liên  
đoàn.  
II. Hội nghị thành lập và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.  
1. Hội nghị thành lập Đảng.  
- 15 -  
Sau khi ra đời, ba tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và  
đều tự nhận mình là Đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên, trong quá trình tuyên  
truyền, vận động quần chúng, các tổ chức cộng sản không tránh khỏi tranh giành  
ảnh hưởng, công kích lẫn nhau. Đông Dương cộng sản Đảng cho An Nam cộng  
sản Đảng là “hoạt đầu, giả cách mạng”. An Nam cộng sản Đảng lại cho Đông  
Dương cộng sản Đảng chưa “thật sự là cộng sản”, “chưa thật là Bônsêvích”...  
Tình hình đó gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và  
gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.  
- Ngày 27.10.1929, Quốc tế cộng sản đã gửi thư cho những người cộng sản ở  
Đông Dương, yêu cầu phải chấm dứt sự chia rẽ, công kích lẫn nhau, đồng thời xúc  
tiến hợp nhất thành một chính Đảng duy nhất ở Đông Dương.  
- Thực hiện chỉ thị của Quốc tế cộng sản, Đông Dương cộng sản Đảng đã cử  
đại diện sang Hương Cảng tiếp xúc và bàn việc hợp nhất với An Nam cộng sản  
Đảng, nhưng do mỗi bên đều đưa ra những yêu cầu khác nhau nên kế hoạch hợp  
nhất mà hai đảng chủ động đề ra không đạt được kết quả.  
Đúng vào thời điểm khó khăn phức tạp ấy, Nguyễn Ai quốc đã xuất hiện như  
một vị cứu tinh của cách mạng và phong trào cộng sản Việt Nam.  
- Đầu tháng 1.1930, được sự uỷ nhiệm của quốc tế cộng sản, Nguyễn Ai  
Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập Hội nghị bàn về việc hợp nhất các tổ chức  
cộng sản thành một Đảng cộng sản duy nhất ở Việt nam (Bắt đầu họp ngày  
6.1.1930).  
- Hội nghị gồm có: 2 đại biểu của Đông Dương cộng sản đảng (Trịnh Đình  
Cửu, Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam cộng sản (Châu Văn Liêm,  
Nguyễn Thiệu) và 1 đại biểu của Quốc tế cộng sản, dưới sự chủ trì của lãnh tụ  
Nguyễn Ai Quốc.  
- Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm Năm điểm lớn, với  
nội dung:  
+ Bỏ mọi thành kiến xung đội cũ, thành that hợp tác để thống nhất các nhóm  
cộng sản ở Đông Dương  
- 16 -  
+ Định tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam  
+ Thảo chính cương vả điều lệt sơ lược của Đảng  
+ Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước  
+ Cử một ban TW lâm thời gồm chín người, trong đó hai đại biểu chi bộ  
cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương.  
- Tại phiên họp ngày 3.2.1930, các đại biểu đã nhất trí với Năm điểm lớn và  
quyết định hợp nhất Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng  
thành Đảng Cộng Sản Việt Nam, đồng thời thông qua Chính cương vắn tắt, Sách  
lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ tóm tắt của Đảng.  
- Hội nghị cũng vạch kế hoạch hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước và  
thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời.  
Sau hội nghị hợp nhất, ngày 24.2.1930, theo đề nghị của Đông Dương cộng  
sản liên đoàn, BCH Trung ương lâm thời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấp  
thuận kết nạp tổ chức này vào Đảng. Như vậy, phải tính đến ngày 24.2.1930, việc  
hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam  
mới được hoàn tất trên thực tế.  
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.  
* Nội dung cương lĩnh.  
- Bản chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng khẳng định:  
Đảng cộng sản Việt Nam là “đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng chủ trương  
tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng  
sản”.  
- Cương lĩnh đã nêu ra nhiệm vụ cụ thể của cách mạng về các phương diện  
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là:  
+Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, chuẩn bị  
cách mạng ruộng đất để tiến lên lật đổ địa chủ phong kiến làm cho nước Việt  
Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ công nông binh và tổ chức quân  
đội công nông  
- 17 -  
+ Về kinh tế: Thủ tiêu các thứ quốc trái, thu hết các sản nghiệp lớn (như công  
nghiệp, vận tải, ngân hàng...) của tư bản đế quốc Pháp để giao lại cho chính phủ  
công nông binh quản lý; thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công và  
chia cho dân cày nghèo, miễn thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nông  
nghiệp, thi hành luật ngày làm việc 8 giờ.  
- Về văn hoá xã hội: Dân chúng tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, thực hiện  
phổ thông giáo dục theo công nông hoá.  
Các nhiệm vụ cách mạng nêu ra trên đây bao hàm hai nội dung: dân tộc và  
dân chủ, chống đế quốc và phong kiến tay sai; trong đó, nổi bật lên là nhiệm vụ  
dân tộc, mục tiêu trước mắt giành lấy độc lập tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam.  
- Về sách lược (lực lượng cách mạng), Đảng chủ trương phải thu phục, tập  
hợp được đông đảo quần chúng nhân và nông dân khỏi ảnh hưởng của tư sản dân  
tộc, hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tập hợp hoặc lôi kéo phú  
nông, tư sản, tiểu và trung địa chủ, còn bộ phận nào phản cách mạng như Đảng  
Lập Hiến thì phải ra sức đánh đổ. Trong khi liên minh với các giai cấp, phải giữ  
vững nguyên tắc cách mạng, không được đi vào con đường thoả hiệp, hy sinh  
quyền lợi cơ bản của công nông cho một giai cấp nào khác.  
- Về xây dựng Đảng, văn kiện khẳng định: Đảng cộng sản là đội tiền phong  
của giai cấp công nhân, người tổ chức và lãnh đạo cách mạng, chính trị để giải  
phóng công nhân, nông dân, toàn thể đồng bào ta khỏi bị đế quốc và phong kiến  
thống trị, áp bức và bóc lột, giành lại quyền độc lập tự do.  
- Về mối quan hệ với cách mạng thế giới, văn kiện chỉ rõ: Đảng phải kiên kết  
với các dân tộc bị áp bức và quần chúng lao động trên thế giới, nhất là quần chúng  
vô sản Pháp.  
* Ý nghĩa cương lĩnh (SGK)  
3. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính  
trị đầu tiên của Đảng.  
- Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã quy tụ ba tổ chức  
cộng sản thành một Đảng duy nhất – Đảng cộng sản Việt Nam- theo 1 đường lối  
- 18 -  
chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của  
phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.  
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân  
tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân  
và hệ tư tưởng Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam.  
- Về qúa trình ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã  
khái quát: “ Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong  
trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng cộng sản Đông Dương vào đầu năm  
1930”.  
- Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng  
là giải phóng dân tộc theo phương thức cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng  
cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã name bắt được ngọn cờ cách mnạg Việt Nam.  
Giải quyế được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh  
đạo cách mạng đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới  
cho đất nước Việt Nam.  
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách  
mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại làm nên những  
thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam góp phần tích cực vào sự  
nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân  
chủ và tiến bộ xã hội.  
BÀI 2:  
ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN  
(1930 - 1945)  
I. Chủ trương đấu tranh từ năm 1930 - 1939  
Giai đoạn tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: tổ chức ra  
chính Đảng của mình, tiến tới giành chính quyền.  
1. Trong những năm 1930 - 1935  
1.1. Luận cương chính trị tháng10.1930  
- 19 -  
a. Hội nghị BCH Trung ương 10.1930.  
Sau Hội nghị thành lập Đảng, phong trào cách mạng phát triển mạnh và tiến dần  
lên cao trào. BCHTƯ lâm thời của Đảng vừa thành lập đã bước ngay vào cuộc thử  
thách toàn diện trên cương vị tiên phong lãnh đạo. Tháng 4.1930, sau thời gian học  
tập tại Liên Xô, Trần Phú về nước hoạt động và được bổ sung vào BCHTƯ lâm thời  
của Đảng.  
- BCH Trung ương lâm thời của Đảng cộng sản Việt Nam đã họp Hội nghị lần  
thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) vào tháng 10.1930. Chủ trì Hội nghị là đồng  
chí Trần Phú, mới tốt nghiệp trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô và được bổ  
sung vào BCH Trung ương lâm thời.  
- Hội nghị quyết định đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Đông Dương, cử BCH  
Trung ương chính thức và cử đ/c Trần Phú làm Tổng Bí thư.  
- Hội nghị thông qua Luận cương chính trị của Đảng do đ/c Trần Phú khởi thảo.  
b. Luận cương chính trị 10.1930 của Đảng  
* Nội dung:  
Luận cương nêu những vấn đề cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ (cách  
mạng tư sản dân quyền) ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.  
- Tính chất xã hội Việt Nam: Thuộc địa, nửa phong kiến.  
- Mâu thuẫn giai cấp: giữa nhân dân lao động nghèo khổ bị áp bức bóc lột và  
địa chủ phong kiến, tư bản đế quốcPháp xâm lược.  
- Tính chất cách mạng Đông Dương: Lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền,  
sau đó bỏ qua thời kỳ tư bản chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN.  
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: Đánh đổ phong kiến, làm cách  
mạng ruộng đất và đánh đổ đế quốc Pháp. Hai mặt đó có quan hệ mật thiết, trong đó  
vấn đề ruộng đất là cái cốt của cách mạng.  
- Về sắp xếp lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản vừa là động lực chính, vừa  
là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Nông dân là động lực của cách mạng. Giai cấp tư sản  
và địa chủ chống lại cách mạng. Trí thức tiểu tư sản hăng hái tham gia cách mạng  
nhưng chỉ được lúc đầu. Những người lao động khác đều tham gia cách mạng.  
- 20 -  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 127 trang Thùy Anh 23200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_cuong_duong_loi_cach_mang_dang_cong_san_viet_nam.doc