Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 7: Nghệ thuật quân sự Việt nam

MỞ ĐẦU  
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha luôn phải chống  
lại kẻ thù xâm lược lớn hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song, với một lòng  
yêu nước, ý chí kiên cường với cách đánh mưu trí, sáng tạo, cha ông ta đã đánh  
thắng tất cả kẻ thù xâm lược viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc như  
chiến thắng Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử…Từ khi có  
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và cách đánh của quân dân  
ta lại phát huy lên một tầm cao mới và đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có  
tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ trong thực  
tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, đã hình thành nên nghệ thuật quân sự  
Việt Nam, đó là nghệ thuật chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc.  
Dưới sự lãnh đạo của Đảng nghệ thuật quân sự Việt Nam không ngừng phát  
triển góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.  
Bài giảng được biên soạn dựa trên cơ sở Giáo trình giáo dục quốc phòng –  
an ninh, tập một, dùng cho đại học, cao đẳng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,  
năm 2014.  
1
Phần I  
NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN  
I. ĐẤT NƯỚC TRONG BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ.  
Cách đây mấy nghìn năm, từ khi các Vua Hùng mở nước Văn Lang, lịch sử  
dân tộc Việt Nam bắt đầu thời đại dựng nước và giữ nước. Do yêu cầu tự vệ  
trong chống giặc ngoại xâm và yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp đã  
tác động mạnh mẽ đến sự hình thành của nhà nước trong buổi đầu lịch sử. Nhà  
nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của nước ta, có lãnh thổ khá rộng và vị trí  
địa lí quan trọng, bao gồm vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ ngày nay, nằm trên  
đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam  
Á.  
Nền văn minh sông Hồng còn gọi là văn minh Văn Lang, mà đỉnh cao là  
văn hoá Đông Sơn rực rỡ, thành quả đáng tự hào của thời đại Hùng Vương. Vào  
nửa sau thế kỷ thứ III trước công nguyên, nhân sự suy yếu của triều đại Hùng  
Vương cuối cùng, Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Việt đã thống nhất hai bộ  
tộc Lạc Việt và Âu Việt, thành lập nước Âu Lạc, dời đô từ Lâm Thao về Cổ Loa  
(Hà Nội). Nhà nước Âu Lạc kế thừa nhà nước Văn Lang trên mọi lĩnh vực.  
Do có vị trí địa lí thuận lợi, nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm lược  
nhòm ngó. Sự xuất hiện các thế lực thù địch và âm mưu thôn tính mở rộng lãnh  
thổ của chúng là nguy cơ trực tiếp đe doạ vận mệnh đất nước ta. Do vậy, yêu  
cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập và cuộc sống đã sớm xuất hiện trong  
lịch sử dân tộc ta. Người Việt muốn tồn tại, bảo vệ cuộc sống và nền văn hoá  
của mình chỉ có con đường duy nhất là đoàn kết đứng lên đánh giặc, giữ nước.  
II. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH NGHỆ  
THUẬT ĐÁNH GIẶC.  
1. Địa lý:  
- Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á - Biển  
Đông, là cầu nối giao thông ở khu vực Châu Á và thế giới.  
- Nhiều kẻ thù đã từ lâu luôn nhòm ngó, đe doạ và tiến công xâm lược  
nước ta.  
- Để giữ được đất nước, tổ tiên ta đã biết tận dụng tối đa ưu thế “địa lợi”  
để lập thế trận đánh giặc.  
Nguyễn Trãi đã khái quát: “Quan hà bách nhị do thiên thiết”, có nghĩa,  
địa hình hiểm yếu hai người chống được trăm người.  
2. Kinh tế:  
- Kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung, tự cấp lấy sản xuất nông nghiệp  
là chính, trong đó trồng trọt, chăn nuôi là chủ yếu, trình độ canh tác thấp.  
2
- Trong quá trình phát triển, dân tộc ta đã biết kết hợp chặt chẽ tư tưởng  
dựng nước phải đi đôi với giữ nước, thực hiện nhiều kế sách như: “Phú quốc,  
binh cường”, “ngụ binh ư nông”… Tích cực phát triển sản xuất, chăn nuôi để ổn  
định, nâng cao đời sống của nhân dân, đồng thời phát huy tính sáng tạo trong lao  
động, tự tạo ra vũ khí trang bị để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ được Tổ  
quốc.  
3. Chính trị, văn hoá – xã hội:  
a) Về chính trị:  
- Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống hoà thuận, đoàn kết nhất trí  
cao.  
- Sớm xây dựng nhà nước, xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân  
đội để cùng toàn dân đánh giặc giữ nước, xây dựng đất nước của mình.  
b) Về văn hoá – xã hội:  
- Nền văn hoá bản địa Việt Nam xuất hiện sớm từ thời tiền sử, được kết  
cấu vững chắc: Nước có nhà, có làng, có bản nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi  
dân tộc, làng, xã có phong tục, tập quán riêng.  
- Xây dựng nền văn hóa truyền thống: Đoàn kết, yêu nước, thương nòi,  
sống hoà thuận, thuỷ chung, lao động cần cù sáng tạo, đấu tranh anh dũng, kiên  
cường bất khuất.  
Truyền thống tốt đẹp đó được nhân dân ta hình tượng qua các truyền  
thuyết như: “Lạc Long Quân – Âu Cơ”, “Sơn Tinh - Thuỷ Tinh”, “Thánh  
Gióng”…  
III. CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG XÂM  
LƯỢC.  
1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên.  
- Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là cuộc kháng chiến  
chống quân Tần. Đó là cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ, từ năm 214 đến  
208 TCN của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của vua Hùng và Thục Phán.  
- Sau cuộc kháng chiến chống Tần là cuộc kháng chiến của nhân dân Âu  
Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống chiến tranh xâm lược của Triệu Đà, từ  
năm 184 đến 179 trước công nguyên, nhưng bị thất bại. Từ đây, đất nước ta rơi  
vào thảm hoạ hơn một nghìn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ (thời kì Bắc  
thuộc).  
2. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược giành và giữ độc  
lập từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến đầu thế kỷ thứ X.  
Trong hơn một nghìn năm (từ năm 179 trước công nguyên đến năm 938),  
nước ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc từ nhà Triệu, nhà Hán,  
nhà Lương...đến nhà Tuỳ, nhà Đường đô hộ. Trong thời gian này, nhân dân ta đã  
3
nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ, đấu tranh bảo tồn cuộc sống,  
giữ gìn, phát huy tinh hoa của nền văn hoá dân tộc và quyết đứng lên đấu tranh  
giành lại độc lập dân tộc.  
- Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 đã giành được  
độc lập. Nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững trong ba năm.  
- Năm 248, Triệu Thị Trinh phất cờ khởi nghĩa. Nghĩa quân của người con  
gái núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hoá) làm cho quân thù nhiều phen kinh hồn, bạt  
vía. Sau gần nửa năm chiến đấu khiến cho toàn thể Giao Châu đều chấn động.  
Mặc dù bà Triệu cùng nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, nhưng kẻ thù có sức  
mạnh vượt trội và đàn áp rất khốc liệt, nên khởi nghĩa bị thất bại.  
- Mùa xuân năm 542, phong trào yêu nước của người Việt lại bùng lên  
mạnh mẽ, rầm rộ. Dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Lí Bôn, anh hùng hào kiệt  
bốn phương cùng toàn dân vùng lên lật đổ chính quyền của nhà Lương. Sau đó,  
nghĩa quân liên tiếp đánh thắng hai cuộc phản công của kẻ thù. Đầu năm 544, Lí  
Bôn lên ngôi hoàng đế (Lí Nam Đế), đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.  
- Khởi nghĩa của Lí Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687.  
- Khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) năm 722.  
- Khởi nghĩa của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) năm 766 đến 791.  
- Trước hành động phản bội của Kiều Công Tiễn và hoạ xâm lăng của quân  
Nam Hán, Ngô Quyền là một danh tướng của Dương Đình Nghệ đã đứng lên  
lãnh đạo quân dân ta, kiên quyết đánh giặc, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Trận  
quyết chiến trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền cùng quân và dân ta đã nhấn chìm  
toàn bộ đoàn thuyền của quân Nam Hán, khiến tướng giặc Hoàng Thao phải bỏ  
mạng, vua Nam Hán phải bãi binh, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đất  
nước ta mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên của độc lập,  
tự chủ.  
3. Các cuộc chiến tranh giữ nước (TK X đến cuối TK XIX).  
- Kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất năm 981 của nhà Tiền Lê  
Thời nhà Đinh, công cuộc xây dựng đất nước đang được xúc tiến thì năm  
979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước thừa  
dịp âm mưu lật đổ và thôn tính. Lúc bấy giờ, ở Trung quốc, nhà Tống đã thành  
lập và đang phát triển. So với Nam Hán, thì nhà Tống là một triều đại cường  
thịnh của một quốc gia phong kiến lớn nhất Châu Á đương thời. Nhân dịp suy  
yếu của nhà Đinh, nhà Tống quyết định phát động cuộc chiến tranh xâm lược  
Đại Cồ Việt (quốc hiệu của nước ta lúc đó). Trong khi vua Đinh còn trẻ, chưa đủ  
khả năng và uy tín tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến, vì sự nghiệp bảo vệ độc  
lập dân tộc, triều thần và quân sĩ đã suy tôn Lê Hoàn, người đang giữ chức thập  
đạo tướng quân lên làm vua. Lê Hoàn lên ngôi, lập nên triều đại nhà Tiền Lê và  
đảm nhiệm sứ mạng lịch sử, tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến  
chống quân Tống.  
4
- Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 (1075 - 1077) của nhà Lí  
Tuy bị đại bại trong lần xâm lược năm 981, nhà Tống vẫn chưa chịu từ bỏ  
tham vọng xâm lược nước ta. Khoảng giữa thế kỷ XI, vua Tống Thần Tông ra  
lệnh chuẩn bị lực lượng đánh Đại Việt lần nữa, nhằm giành thắng lợi ở Đại Việt  
để tạo thế uy hiếp nước Liêu, nước Hạ. Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống,  
Lí Thường Kiệt, lúc đó nắm giữ binh quyền trực tiếp lãnh đạo kháng chiến, nhận  
thấy không thể để bị động đối phó, đợi quân giặc tiến công sang, mà phải chủ  
động tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động. Với chủ trương thực hiện  
"tiên phát chế nhân", "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn  
mũi nhọn của chúng", Lí Thường Kiệt đã chủ động đưa quân tiến công sang đất  
Tống tiêu diệt lực lượng ở các căn cứ xuất phát của kẻ thù, rồi rút về phòng thủ  
đất nước. Biết quân Tống thế nào cũng kéo quân sang phục thù, Lí Thường Kiệt  
đã cho khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt  
để chặn giặc ; đồng thời, triển khai lực lượng, bố trí thế trận chống giặc ngoại  
xâm. Trận phản công Như Nguyệt (tháng 3/1077), quân và dân Đại Việt đã quét  
sạch quân xâm lược Tống ra khỏi biên cương của Tổ quốc.  
- Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên của nhà Trần ở thế kỷ XIII  
Từ năm 1225, Nhà Trần thay thế Nhà Lí đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo công  
cuộc dựng nước và giữ nước (1226 - 1400), đã lãnh đạo nhân dân ta ba lần  
kháng chiến chống quân Nguyên, giành thắng lợi vẻ vang, bổ sung những nét  
đặc sắc vào nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.  
+ Cuộc kháng chiến lần thứ nhất vào năm 1258, quân và dân ta đã đánh  
thắng 3 vạn quân Nguyên.  
+ Cuộc kháng chiến lần thứ hai vào năm 1285, quân và dân ta đã đánh  
thắng 60 vạn quân Nguyên.  
+ Cuộc kháng chiến lần thứ ba vào năm 1287 - 1288, quân và dân ta đã  
đánh thắng 50 vạn quân Nguyên.  
Trong vòng 30 năm (1258 - 1288), dân tộc ta phải liên tiếp ba lần đứng lên  
chống xâm lược. Kháng chiến chống quân Nguyên không chỉ là cuộc đọ sức quyết  
liệt giữa một đế quốc đầu sỏ mạnh nhất thế giới lúc đó với một dân tộc nhỏ bé nhưng  
kiên quyết đứng lên chống xâm lược để bảo vệ đất nước, mà còn là cuộc đấu tranh  
gay gắt về tài trí giữa hai nền nghệ thuật quân sự của Đại Việt và quân xâm lược  
Nguyên Mông.  
- Cuộc kháng chiến chống Minh do Hồ Quý Ly lãnh đạo (1400 - 1407).  
Vào cuối thế kỷ XIV, triều đại nhà Trần từng bước suy tàn, Hồ Quý Li là  
một quý tộc có thanh thế đã phế truất vua Trần, lập ra vương triều mới, triều đại  
nhà Hồ. Tháng 5/1406, dưới chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", nhà Minh đã đưa  
quân xâm lược nước ta. Trong tác chiến, nhà Hồ quá thiên về phòng thủ, coi đó  
là phương thức cơ bản, dẫn đến sai lầm về chỉ đạo chiến lược. Mặt khác, không  
phát động được được toàn dân đánh giặc, tổ chức phản công chiến lược không  
5
đúng thời cơ, bị tổn thất nặng, nên bị thất bại. Đất nước ta một lần nữa bị phong  
kiến phương Bắc đô hộ.  
- Khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi,  
Nguyễn Trãi lãnh đạo.  
Mặc dù chiếm được Đại Việt, nhưng giặc Minh không khuất phục được  
dân tộc ta, các cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân yêu nước vẫn liên tiếp  
nổ ra, tiêu biểu là khởi nghĩa Lam Sơn. Sau 10 năm (1418 – 1427) chiến đấu bền  
bỉ, ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành chiến tranh giải  
phóng, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi. Thắng lợi  
vĩ đại đó chứng tỏ nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng  
của cha ông ta đã đạt đến đỉnh cao và để lại nhiều bài học lịch sử quý giá.  
- Khởi nghĩa Tây Sơn và các cuộc kháng chiến chống quân Xiêm 1784 -  
1785, kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh 1788 - 1789  
Sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược, Lê Lợi lên ngôi, lập nên triều Hậu  
Lê (triều Lê Sơ), đây là giai đoạn hưng thịnh nhất của phong kiến Việt Nam.  
Nhưng thời gian hưng thịnh của đất nước không kéo dài, từ năm 1553 đến năm  
1788 xảy ra cuộc nội chiến triền miên giữa các thế lực, mà điển hình nhất là vua  
Lê - chúa Trịnh. Trong thời gian đó, có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như khởi  
nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, khởi nghĩa Tây Sơn. Quân Tây Sơn tiến công vào  
Gia Định, hang ổ cuối cùng của nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn phải sống lưu vong  
nhờ sự giúp đỡ của vua Xiêm (Thái Lan). Năm 1784, nhà Tây Sơn tiêu diệt 5  
vạn quân Xiêm và tiến công ra Bắc, xoá bỏ giới tuyến sông Gianh, chấm dứt  
toàn bộ thể chế "vua Lê, chúa Trịnh". Năm 1788, trước nguy cơ xâm lược của  
29 vạn quân Mãn Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang  
Trung và thực hiện cuộc hành quân thần tốc tiêu diệt 29 vạn quân xâm lược vào  
mùa xuân Kỷ Dậu 1789. Tiếp theo là triều đại của Nguyễn ánh (Gia Long),  
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Bảo Đại là ông vua cuối cùng của nhà nước  
phong kiến Việt Nam.  
III. NỘI DUNG NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC.  
Lịch sử đã đặt ra cho dân tộc ta biết bao thử thách ngặt nghèo trong quá  
trình dựng nước và giữ nước. Nhưng với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự  
cường, với truyền thống đoàn kết vươn lên trong đấu tranh và xây dựng, với tài  
thao lược kiệt xuất của cha ông, nhân dân ta đã vượt qua tất cả mọi trở ngại,  
chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Từ trong thực  
tiễn chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân  
dân, toàn dân đánh giặc, nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất  
lượng cao thắng số lượng đông. Trong quá trình đó, nghệ thuật quân sự Việt  
Nam từng bước phát triển và được thể hiện rất sinh động trong khởi nghĩa vũ  
trang, chiến tranh giải phóng, trên các phương diện tư tưởng chỉ đạo tác chiến,  
mưu kế đánh giặc....  
6
1. Tư tưởng.  
Giải phóng, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ quan trọng, là mục tiêu cao nhất  
của các triều đại phong kiến trong chiến tranh giữ nước. Do đó, cha ông ta luôn  
nắm vững tư tưởng tiến công, coi đó như một quy luật để giành thắng lợi trong  
suốt quá trình chiến tranh. Thực hiện tiến công liên tục mọi lúc, mọi nơi, từ cục  
bộ đến toàn bộ, để quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi. Tư tưởng tiến công được  
xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến tranh  
giữ nước. Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù, chủ động đề ra  
kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện  
pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ có lợi để tiến hành phản công,  
tiến công.  
Sử sách còn ghi lại, thời nhà Lí đã chủ động đánh bại kẻ thù ở phía Nam  
(quân Chiêm Thành), phá tan âm mưu liên kết của nhà Tống với Chiêm Thành.  
Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, Lí Thường Kiệt đã sử dụng biện pháp  
"tiên phát chế nhân" chủ động tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động.  
Ông đã tận dụng thế "thiên hiểm" của địa hình, xây dựng tuyến phòng thủ sông  
Như Nguyệt, thực hiện trận quyết chiến chiến lược, chủ động chặn và đánh địch  
từ xa để bảo vệ Thăng Long.  
Vào thế kỷ XIII, các quốc gia châu Âu, châu á đang run sợ trước vó ngựa  
của giặc Nguyên Mông, thì cả ba lần tiến quân xâm lược Đại Việt vào các năm  
1258, 1285, 1288, giặc Nguyên đều thảm bại, mặc dù có số quân lớn hơn nhiều  
lần quân đội nhà Trần. Có được thắng lợi đó là do ta đã thực hiện toàn dân đánh  
giặc, "cả nước chung sức, trăm họ là binh", trong đó, tích cực chủ động tiến  
công giặc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong các cuộc chiến tranh.  
Trước đối tượng tác chiến là giặc Nguyên Mông có sức mạnh lớn hơn, ông  
cha ta đã kịp thời thay đổi phương thức tác chiến, tránh quyết chiến với địch khi  
chúng còn rất mạnh, chủ động rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng và tạo thế,  
thời cơ để phản công. Rút lui chiến lược, tạm nhường Thăng Long cho giặc  
trong một thời gian nhất định, là để bảo toàn lực lượng và đó là một nét độc đáo  
trong nghệ thuật tác chiến, chứ không phải là tư tưởng rút lui. Quân địch tạm  
chiếm được Thăng Long mà không chiếm được "Thủ đô" của kháng chiến, bởi  
vì chỉ chiếm được "thành không, nhà trống". Trong khoảng thời gian đó, quân  
đội nhà Trần và nhân dân cả nước đã tích cực tác chiến nhỏ lẻ, tiêu hao nhiều  
lực lượng địch, làm cho chúng rơi vào trạng thái "tiến thoái lưỡng nan", tạo thời  
cơ tốt nhất để phản công chiến lược, quét sạch quân thù ra khỏi đất nước (lần  
thứ nhất sau 9 ngày tính từ khi giặc Nguyên vào Thăng Long, lần thứ hai sau 5  
tháng, lần thứ ba sau 3 tháng).  
Đến thời Nguyễn Huệ, tư tưởng chủ động tiến công địch để giải phóng  
Thăng Long lại được phát triển lên một tầm cao mới. Với cách đánh táo bạo,  
thần tốc, bất ngờ và mãnh liệt, giải quyết chiến tranh nhanh gọn trong một đợt  
tổng giao chiến, Ông đã chủ động tiến công địch khi chúng còn rất mạnh (29  
vạn quân Thanh và quân bán nước Lê Chiêu Thống) nhưng lại rất chủ quan, kiêu  
7
ngạo, thiếu phòng bị (quân Thanh và bè lũ bán nước đang chuẩn bị đón tết Kỷ  
Dậu năm 1789), do đó, đã giành thắng lợi trọn vẹn.  
2. Về mưu kế đánh giặc.  
Mưu là để lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị, làm cho  
chúng bị động, lúng túng đối phó. Kế là để điều địch theo ý định của ta, giành  
quyền chủ động, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta. Trong các cuộc  
chiến tranh giải phóng, với ý chí kiên cường của dân tộc, triều đại nhà Lí, Trần,  
hậu Lê...đã tạo được thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc,  
kết hợp các cách đánh, các lực lượng cùng đánh. Trong chống giặc ngoại xâm để  
bảo vệ đất nước, cha ông ta đã kết hợp chặt chẽ giữa quân triều đình, quân địa  
phương và dân binh, thổ binh các làng xã cùng đánh địch, làm cho lực lượng  
địch luôn bị phân tán, không thực hiện được hợp quân tại Thăng Long. Để bảo  
vệ Thăng Long, Lí Thường Kiệt đã xây dựng tuyến phòng ngự sông Cầu để  
chặn giặc, khi quân nhà Tống tiến công vượt sông không thành công phải  
chuyển vào phòng ngự, Ông đã dùng quân địa phương và dân binh liên tục quấy  
rối, làm cho địch mệt mỏi, căng thẳng, tạo thời cơ cho quân đội nhà Lí chuyển  
sang phản công giành thắng lợi hoàn toàn.  
Kế sách đánh giặc của ông cha ta không những sáng tạo, mà còn hết sức  
mềm dẻo, khôn khéo đó là "biết tiến, biết thoái, biết công, biết thủ". Biết kết hợp  
chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta,  
biết phá thế mạnh của giặc, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết  
định. Lê Lợi, Nguyễn Trãi không những giỏi trong bày mưu, lập kế để đánh  
thắng giặc trên chiến trường, mà còn thực hiện "mưu phạt công tâm", đánh vào  
lòng người. Sau khi đánh tan đạo quân viện binh do Liễu Thăng chỉ huy, đã vây  
chặt thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải đầu hàng vô điều kiện, nhưng  
các ông đã cấp thuyền, ngựa và lương thảo cho hàng binh nhà Minh về nước  
trong danh dự, để muôn đời dập tắt chiến tranh.  
Ông cha ta đã phát triển mưu, kế đánh giặc, biến cả nước thành một chiến  
trường, tạo ra một "thiên la, địa võng" để diệt địch. Làm cho "địch đông mà hoá  
ít, địch mạnh mà hoá yếu", đi đến đâu cũng bị đánh, luôn bị tập kích, phục kích,  
lực lượng bị tiêu hao, tiêu diệt, rơi vào trạng thái "tiến thoái lưỡng nan". Trong  
tác chiến, ông cha ta đã triệt để khoét sâu điểm yếu của địch là tác chiến ở chiến  
trường xa, tiếp tế khó khăn, nên đã tập trung triệt phá lương thảo, hậu cần của  
địch. Ngoài thực hiện kế "thanh dã", làm cho kẻ thù rơi vào trạng thái "người  
không có lương ăn, ngựa không có nước uống", quân đội nhà Trần tổ chức lực  
lượng đón đánh các lực lượng vận chuyển lương thực, hậu cần và đánh phá kho  
tàng của địch. Điển hình như đội quân của Trần Khánh Dư đã tiêu diệt toàn bộ  
đoàn thuyền lương của giặc do Trương Văn Hổ chỉ huy ở bến Vân Đồn, làm cho  
giặc Nguyên ở Thăng Long vô cùng hoảng loạn.  
8
3. Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc.  
Thực hiện toàn dân đánh giặc là một trong những nét độc đáo trong nghệ  
thuật quân sự của tổ tiên ta, được thể hiện cả trong khởi nghĩa và chiến tranh  
giải phóng. Nét độc đáo đó xuất phát từ lòng yêu nước thương nòi của nhân dân  
ta, từ tính chất tự vệ, chính nghĩa của các cuộc kháng chiến. Hễ kẻ thù đụng đến  
nước ta, thì "vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước chung sức, trăm họ là  
binh", giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc.  
Từ lời thề của hai Bà Trưng và nghĩa quân: "Một xin rửa sạch nước thù;  
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng; Ba kẻo oan ức lòng chồng; Bốn xin vẻn  
vẹn sở công lệnh này", đến Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, nghệ thuật "lấy đại  
nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", nghệ thuật quân sự Việt  
Nam đã liên tục phát triển dựa trên nền tảng của chiến tranh nhân dân, thực hiện  
tốt đổi yếu thành mạnh, kết hợp lực, thế, thời, mưu, để đạt mục đích là cùng  
giành lại và giữ vững chủ quyền đất nước với tư tưởng "dập tắt muôn đời chiến  
tranh", "đem lại thái bình muôn thuở". Nội dung cơ bản của thực hiện toàn dân  
đánh giặc là : "Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo cương vị, chức  
trách của mình. Mỗi thôn, xóm, bản, làng là một pháo đài diệt giặc. Cả nước là  
một chiến trường, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm  
cho địch đông mà hoá ít, mạnh mà hoá yếu, rơi vào trạng thái bị động, lúng túng  
và bị sa lầy". Trong đánh giặc, ông cha ta đã tận dụng địa hình, xây dựng thế  
trận làng, nước vững chắc, vận dụng sáng tạo cách đánh của nhiều lực lượng,  
nhiều thứ quân. Vận dụng rộng rãi, sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc để đạt  
hiệu quả cao như : phòng ngự sông Cầu, phục kích Chi Lăng, phản công  
Chương Dương, Hàm Tử, tiến công Ngọc Hồi, Đống Đa...  
4.. Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.  
Đây là nét đặc sắc và tất yếu trong nghệ thuật quân sự của ông cha ta, khi  
dân tộc ta luôn phải chống lại các đội quân xâm lược có quân số, vũ khí, trang bị  
lớn hơn nhiều lần. Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống  
mạnh chính là sản phẩm của lấy "thế" thắng "lực". Quy luật của chiến tranh là  
mạnh được, yếu thua, nhưng từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm, cha ông ta  
đã sớm xác định đúng về sức mạnh trong chiến tranh, đó là : sức mạnh tổng hợp  
của nhiều yếu tố, chứ không thuần tuý là sự so sánh, hơn kém về quân số, vũ khí  
của mỗi bên tham chiến.  
Để chống lại 30 vạn quân xâm lược Tống (1077), nhà Lí trong khi chỉ có  
khoảng 10 van quân, Lí Thường Kiệt đã tận dụng được ưu thế địa hình và các  
yếu tố khác để tạo ra sức mạnh hơn địch và đánh thắng địch.  
Thời nhà Trần có khoảng 15 vạn quân, chống lại giặc Nguyên - Mông, lần  
thứ 2 là 60 vạn, lần 3 là khoảng 50 vạn. Nhà Trần đã "lấy đoản binh để chế  
trường trận", hạn chế sức mạnh của giặc, để đánh thắng giặc.  
Cuộc khởi nghĩa của Lam Sơn, quân số lúc cao nhất có khoảng 10 vạn,  
nhưng đã đánh thắng 80 vạn quân Minh xâm lược. Vì Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã  
9
vận dụng "tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà" và vận dụng cách đánh "vây  
thành để diệt viện".  
Trong cuộc kháng chiến chống quân Mãn Thanh xâm lược, nhà Tây Sơn có  
khoảng 10 vạn quân, nhưng đã đánh thắng 29 vạn quân xâm lược và quân bán  
nước Lê Chiêu Thống vì Nguyễn Huệ đã dùng lối đánh táo bạo, thần tốc, bất  
ngờ.  
5. Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại  
giao và binh vận.  
Chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi quốc gia trong tham  
chiến. Trong chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã biết kết hợp chặt chẽ các mặt  
trận nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù. Mỗi mặt trận có vị trí,  
tác dụng khác nhau, nhưng cùng thống nhất ở mục đích tạo ra sức mạnh để  
giành thắng lợi trong chiến tranh.  
Mặt trận chính trị nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, quy tụ sức  
mạnh đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở để tạo ra sức mạnh quân sự.  
Mặt trận quân sự là mặt trận quyết liệt nhất, thực hiện tiêu diệt sinh lực,  
phá huỷ phương tiện chiến tranh của địch, quyết định thắng lợi trực tiếp của  
chiến tranh, tạo đà, tạo thế cho các mặt trận khác phát triển.  
Mặt trận ngoại giao có vị trí rất quan trọng, đề cao tính chính nghĩa của  
nhân dân ta, phân hoá, cô lập kẻ thù, tạo thế có lợi cho cuộc chiến. Mặt khác,  
mặt trận ngoại giao kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị tạo ra thế có lợi để  
kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt. Điển hình: Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã mở  
"Hội thề Đông Quan", cấp ngựa, thuyền, lương thảo cho hàng binh nhà Minh về  
nước trong danh dự, để muôn đời dập tắc chiến tranh.  
Mặt trận binh vận để vận động làm tan dã hàng ngũ của giặc, góp phần  
quan trọng để hạn chế thấp nhất tổn thất của nhân dân ta trong chiến tranh.  
6. Về nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận đánh lớn.  
Trong các triều đại phong kiến, ông cha ta đã tổ chức và thực hành các trận  
đánh lớn để giải phóng đất nước, kết thúc chiến tranh. Thời nhà Lí có phòng ngự  
sông Cầu (Như Nguyệt), đây là một điển hình về kết hợp chặt chẽ hai hình thức  
tác chiến phòng ngự và phản công trên cả quy mô chiến lược, chiến thuật. Tác  
chiến phòng ngự ở Như Nguyệt không chỉ chặn đứng 30 vạn quân Tống, mà còn  
làm thất bại ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh để chiếm Thăng Long của chúng,  
khiến quân địch phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự.  
Thời nhà Trần, lần chống giặc Nguyên thứ 2, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức  
một cuộc rút lui chiến lược, làm thất bại kế hoạch hợp vây của địch. Trong cuộc  
truy đuổi, giặc Nguyên không thực hiện được những đòn quyết chiến với chủ  
lực ta, trái lại, chúng vấp phải một cuộc chiến tranh của toàn dân Đại Việt. Do  
vậy, quân Nguyên đã sa vào tình trạng muốn đánh mà không đánh được, "lực  
càng yếu, thế càng suy", điều đó đã tạo ra thời cơ phản công cho quân ta.  
10  
Thời nhà hậu Lê, sau 10 năm bền bỉ, gian khổ, ngoan cường, cuộc khởi  
nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang giải phóng  
dân tộc, giải phóng Thăng Long. Thắng lợi đó là kết quả của nhiều yếu tố, trong  
đó nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận đánh lớn giữ một vai trò rất quan  
trọng, đặc biệt ở giai đoạn cuối của chiến tranh. Trong chỉ đạo tác chiến, Lê Lợi  
và Nguyễn Trãi chủ trương "lánh chỗ thực, đánh chỗ hư, tránh nơi vững chắc,  
đánh nơi sơ hở". Khi nghe tin viện binh nhà Minh sắp sang, nhiều tướng sĩ yêu  
cầu Lê Lợi hạ gấp thành Đông Quan (Thăng Long) để diệt trừ nội ứng, rồi sau  
đó sẽ dốc toàn lực để đánh viện binh. Lê Lợi đã phân tích một cách sáng suốt và  
quyết định: "Đánh thành là hạ sách...Sao bằng nuôi dưỡng sức quân, giữ lấy  
nhuệ khí để đợi viện binh của giặc. Viện binh bị phá thì thành tất phải hàng.  
Làm một việc mà được cả hai, đó mới là kế sách vẹn toàn". Việc lựa chọn rất  
đúng mục tiêu tiến công chiến lược và kiệt xuất trong tổ chức, thực hành trận  
quyết chiến Xương Giang - Chi Lăng, buộc lũ giặc Vương Thông trong thành  
Đông Quan không đánh mà bị bắt đã chứng tỏ tài năng quân sự xuất sắc của ông  
trong tổ chức và thực hành các trận đánh lớn của ông cha ta.  
Nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn được biểu hiện tập  
trung nhất, rực rỡ nhất trong việc tổ chức và thực hành các trận quyết chiến  
chiến lược, đặc biệt là giải phóng Thăng Long trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789.  
Khi chọn đánh vào Thăng Long, là địa bàn tập trung hầu hết quân địch, là nơi bộ  
chỉ huy quân Thanh và triều đình Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ đã nhìn thấy rất  
rõ trong cái mạnh của địch, chúng bộc lộ những điểm yếu và sơ hở. Điểm yếu cơ  
bản của quân tướng nhà Thanh là rất chủ quan, ngạo mạn, cho rằng, Tây Sơn  
không dám và không thể tiến công chúng, do đó thế trận rất lỏng lẻo.  
Trong thực hành tác chiến, Nguyễn Huệ đã thiết lập một hệ thống tổ chức  
hành quân đạt hiệu quả tối đa, khiến quân địch hoàn toàn bị động. Trong cách  
đánh, Nguyễn Huệ rất chú trọng hợp vây chiến dịch, chiến thuật và tiến công  
địch bằng các đòn thọc sâu, hiểm hóc. Đây vừa là nghệ thuật kết hợp tiến công  
chính diện với bên sườn, vừa là tiến hành nhiều trận đánh diễn ra đồng thời, liên  
tiếp, nhanh mạnh, bất ngờ, khiến địch không thể ứng cứu được cho nhau và  
nhanh chóng thất bại.  
Phần II  
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO  
Nghệ thuật quân sự là lí luận, thực tiễn chuẩn bị và thực hành chiến tranh,  
chủ yếu là đấu tranh vũ trang gồm chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và  
chiến thuật.  
Kế thừa, phát triển nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, NTQS Việt Nam, dưới  
sự lãnh đạo của Đảng đã kông ngừng phát triển, gắn liền với thắng lợi của hai  
cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. NTQS gồm ba bộ phận hợp thành:  
chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Ba bộ phận của NTQS  
thống nhất, liên hệ chặt chẽ, tác động bổ sung cho nhau, trong đó chiến lược  
11  
quân sự đóng vai trò quyết định chủ đạo, chi phối nghệ thuật chiến dịch và chiến  
thuật. Nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trở thành phương tiện thực hiện  
những nhiệm vụ do chiến lược vạch ra nhưng có tác động trở lại với chiến lược  
quân sự.  
I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM.  
1. Truyền thống đánh giặc của tổ tiên.  
Truyền thống đánh giặc của tổ tiên với nhiều tư tưởng quân sự kiệt sức  
như: “Binh thư yếu lược”, “Hổ tướng phu cơ”, “Bình Ngô đại cáo”…; những  
trận đánh điển hình như: Như Nguyệt, Chi Lăng, Tây Kết, Ngọc Hồi, Đống Đa...  
là bài học vô giá cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thừa kế, phát triển, vận  
dụng trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ Tổ quốc.  
2. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin.  
Học thuyết chiến tranh, quân đội, học thuyết bảo vệ Tổ quốc, những  
nguyên tắc của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, những kinh nghiệm  
lịch sử NTQS được đúc kết qua các cuộc chiến tranh do Mác, Ăng-ghen, Lê-nin  
tổng kết, khái quát đặt cơ sở cho Đảng ta định ra đường lối quân sự trong khởi  
nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam.  
3. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.  
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát huy truyền thống  
đánh giặc của tổ tiên, là sự vận dụng lí luận Mác – Lê-nin về quân sự và kinh  
nghiệm quân sự của các nước trên thế giới vào thực tiễn cách mạng Việt Nam,  
trở thành hệ thống tư tưởng, quan điểm về quân sự, đặt cơ sở cho sự hình thành  
và phát triển NTQS Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo.  
Bác Hồ đã từng dịch “Binh pháp Tôn Tử”, tổng kết “kinh nghiệm du kích  
Tàu”, “du kích Nga” và đề ra nguyên tắc chiến đấu trong tiến công, phòng ngự,  
cách đánh phục kích, tập kích... qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng. Hồ Chí  
Minh và Đảng ta đề ra phương châm chỉ đạo chiến tranh, các phương thức tác  
chiến chiến lược, nắm bắt đúng thời cơ đưa chiến tranh Việt Nam kết thúc thắng  
lợi.  
II. NỘI DUNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ KHI CÓ ĐẢNG  
LÃNH ĐẠO.  
1. Chiến lược quân sự.  
a) Khái niệm:  
Chiến lược quân sự là tổng thể phương châm sách lược và mưu lược được  
hoạch địch để ngăn ngừa và sẵn sàng chiến tranh (xung đột vũ trang) thắng lợi.  
Chiến lược quân sự là bộ phận hợp thành và là bộ phận quan trọng nhất, có tác  
dụng chủ đạo trong NTQS.  
a) Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ xâm lược, chiến lược  
quân sự đã thể hiện các nội dung chủ yếu sau:  
12  
- Xác định đúng kẻ thù, xác định đúng đối tượng tác chiến:  
Đây là vấn đề tối quan trọng của chiến lược quân sự. Xác định đúng kẻ  
thù cách mạng, đối tượng tác chiến chiến lược của quân và dân ta để từ đó có  
đối sách và phương thức đối phó có hiệu quả nhất.  
Thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lược nước ta chúng điều núp dưới chiêu  
bài “bảo hộ”, “khai hoá văn minh”, “bảo vệ thế giới tự do” để lừa bịp nhân dân  
và dư luận.  
Sau Cách mạng tháng 8/1945, nước ta xuất hiện nhiều kẻ thù: quân đội  
Tưởng, Anh, Ấn, Nhật và tàn quân Pháp... chúng có chung mục đích là tiêu diệt  
Chính phủ Hồ Chí Minh, phá hoại cách mạng Việt Nam. Trước tình hình đó,  
Đảng ta xác định kẻ thù nguy hiểm trực tiếp của cách mạng Việt Nam lúc này là  
thực dân Pháp, đối tượng tác chiến của quân dân ta là quân đội Pháp xâm lược.  
Khi đế quốc Mĩ không chịu kí hiệp định Giơ-ne-vơ, tạo cớ áp đặt chủ  
nghĩa thực dân kiểu mới ở Việt Nam, một loại hình chiến tranh dấu mặt. Ngay  
từ tháng 9/1954, Đảng ta chỉ rõ “đế quốc Mĩ đang dần trở thành kẻ thù trực tiếp,  
nguy hiểm của nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia”.  
- Đánh giá đúng kẻ thù:  
Không những chỉ rõ kẻ thù, Hồ Chủ tịch và Đảng ta còn phân tích đánh  
giá đúng mạnh, yếu của từng kẻ thù. Đối với thực dân Pháp, Hồ Chủ tịch ví như  
“như mặt trời ở lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ”. Đế quốc  
Mĩ, dù có quân đông, súng tốt, tiền nhiều nhưng chúng có điểm yếu căn bản là  
đi xâm lược, bị nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ phản đối, Đảng ta nhận định:  
“Mỹ giàu nhưng không mạnh”.  
- Mở đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc:  
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chúng ta mở đầu phát  
động chiến tranh điều là những thời điểm thoả mãn hoàn cảnh lịch sử, có sức lôi  
cuốn toàn dân tộc và có sức thuyết phục trên trường quốc tế mạnh mẽ.  
Trong kháng chiến chớng Pháp, mở đầu ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến, đây là thời điểm ta không thể lùi  
được nữa sau hàng loạt các hành động nhằm đẩy lùi, ngăn chặn không để chiến  
tranh xảy ra. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Bác Hồ đã nói “chúng ta  
muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng  
quyết tâm cướp nước ta một lần nữa...”.  
Đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ, Đảng ta chọn thời điểm sau năm  
1960, bằng cách chuyển từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng.  
Thời điểm đó, đế quốc Mĩ áp dụng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền  
Nam và cách mạng miền Nam có bước phát triển trưởng thành. Mặt khác phát  
động chiến tranh thời kỳ này còn nhằm mục đích không cho đế quốc Mĩ tạo cớ  
can thiệp vào công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc.  
13  
Về kết thúc chiến tranh, trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta chọn  
thời điểm năm 1954, mở đầu bằng chiến dịch Điện Biên Phủ, trong chống Mĩ  
chọn thời điểm 1975, mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên. Tại các thời điểm  
đó, thế và lực của cách mạng điều mạnh, có điều kiện đánh đòn quyết định để  
kết thúc chiến tranh.  
- Phương châm tiến hành chiến tranh:  
Tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc, đánh giặc  
toàn diện trên tất cả các mặt trận, trong đó mặt trận quân sự giữ vai trò quyết  
định nhất.  
Tiến hành chiến tranh với tinh thần “tự lực cánh sinh, đánh lâu dài dựa vào sức  
mình là chính”, đánh lâu dài không đồng nghĩa kéo dài vô hạn mà phải chon thời  
điểm có lợi kết thúc chiến tranh càng sớm cáng tốt.  
- Phương thức tiến hành chiến tranh:  
Chiến tranh nhân dân kết hợp giữa địa phương với các binh đoàn chủ lực,  
kết hợp chặt chẽ tiến công bằng hai lực lượng chính trị, quân sự; bằng ba mụi  
giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi,  
nông thôn, và đô thị, làm cho địch bị động, lúng túng đối phó, dẫn đến sai lầm  
về chiến lược, sa lầy về chiến thuật và thất bại.  
2. Nghệ thuật chiến dịch.  
a) Khái niệm:  
Chiến dịch là tổng thể các trận chiến đấu (trong đó có những trận then  
chốt), có tác động liên quan đến nhau chặt chẽ, diễn ra trong một không gian,  
thời gian nhất định, dưới quyền chỉ huy thống nhất của một bộ phận đẻ nhằm  
hoàn thành những nhiệm vụ do chiến lược vạch ra.  
Nghệ thuật chiến dịch là lý luận và thực tiễn chuẩn bị và thực hành các  
trận đánh và các hoạt động tác chiến tương đương.  
b) Sự hình thành phát triển chiến dịch Việt Nam được thể hiện ở các nội  
dung sau:  
- Loai hình chiến dịch:  
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chúng ta đã tổ chức  
và thực hiện nhiều loại hình chiến dịch như:  
Chiến dịch tiến công. Ví dụ : Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chiến  
dịch tiến công Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công  
và nổi dậy xuân 1975.  
Chiến dịch phản công. Ví dụ: chiến dịch phản công Việt Bắc năm 1947,  
chiến dịch phản công đường số 9 - Nam Lào năm 1971.  
Chiến dịch phòng ngự. Ví dụ chiến dịch phòng ngự Quảng Trị năm 1972,  
phòng ngự cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào) năm 1972.  
14  
Chiến dịch phòng không, như chiến dịch phòng không Hà Nội 1972.  
Chiến dịch tiến công tổng hợp, như chiến dịch tiến công tổng hợp Khu 8.  
- Quy mô chiến dịch:  
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, quy mô chiến dịch được phát  
triển cả về số lượng và chất lượng.  
Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, quy mô chiến dịch của ta còn rất  
nhỏ bé, lực lượng tham gia từ 1đến 3 trung đoàn, vũ khí, trang bị chiến đấu thô  
sơ. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lực  
lượng tham gia đã lên tới 5 đại đoàn cùng nhiều lực lượng khác.  
Trong kháng chiến chiến chống Mĩ, giai đoạn đầu lực lượng chỉ có từ 1 đến  
2 trung đoàn, sau đó phát triển đến sư đoàn. Đến cuối cuộc kháng chiến, đặc biệt  
là chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng bộ binh là 5 quân đoàn và nhiều binh  
chủng, quân chủng khác, phối hợp chặt chẽ với nổi dậy của quần chúng. Trong  
hai cuộc kháng chiến, ở những giai đoạn đầu, các chiến dịch diễn ra chủ yếu ở  
địa hình rừng núi, nhưng giai đoạn cuối đã diễn ra trên tất cả địa hình để nhanh  
chóng kết thúc chiến tranh.  
- Cách đánh chiến dịch  
Thời kì đầu, do so sánh lực lượng giữa ta và địch rất chênh lệch, bộ đội ta  
mới có kinh nghiệm chiến đấu những trận đánh đơn lẻ, chưa có kinh nghiệm tác  
chiến ở quy mô chiến dịch. Nhưng từ trong thực tiễn chiến tranh, trình độ chỉ  
huy và thực hành tác chiến của bộ đội ta đã ngày càng trưởng thành. Từ chiến  
dịch Việt Bắc 1947 đến chiến dịch Biên giới 1950 và đặc biệt là chiến dịch Điện  
Biên Phủ, nghệ thuật chiến dịch đã có bước phát triển vượt bậc như: Nghệ thuật  
lựa chọn khu vực tác chiến chủ yếu, nghệ thuật chuẩn bị thế trận chiến dịch,  
nghệ thuật tập trung ưu thế lực lượng bảo đảm đánh chắc thắng trận mở màn  
chiến dịch, nghệ thuật xử trí chính xác các tình huống trong tác chiến chiến  
dịch...  
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nghệ thuật chiến dịch đã có bước phát  
triển vượt bậc, đó là: Xác định đúng phương châm tác chiến chiến dịch, việc  
thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc,  
tiến chắc" thể hiện sự phân tích khoa học, khách quan tình hình địch, ta và địa  
hình. Xây dựng thế trận chiến dịch vững chắc, thực hiện bao vây rộng lớn, chia  
cắt và cô lập Điện Biên Phủ với các chiến trường khác. Phát huy cao nhất sức  
mạnh tác chiến hiệp đồng các binh chủng, tập trung ưu thế binh hoả lực đánh  
dứt điểm từng trận then chốt, tiêu diệt từng bộ phận địch, phá vỡ từng mảng  
phòng ngự của chúng. Vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch, dựa vào hệ  
thống trận địa, thực hành vây hãm kết hợp với đột phá, kết hợp đánh chính diện  
với các mũi thọc sâu, luồn sâu, tạo thế chia cắt địch ; kết hợp các đợt đánh lớn,  
đánh vừa và thường xuyên vây lấn, ngày càng siết chặt vòng vây, tạo thời cơ  
thực hành tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.  
15  
Trong kháng chiến chống Mĩ, nghệ thuật chiến dịch đã kế thừa những kinh  
nghiệm của kháng chiến chống Pháp và nâng lên một tầm cao mới. Nghệ thuật  
chiến dịch đã chỉ đạo chiến thuật đánh bại tất cả các chiến lược quân sự, biện  
pháp, thủ đoạn tác chiến của quân Mĩ, ngụy và chư hầu. Đặc biệt, trong cuộc  
Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, nghệ thuật chiến dịch đã có bước  
phát triển nhảy vọt, được thể hiện ở các nội dung sau :  
Nghệ thuật tạo ưu thế lực lượng, đảm bảo đánh địch trên thế mạnh, hình  
thành sức mạnh áp đảo địch trong chiến dịch. Nghệ thuật vận dụng sáng tạo  
cách đánh chiến dịch (vận dụng hai cách đánh lần lượt và đồng loạt). Nghệ thuật  
phát huy sức mạnh của các binh chủng, quân chủng trong tác chiến hiệp đồng  
quy mô lớn. Nghệ thuật kết hợp tiến công với nổi dậy, phối hợp tác chiến ba thứ  
quân, lấy đòn đánh lớn của chủ lực làm trung tâm phối hợp. Nghệ thuật chỉ đạo  
vận dụng chiến thuật sáng tạo để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch. Nghệ  
thuật khuếch trương kết quả của trận then chốt trước với trận then chốt sau trong  
chiến dịch tiến công.  
Như vậy cách đánh chiến dịch của ta là cách đánh chiến dịch của chiến  
tranh nhân dân phát triển cao, là vận dụng tổng hợp cách đánh của nhiều lực  
lượng, kết hợp nhiều phương thức, quy mô tác chiến (đánh du kích, đánh vận  
động, đánh trận địa, đánh phân tán và đánh tập trung hiệp đồng quan binh  
chủng) trong đó tác chiến hiệp đồng ngày càng giữ vai trò chủ yếu.  
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chiến dịch đã hoàn  
thành tốt nhiệm vụ do chiến lược vạch ra, tạo sự chuyển hoá chiến lược to lớn,  
góp phần quyết định giành thắng lợi trong chiến tranh. Các chiến dịch Điện Biên  
Phủ, Tây Nguyên, Huế- Đà Nẵng, Hồ Chí Minh… đã để lại nhiều kinh nghiệm  
quý giá, có thể vận dụng vào chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay và tương lai.  
3. Chiến thuật.  
a) Khái niệm:  
"Chiến thuật là lí luận và thực tiễn về tổ chức và thực hành trận chiến đấu  
của phân đội, binh đội, binh đoàn lực lượng vũ trang, bộ phận hợp thành của  
nghệ thuật quân sự Việt Nam".  
Chiến thuật hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử xây dựng, chiến đấu  
và trưởng thành của quân đội ta. Sự phát triển đó là kết quả của sự chỉ đạo chiến  
lược, chiến dịch, nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận chiến đấu của bộ đội  
ta trước một đối tượng địch, địa hình cụ thể.  
a) Nội dung của chiến lược được thể hiện :  
- Vận dụng các hình thức chiến thuật vào các trận chiến đấu  
Giai đoạn đầu của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, lực  
lượng, vũ khí, trang bị của ta còn hạn chế, do đó, tư tưởng tác chiến của bộ đội  
ta là "quán triệt tư tưởng tiến công, triệt để dùng du kích chiến, vận động chiến  
để tiêu diệt địch". Các trận chiến đấu ở giai đoạn này chủ yếu diễn ra ở quy mô  
16  
trung đội, đại đội, tiểu đoàn, lấy đánh địch ngoài công sự là phổ biến. Chiến  
thuật thường vận dụng là tập kích, phục kích, vận động tiến công trong đó, phục  
kích có lợi hơn tập kích.  
Các giai đoạn sau của hai cuộc kháng chiến, bộ đội ta đã trưởng thành,  
không những đánh giỏi vận động chiến (đánh địch ngoài công sự), mà từng bước  
vận dụng công kiên chiến (đánh địch trong công sự).  
Giai đoạn cuối của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ do yêu  
cầu của chiến lược, chiến dịch, phải đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch  
để giữ vững vùng giải phóng, chiến thuật phòng ngự xuất hiện. Chiến thuật  
phòng ngự được vận dụng như phòng ngự đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên  
Phủ, phòng ngự Quảng Trị năm 1972, phòng ngự Thượng Đức năm 1974...  
Ngoài ra, các đơn vị còn vận dụng các hình thức chiến thuật truy kích, đánh địch  
đổ bộ đường không, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao.  
- Quy mô lực lượng tham gia trong các trận chiến đấu  
Giai đoạn đầu của hai cuộc kháng chiến, lực lượng tham gia các trận  
chiến đấu chủ yếu trong biên chế và được tăng cường một số hoả lực như như  
súng cối 82mm, DKZ...Các giai đoạn sau, quy mô lực lượng tham gia các trận  
chiến đấu ngày càng lớn, đã có nhiều trận đánh hiệp đồng binh chủng giữa bộ  
binh, xe tăng, pháo binh, phòng không.... Hiệp đồng chiến đấu giữa các lực  
lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ngày càng nhiều.  
- Cách đánh  
Là nội dung quan trọng nhất của lí luận chiến thuật. Mỗi binh chủng, mỗi  
hình thức chiến thuật đều có những cách đánh cụ thể, phù hợp với đối tượng và  
địa hình. Nội dung cách đánh trong từng hình thức chiến thuật phát triển từ cách  
đánh của lực lượng bộ binh là chủ yếu đến cách đánh hiệp đồng binh chủng.  
Cách đánh của ta thể hiện tính tích cực, chủ động tiến công, bám thắt lưng địch,  
chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt. Kết hợp chặt chẽ giữa hành động tiến  
công và phòng ngự của ba thứ quân để hoàn thành nhiệm vụ của cấp trên giao.  
Như vậy trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chiến thuật, là một  
trong ba bộ phận hợp thành NTQS Việt Nam đã phát triển rất phong phú, đa  
dạng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ do chiến lược, chiến dịch đặt ra, và đã để  
lại nhiều kinh nghiệm có giá trị to lớn thực tiễn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc  
ngày nay.  
Phần III  
VẬN DỤNG MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỂ  
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VÀO SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC  
TRONG THỜI KÌ MỚI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN  
Nghệ thuật quân sự Việt Nam đã hình thành, phát triển trong quá trình  
dựng và giữ nước của dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh  
17  
đạo cách mạng Việt Nam, nghệ thuật quân sự ngày càng phát triển, đó là nghệ  
thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy  
yếu chống mạnh...Những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự vẫn còn  
giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào sự nghiệp  
bảo vệ Tổ quốc trong thời kì mới.  
I. QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG TÍCH CỰC TIẾN CÔNG.  
Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, nghệ thuật quân sự của cha ông ta trước  
đây luôn nhấn mạnh tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch. Ngày nay, với  
sức mạnh của cả nước đánh giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự  
của ta càng có điều kiện phát huy mặt mạnh của mình, khoét sâu chỗ yếu của  
địch để "kiên quyết không ngừng thế tiến công", tiến công địch vào đúng thời  
cơ, địa điểm thích hợp.  
Ngày nay, kẻ thù của đất nước ta là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù  
địch, có ưu thế về tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ mạnh, nhưng  
do tiến hành chiến tranh xâm lược, phi nghĩa, nên chúng sẽ bộc lộ nhiều sơ hở.  
Trên cơ sở đánh giá đúng mạnh, yếu của địch và ta, chúng ta phải biết phát huy  
sức mạnh của mọi lực lượng, vận dụng linh hoạt mọi hình thức và quy mô tác  
chiến, mọi cách đánh, mới có thể tiến công địch một cách liên tục mọi lúc, mọi  
nơi. Không chỉ tiến công trên mặt trận quân sự, mà phải tiến công toàn diện trên  
mọi mặt trận, đặc biệt là mặt trận chính trị, binh vận, thực hiện "mưu phạt công  
tâm", đánh vào lòng người, góp phần thay đổi cục diện chiến tranh.  
Như vậy, trên cơ sở không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, phát huy  
lòng dũng cảm, trí thông minh sáng tạo giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa  
con người và vũ khí, nắm vững tư tưởng tích cực tiến công, chúng ta hoàn toàn  
có thể giành quyền chủ động trên chiến trường và kết thúc chiến tranh trong điều  
kiện có lợi nhất.  
II. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC.  
Đây là sự kế thừa và phát huy lên một trình độ mới từ nghệ thuật quân sự  
truyền thống của dân tộc. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội  
chủ nghĩa, nghệ thuật quân sự chỉ đạo mọi hoạt động tác chiến của lực lượng vũ  
trang và nhân dân. Đó là một nguyên tắc trong nghệ thuật quân sự của toàn dân  
đánh giặc. Nguyên tắc đó phải được thể hiện cụ thể trong việc xác định phương  
hướng, mục tiêu, đối tượng và thời cơ tiến công...trong kế hoạch chiến lược,  
chiến dịch, cũng như từng trận đánh cụ thể.  
Trong hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang, kết hợp đánh phân  
tán với đánh tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Mỗi lực lượng,  
mỗi thứ quân đều có vị trí tác dụng và có những quy luật hoạt động riêng. Vì  
vậy, cần phải phối hợp tác chiến của các lực lượng, các thứ quân cả về chiến  
lược cũng như trong chiến dịch và chiến đấu. Có kết hợp đánh phân tán, rộng  
khắp của lực lượng vũ trang địa phương với đánh tập trung của lực lượng cơ  
động, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn mới phát huy được uy lực của mọi  
18  
vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, làm cho binh lực của địch bị phân tán, dàn mỏng,  
khiến cho chúng đông mà hoá ít, mạnh mà hoá yếu và luôn bị động đối phó ;  
trên cơ sở đó, thực hiện những đòn đánh quyết định, tạo sự thay đổi trên chiến  
trường có lợi cho ta.  
III. NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ, THỜI  
MƯU.  
Trong đấu tranh vũ trang, trước một đối tượng có sức mạnh vượt trội về  
quân sự, khoa học công nghệ phải biết kết hợp chặt chẽ các yếu tố: lực lượng,  
thế trận, thời cơ và mưu trí, sáng tạo. Dùng lực phải dựa vào thế có lợi, dùng  
đúng nơi, đúng lúc mới đạt hiệu quả cao, lực nhỏ hoá lớn, yếu hoá mạnh. Tạo  
thế, tạo lực để sẵn sàng đánh địch khi thời cơ có lợi nhất. Đặt thế, lực vào đúng  
thời cơ có lợi thì "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi". Muốn đánh thắng,  
còn phải dùng mưu kế, hạn chế cái mạnh của địch, phát huy cái mạnh của ta.  
Luôn chú ý lừa địch và giữ bí mật, bất ngờ. Đánh bất ngờ, tạo hiệu quả diệt địch,  
nhất là trong điều kiện lực lượng quân sự địch mạnh, có vũ khí công nghệ cao.  
Nghệ thuật quân sự của ta còn phải biết đánh giá đúng và triệt để khai thác  
các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Đó là nghệ thuật nắm bắt và phát huy  
sức mạnh của thời đại, phát huy tiềm năng, thế mạnh của đất nước, con người  
Việt Nam, trong đó, cần đặc biệt chú trọng "nhân hoà". Chỉ có kết hợp chặt chẽ  
lực, thế, thời, mưu và các yếu tố khác, ta mới có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp,  
đánh thắng kẻ thù có kinh tế, quân sự mạnh khi chúng liều lĩnh xâm lược nước  
ta.  
IV. QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG LẤY ÍT ĐÁNH NHIỀU, BIẾT TẬP TRUNG ƯU  
THẾ LỰC LƯỢNG CẦN THIẾT ĐỂ ĐÁNH THẮNG ĐỊCH.  
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta luôn phải  
chống lại kẻ thù xâm lược lớn hơn nhiều lần. Đứng trước thực tế đó, ông cha ta  
đã sáng tạo ra nghệ thuật "lấy ít địch nhiều", nhưng biết tập trung ưu thế lực  
lượng trong những thời điểm quan trọng để đánh thắng quân xâm lược. Ngày  
nay, vận dụng tư tưởng lấy ít đánh nhiều, ta phải phải phát huy được khả năng  
đánh giặc của toàn dân, của cả ba thứ quân, tạo ra sức mạnh tổng hợp hơn địch  
để đánh thắng địch trong mọi tình thế. Mặt khác, phải tận dụng địa hình, tận  
dụng được yếu tố bí mật, bất ngờ, tiết kiệm được lực lượng để đánh lâu dài, càng  
đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.  
V. KẾT HỢP TIÊU HAO, TIÊU DIỆT ĐỊCH VỚI BẢO VỆ VỮNG CHẮC CÁC  
MỤC TIÊU.  
Từng trận đánh, từng chiến dịch có mục đích cụ thể khác nhau, nhưng mục  
đích chung nhất của mọi hoạt động tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là  
tiêu diệt lực lượng địch phải đi đôi với bảo vệ vững chắc mục tiêu. Muốn giành  
thắng lợi triệt để trong chiến tranh, chúng ta phải kết hợp đánh tiêu hao với đánh  
tiêu diệt lớn quân địch. Đánh tiêu hao rộng rãi bằng đánh nhỏ, đánh vừa của  
chiến tranh nhân dân địa phương sẽ tạo điều kiện cho tác chiến tập trung của  
19  
chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, thực hiện đánh lớn, tiêu diệt lớn quân  
địch. Đi đôi với tiêu hao, tiêu diệt lực lượng của địch, phải bảo vệ vững chắc  
mục tiêu của ta, là vấn đề có tính quy luật của ta trong chiến tranh nhân dân bảo  
vệ Tổ quốc.  
VI. TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN.  
Nghiên cứu nghệ thuật quân sự của các thế hệ ông cha, chúng ta có quyền  
tự hào về tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để  
bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh công cuộc  
đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng.  
Nhưng kẻ thù còn đó, chúng đang tìm mọi thủ đoạn để xoá bỏ chế độ xã hội chủ  
nghĩa ở nước ta. Do vậy, trách nhiệm của sinh viên rất nặng nề đối với sự nghiệp  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước hết, mỗi sinh viên cần phát huy tinh thần tự  
lực, vượt quan khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập, đặc biệt là không  
ngừng bồi đắp lòng yêu quê hương, đất nước. Mặt khác, phải phấn đấu, tu  
dưỡng để trở thành những công dân tốt, sẵn sàng làm nhiệm vụ khi Tổ quốc cần.  
KẾT LUẬN  
Nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên được hình thành và phát triển qua các tư  
tưởng, kế sách đánh giặc, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc,  
nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh và sự phối  
hợp giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận trong khởi nghĩa  
và chiến tranh đã góp phần đánh bại các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông bờ  
cõi, tổ tiên giống nòi.  
Từ khi có Đảng lãnh đạo NTQS Việt Nam đã kế thừa Nghệ thuật đánh  
giặc giữ nước của tổ tiên và đã không ngừng phát triển, góp phần quyết định  
giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ.  
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU  
1. Phân tích truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên?  
2. Trình bài những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam từ khi có Đảng  
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo?  
20  
pdf 20 trang Thùy Anh 27600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 7: Nghệ thuật quân sự Việt nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_giao_duc_quoc_phong_va_an_ninh_bai_7_nghe_thuat_q.pdf