Dân tộc và chủ nghĩa quốc gia dân tộc: Quan niệm và tiếp cận nhìn từ các nghiên cứu quốc tế
29
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (60) - 2019
Dân tộc và chủ nghĩa quốc gia dân tộc:
Quan niệm và tiếp cận nhin từ các nghiên cứu quốc tế
Vũ Thái Hạnh
Học viện Chính trị khu vực III
Phạm Thị Thanh Phương
Học viện Chính trị khu vực III
Tóm tắt:
Trên thế giới, các tiếp cận về dân tộc và chủ nghĩa quốc gia dân tộc rât đa dạng. Bài báo
phân tích quan niệm về dân tộc từ nhiều trường phái lý thuyết khác nhau như trường phái
nguyên thủy luận, thuyết văn hóa, trường phái diễn giải luận, thuyết diễn giải xã hội, thuyết
công cụ, thuyết tích hợp và một số xu hướng trong nghiên cứu dân tộc trong thời gian gần
đây. Đồng thời, bài báo cũng phân tích những nhận định của các nhà nghiên cứu về chủ
nghĩa quốc gia dân tộc trong bối cảnh hiện nay, luận giải những diễn biến và xu hướng biến
đổi phức tạp của chủ nghĩa quốc gia dân tộc trong bối cảnh quốc tế hóa. Kết quả nghiên cứu
này khẳng định rằng, cần thiết phải xây dựng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và không ngừng
tăng cường tiềm lực quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Dân tộc; Chủ nghĩa quốc gia dân tộc.
Abstract:
There are many concepts of ethnicity and nationalism with variety of approaches in
international researches. This article analyzes concepts from theoretical perspectives and
approaches such as the primordialist school, culturalist perspective, the constructionist
school, social constructionist perspective, the instrumentalist school, an integrated approach
and the trend of ethnic research in recent time. In addition, the article analyzes the views
of international researchers on nationalism, explaining the complicated changes and trends
of nationalism in the current context of internationalization. The results confirm that it is
necessary to consolidate the power of great national unity and to continuously enhance
national potentials and strength in the context of international integration.
Keywords: Ethnicity; Nationalism.
Ngày nhận bài: 2/7/2019
Ngày duyệt đăng: 26/8/2019
1. Đăt vân đê
Trên thế giới, nhận dạng vân đề dân tộc là một việc làm khó khăn bởi nhiều quan niệm
đa dạng và khác biệt trong từng bối cảnh và định hướng nghiên cứu cụ thể. Có thể thây, quá
30
Vũ Thái Hạnh & Phạm Thị Thanh Phương
trình di cư và sinh sống đan xen qua nhiều thế hệ đã tạo ra tính phức tạp trong nhận diện
tộc người. Hơn nữa, dân tộc là một khái niệm vừa mang tính chủ quan vì nó là sản phẩm của
suy nghĩ và tình cảm của con người, cảm giác mình thuộc về một nhóm hay một dân tộc nào
đây, vừa mang tính khách quan vì nó dựa vào các đặc điểm khách quan và được xây dựng và
hình thành từ các lực lượng xã hội và các mối quan hệ quyền lực. Một số nhà lý luận hiện đại
(modernism) đã dự đoán rằng khi xã hội ngày càng phát triển, hiện đại, vân đề dân tộc sẽ mờ
nhạt dần, thậm chí biến mât. Tuy nhiên, các tiên liệu trên vẫn chưa diễn ra trên thực tế, ngược
lại, trong bối cảnh hiện tại vân đề dân tộc không những vẫn tồn tại mà còn có vai trò quan
trọng trong những thời điểm và địa điểm nhât định. Thông qua tổng quan các công trình
nghiên cứu trên thế giới, bài báo phân tích một số quan niệm dân tộc, chủ nghĩa quốc gia dân
tộc, qua đó gợi mở những hàm ý quan trọng trong thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay.
2. Quan niệm và tiếp cận vê dân tộc
Hiện nay, có rât nhiều trường phái, tiếp cận và quan niệm khác nhau về dân tộc. Theo
quan điểm sinh học xã hội (sociobiological perspective), yếu tố sinh học xã hội và quan hệ họ
hàng quyết định đặc điểm dân tộc. Van den Berghe (1981) lập luận rằng, dân tộc là sự mở rộng
của quan hệ họ hàng. Các nhánh dân tộc bắt nguồn từ thành viên của các gia đình hạt nhân, sau
đó là gia đình mở rộng và cuối cùng là nhóm dân tộc. Bản sắc dân tộc phát triển và tồn tại nhờ
sự gắn kết chung tổ tiên của một nhóm các thành viên. Hàm ý của luận điểm này là vân đề dân
tộc không bao giờ lụi tàn bởi vì quan hệ họ hàng luôn tồn tại. Quan điểm văn hóa (culturalist
perspective) nhân mạnh tầm quan trọng của văn hóa chung trong việc quyết định tư cách
thành viên của nhóm dân tộc. Các giá trị văn hóa chung có thể là ngôn ngữ và tín ngưỡng
chung làm nên bản sắc dân tộc, thậm chí trong trường hợp không có chung tổ tiên. Các nhóm
chủng tộc khác nhau có cùng nguồn gốc quốc gia có thể thành lập một nhóm dân tộc thiểu số
và phát triển bản sắc dân tộc chung, thậm chí không có mối liên hệ về mặt sinh học nào.
Dựa vào yếu tố tâm lý, trường phái nguyên thủy luận giải thích sự phát triển và gắn kết
dân tộc. Tuy nhiên, trường phái này cũng có một số hạn chế: thứ nhất, cách lập luận này không
thể giải thích thâu đáo các cá nhân, nhóm dân tộc và bản sắc dân tộc thay đổi; thứ hai, luận
thuyết này cũng không lý giải thỏa đáng các nhóm dân tộc và bản sắc dân tộc mới nổi lên
như nhóm người Mỹ gốc Á (Asian American) trong các nhóm có sự đa dạng về văn hóa, sinh
học và lý do các dân tộc, bản sắc dân tộc phai mờ và biến mât; thứ ba, cách diễn giải này có xu
hướng bỏ qua bối cảnh câu trúc, lịch sử rộng lớn hơn ảnh hưởng theo hai chiều hướng củng
cố hoặc làm suy giảm sự trung thành, gắn kết với dân tộc; cuối cùng, luận thuyết này bỏ qua
lợi ích kinh tế, chính trị có gắn bó chặt chẽ với yếu tố tình cảm và hoạt động thực tiễn của dân
tộc (Glazer và Moynihan,1970; Greenberg, 1980; trích qua Yang, 2000).
Có thể thây rõ rằng, tính dân tộc đòi hỏi cần có vài điểm chung như tổ tiên hay văn hóa
nhưng mức độ quan trọng của các điểm chung này trong việc quyết định các nhánh dân tộc
31
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (60) - 2019
như thế nào và liệu đặc tính dân tộc có phải được gán sẵn cho cá nhân là những vân đề đang
được tranh luận. Trường phái nguyên thủy luận thống trị trong các nghiên cứu về dân tộc cho
đến những năm 70 của thế kỷ trước và đến bây giờ nhiều người vẫn quen với các lập luận này.
Vào thập niên 1970, trường phái diễn giải luận có sự tương phản khá rõ nét với nguyên thủy
luận ở những điểm chính sau: thứ nhât, dân tộc, tính dân tộc là bản sắc được xây dựng nên
hay được diễn giải có tính xã hội, trường phái này nhân mạnh vào sự định hình, xây dựng về
mặt xã hội của dân tộc, điều đó khiến họ được gọi là trường phái diễn giải hay kiến tạo; thứ
hai, như là sự mở rộng của bản sắc được xây dựng, bồi đắp thì biên giới, hay giới hạn của dân
tộc là linh hoạt, có thể thay đổi. Nói cách khác, dân tộc có tính động; cuối cùng, việc xác định
tư cách hay nhận dạng dân tộc được quyết định hay diễn giải do xã hội.
Yancey và các cộng sự (1976) đề xuât lý thuyết giải thích sự hình thành dân tộc tính
(emergent ethnicity), chú ý đến tác động của di sản văn hóa, xem dân tộc như là hiện tượng
nổi bật được tạo ra bởi các điều kiện có tính câu trúc. Lây dẫn chứng là người di cư Ý, Do Thái,
Ba Lan tại Mỹ, các tác giả nhận thây sự hình thành, kết tinh và phát triển của các cộng đồng
dân tộc, văn hóa, bản sắc được hình thành bởi các điều kiện có tính câu trúc, gắn chặt chẽ với
quá trình công nghiệp hóa và vị trí của các nhóm dân tộc trong xã hội mà họ định cư. Đặc biệt,
quá trình công nghiệp hóa dẫn đến sự hình thành, mở rộng của một số ngành công nghiệp
nhât định (vải sợi, thép, xây dựng,…) và việc làm tương ứng, các nhóm người nhập cư với kỹ
năng nghề nghiệp khác nhau làm việc trong các ngành công nghiệp đa dạng ở các thời điểm
khác nhau dẫn đến sự tập trung nghề nghiệp của các nhóm dân tộc có cùng lối sống, mối
quan hệ công việc, lợi ích (theo tầng lớp, giai câp); những người nhập cư làm việc trong cùng
một lĩnh vực có xu hướng sống tập trung tại cùng một khu vực, việc có chung nghề nghiệp
và nơi sinh sống dẫn đến họ có chung các thiết chế và các dịch vụ như trường học, nhà thờ
và dịch vụ tài chính. Tât cả những điều kiện có tính câu trúc đó góp phần hình thành và phát
triển đặc điểm văn hóa của các cộng đồng người Ý, Do Thái, Ba Lan tại Mỹ thông qua sự củng
cố và duy trì mạng lưới quan hệ dòng họ, bạn bè. Theo quan điểm này, vân đề dân tộc nổi lên
như là sự đáp ứng những thay đổi có tính câu trúc của xã hội.
Sarna (1978) phát triển lý thuyết về dân tộc hóa (theory of ethnicization) có vài điểm
khác nhau so với lý thuyết của Yancey và cộng sự (1976). Tác giả cho rằng, dân tộc được hình
thành bởi 2 điều kiện: được gắn cho và nghịch cảnh. Sự sắp xếp hay gắn các cá nhân vào các
nhóm dân tộc nhât định bởi những thực thể bên ngoài như chính phủ, nhà thờ, trường học,
truyền thông, người bản xứ hay các nhóm nhập cư khác. Nghịch cảnh bao gồm thành kiến,
sự phân biệt đối xử, sự thù địch và sự khó khăn. Sarna cho rằng, nghịch cảnh buộc các thành
viên trong cùng một nhóm phải thống nhât từ đó tạo ra bản sắc và tình đoàn kết trong nhóm.
Có thể thây, lý thuyết của Sarna đã coi nhẹ tính tích cực của các nhóm dân tộc trong việc định
hình đặc điểm của nhóm trong khi cường điệu hóa tác động của các tác nhân bên ngoài. Tuy
vậy, điểm nhân của lý thuyết này là sự gắn kết giữa việc hình thành sắc thái của các nhóm dân
tộc với bối cảnh xã hội rộng lớn hơn.
32
Vũ Thái Hạnh & Phạm Thị Thanh Phương
Sollars (1989) đề xuât khái niệm sự ra đời của dân tộc (the invention of ethnicity), thách
thức nhận định của thuyết nguyên thủy luận rằng tính dân tộc là một hình thức phi lý của sự
gắn kết văn hóa. Tác giả cho rằng, bản sắc dân tộc được gắn vào lịch sử, được tạo ra, duy trì và
thay đổi diện mạo đều là do con người. Trong khi đó, Nagel (1994, 1997) nhận định tính dân
tộc được xây dựng/tái xây dựng là mang tính xã hội bởi yếu tố bên trong (chính nhóm dân tộc
lựa chọn hành động như dàn xếp, tái định nghĩa, tái xây dựng bản sắc của mình) và yếu tố bên
ngoài (như quá trình chính trị, kinh tế, xã hội và các thế lực bên ngoài khác), và tính dân tộc là
đặc điểm thay đổi thường xuyên, liên tục của cá nhân, nhóm. Tập trung vào tính trung tâm của
chủng tộc, Orni và Winant (1994) chứng minh rằng, ý nghĩa và thứ hạng của chủng tộc định
hình và được định hình bởi tiến trình chính trị. Tựu trung lại, trường phái diễn giải luận tập
trung vào sự xây dựng mang tính xã hội trong việc hình thành và duy trì dân tộc, trong đó các
yếu tố có tính câu trúc và lịch sử sẽ tạo ra và củng cố tính dân tộc, góp phần giải thích tốt hơn
sự biến thiên của một số đặc điểm của tính dân tộc. Cũng như trường phái nguyên thủy luận,
luận thuyết diễn giải xã hội chưa chú trọng đúng mức đến vai trò của lợi ích kinh tế, chính trị
trong việc hình thành tính dân tộc.
Không giống như 2 trường phái lý thuyết trên, thuyết công cụ (the instrumentalist
school) xem dân tộc như một công cụ hay phương tiện chiến lược để đạt được các nguồn
lực. Con người trở thành một cá thể của dân tộc và vẫn là một dân tộc khi yếu tố đó mang lại
những thứ quan trọng cho họ. Nói cách khác, dân tộc tồn tại và duy trì vì nó có ích. Portes và
Bach (1985) minh họa: “sự hỗ trợ về tinh thần, vật chât được cung câp bởi mạng lưới dân tộc
cho những thắng lợi chính trị thông qua phiếu bầu của khối cử tri dân tộc đó”. Là những người
tiên phong của trường phái này, Glazer và Moynihan (1975) cho rằng dân tộc không đơn giản
là sự pha trộn tình cảm, nhưng giống như tầng lớp và quốc tịch, nó là phương tiện để gắn kết
với tính chính trị nhằm tối đa lợi ích nhóm. Các nhóm dân tộc cũng chính là các nhóm lợi ích.
Ở góc độ cực đoan của thuyết này, việc đạt được và duy trì thành viên, đặc điểm văn hóa của
dân tộc đơn giản bởi động lực mong muốn đạt được các lợi thế so sánh. Việc xác định tính dân
tộc thường dễ thay đổi tùy theo tình huống khi lợi ích của quốc gia dân tộc thay đổi. Ở cách
tiếp cận mềm mỏng hơn, thuyết này kết nối cả mặt thuận lợi và những yếu tố ảnh hưởng đến
dân tộc. Cohen (1969) nhận thây tính đồng nhât văn hóa tạo nên sự thuận tiện và nâng cao
hiệu quả tổ chức nhóm lợi ích và thúc đẩy tình đoàn kết và tính dân tộc.
Từ các trường phái lý thuyết trên, có thể thây việc tích hợp các giá trị của các lý thuyết
trên là khả thi. Cách tiếp cận tích hợp (integrated approach) cho rằng dân tộc (bao gồm cả
chủng tộc) được xây dựng có tính xã hội một phần dựa trên nguồn gốc tổ tiên, song quan
trọng hơn là xã hội, mà ở đó lợi ích của các nhóm dân tộc cũng một phần quyết định đến việc
xác định nguồn gốc dân tộc. Lập luận này dựa trên 4 nhận định sau:
Nhận định thứ nhât, dân tộc có tính được quy gán, phần nào đó dựa trên nguồn gốc
tổ tiên với các đặc điểm văn hóa, thể chât và nguồn gốc quốc gia, lãnh thổ. Feagin và cộng
33
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (60) - 2019
sự (1993) nhận định, “khái niệm tổ tiên chung, cả thực tế hay truyền thuyết có ý nghĩa quan
trọng đối với cách nhìn nhận của những người bên ngoài và sự tự xác định của các nhóm dân
tộc”. Max Weber, nhà xã hội học người Đức, định nghĩa nhóm dân tộc là “những nhóm người
chia sẻ niềm tin chủ quan trong thế hệ con cháu của họ nhờ sự tương đồng về đặc điểm thể
chât hoặc phong tục, tập quán hoặc cả hai, hoặc dựa trên ký ức của quá trình thuộc địa hoặc
di cư, bằng cách này niềm tin trở nên quan trọng cho sự tiếp tục các mối quan hệ cộng đồng
không cùng huyết thống”. Do đó, nguồn gốc tổ tiên phải là điều kiện có tính bắt buộc cho sự
nhận diện dân tộc. Vì vậy, không nên tách biệt các khía cạnh của dân tộc hay chủng tộc với
nguồn gốc tổ tiên chung hay tổ tiên có tính huyền thoại. Mỗi cá nhân được xã hội sắp xếp vào
một nhóm dân tộc cụ thể hoặc tự mình lựa chọn nguồn gốc dân tộc một phần bởi dòng dõi
tổ tiên của anh ta.
Nhận định thứ hai, dân tộc phần lớn được định hình bởi xã hội. Có ít nhât 4 cơ chế để
xã hội định hình dân tộc. Cơ chế đầu tiên, xã hội quyết định tư cách thành viên nhóm dân tộc
thông qua các quy tắc thành văn hoặc bât thành văn. Phân loại, xếp hạng hay định nghĩa dân
tộc do xã hội quyết định phản ánh mối quan hệ quyền lực liên nhóm. Quy tắc xếp loại dân
tộc/chủng tộc thay đổi từ xã hội này sang xã hội khác, vì vậy mới có việc cùng một cá nhân có
thể được xếp vào các dân tộc khác nhau ở các xã hội khác nhau. Ví dụ, ở Mỹ, tổ tiên đóng vai
trò quan trọng hơn đặc điểm thể chât trong việc quyết định dân tộc/chủng tộc của cá nhân; ở
Brazil, các đặc điểm thể chât tổng hợp của một cá nhân (màu da, tóc, hình dáng khuôn mặt,…)
lại là yếu tố quyết định cho sự phân loại dân tộc/chủng tộc. Do đó, có việc nhiều người da đen
sáng (ít đen) ở Mỹ lại được coi là người da trắng ở Brazil. Ngoài ra, ở Brazil người ta còn dùng
nhiều tiêu chí nữa, như tầng lớp xã hội. Những người ở địa vị xã hội cao có xu hướng được xếp
vào nhóm da trắng so với những người có địa vị xã hội thâp. Người Brazil nói rằng“một người
da đen giàu có là da trắng và một người da trắng nghèo là da đen”, đây là miêu tả sống động
tiêu chí tài sản quyết định màu da, chủng tộc. Cơ chế thứ hai, các điều kiện xã hội có thể tạo
ra bản sắc và các nhóm dân tộc mới. Chẳng hạn, người nhập cư tạo nên nhóm dân tộc mới
vì nhóm nhập cư hôm nay sẽ trở thành nhóm dân tộc ngày mai. Cơ chế thứ ba, các điều kiện
xã hội có thể thay đổi tư cách thành viên dân tộc hoặc bản sắc của các cá nhân, nhóm. Chính
phủ có thể coi một nhóm dân tộc là chủng tộc gì tùy thuộc vào từng giai đoạn với các nhận
thức, quan niệm khác nhau. Cơ chế thứ tư, các điều kiện có tính câu trúc xã hội có thể làm tăng
thêm bản sắc và ý thức dân tộc. Rât nhiều các điều kiện có tính câu trúc này thực hiện chức
năng như chât xúc tác hoặc kích thích bản sắc và sự thức tỉnh dân tộc. Sự công nhận của chính
phủ có thể dẫn đến gia tăng tính tổ chức và ý thức tự thân của nhóm và có thể làm tăng thêm
sự nhận dạng, sự huy động trong nhóm không được công nhận chính thức.
Nhận định thứ 3, chi phí và lợi ích gắn liền với tư cách thành viên các nhóm dân tộc
quyết định một phần sự nhận dạng dân tộc. Khi cá nhân có nhiều sự lựa chọn dân tộc thì chi
phí và lợi ích của tư cách thành viên dân tộc đóng vai trò then chốt quyết định sự lựa chọn
dân tộc của các cá nhân và nhóm. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố quyết định duy nhât,
34
Vũ Thái Hạnh & Phạm Thị Thanh Phương
nó thường liên quan tới các yếu tố xã hội khác. Con người lựa chọn hoặc lẩn tránh gắn kết với
một nhóm dân tộc nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu những mât mát, tính tư lợi
quyết định phần nào sự lựa chọn. Nói chung, tư cách thành viên dân tộc có thể đem lại nhiều
lợi ích sẽ làm tăng tính nhận dạng dân tộc, trong khi đó nếu tư cách thành viên này mà phải
trả nhiều chi phí sẽ khiến các cá nhân có xu hướng xa lánh hay rời xa nhóm dân tộc đó. Chi phí
và lợi ích ở đây có thể bao gồm yếu tố vật chât hoặc tinh thần như sự thỏa mãn/không thỏa
mãn về mặt tâm lý. Nagel và cộng sự (1996) nhận định, sự lựa chọn dân tộc có thể mang tính
duy lý hoặc không bị chi phối bởi lý trí.
Nhận định thứ tư, ranh giới dân tộc tương đối ổn định nhưng có thể thay đổi theo thời
gian, đặc biệt khi việc xếp loại các nhóm dân tộc trở nên khó khăn. Có thể thây, dòng dõi dân
tộc được định hình theo yếu tố huyết thống nhưng lại được thừa nhận từ xã hội, sự thay đổi,
xáo trộn không thể diễn ra nhanh chóng trong thời gian ngắn. Điều này chỉ diễn ra khi cách
xếp loại dân tộc có vân đề, thường do thách thức chính trị đối với trật tự dân tộc đang tồn tại,
dẫn đến ranh giới dân tộc bắt đầu thay đổi.
Nhiều nhà nghiên cứu có chung nhận định rằng, đặc điểm dân tộc có tính động, thay
đổi theo thời gian và bối cảnh. Từ đó, các nhà nghiên cứu tiếp biến văn hóa và hoạch định
chính sách băn khoăn liệu khi tham gia vào đời sống xã hội trong nước và quốc tế, việc giao
tiếp với các nhóm xã hội lớn khác có làm đánh mât hoặc phai mờ các giá trị văn hóa của dân
tộc nói riêng và văn hóa của quốc gia nói chung hay không? Chúng tôi cho rằng, trong xu thế
hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa là không tránh
khỏi, vân đề đặt ra cho các nhà quản lý là làm sao để bảo tồn các giá trị văn hóa tích cực, thể
hiện giá trị văn hóa của dân tộc, quốc gia đồng thời tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của
nhân loại, làm phong phú thêm giá trị văn hóa dân tộc. Quá trình giao lưu và tiếp biến văn
hóa cũng còn là cơ hội để chúng ta nhận diện rõ hơn giá trị văn hóa của dân tộc và có ý thức
giữ gìn, bảo tồn các giá trị đặc sắc ây. Các giải pháp bảo tồn và phát huy cần mang tính tổng
thể, dài hạn, chú trọng lồng ghép chính sách trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y
tế, kinh tế, xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến hiệu quả trong giáo dục lịch sử và các chương
trình văn hóa, giải trí. Từ đó, các giá trị văn hóa dân tộc sẽ thâm đượm trong mỗi cá nhân ngay
từ lúc còn nhỏ đến khi trưởng thành theo tiến trình tự nhiên, sâu lắng nhât. Thực hiện tốt điều
này sẽ góp phần tạo ra sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nâng cao tiềm lực của quốc gia dân tộc
một cách bền vững và trường tồn.
3. Quan niệm và tiếp cận vê chủ nghĩa quốc gia dân tộc
Từ quan niệm về dân tộc, các nhà nghiên cứu hướng đến tìm hiểu chủ nghĩa quốc gia
dân tộc. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc thường có hệ tư tưởng của riêng mình. Các xung đột
thường xảy ra khi các giá trị văn hóa của hệ tư tưởng này có nhiều khác biệt, ngược lại sự
tương đồng càng lớn thì sự hòa hợp, thống nhât và hòa bình càng là ưu thế. Các phong trào,
cuộc vận động chính trị thường liên quan đến tính dân tộc hoặc chủ nghĩa quốc gia dân tộc,
35
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (60) - 2019
với nhiều câp độ khác nhau. Gellner (1983) cho rằng, chủ nghĩa quốc gia dân tộc là biên giới
địa lý quốc gia trùng với biên giới văn hóa quốc gia đó, trong trường hợp ngược lại thì được
coi là những người theo chủ nghĩa dân tộc. Dân tộc hay chủ nghĩa quốc gia dân tộc cần được
đặt trong mối quan hệ với nhà nước. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc hàm ý sự giải thích mang
tính tư tưởng cho sự tồn tại của nhà nước, có thể là thực tế hoặc tiềm năng. Theo tiêu chí này,
dân tộc đôi khi có thể được diễn giải là một hình thức của chủ nghĩa quốc gia dân tộc có tính
tĩnh, trong một số giai đoạn lịch sử nhât định hoặc cuối cùng dân tộc biểu hiện như chủ nghĩa
quốc gia dân tộc.
Xem xét ở góc độ địa chính trị, chủ nghĩa quốc gia dân tộc là một loại hệ tư tưởng mơ
hồ, nó có thể mang tính hung hăng và bành trướng trong và ngoài biên giới quốc gia, nó có
thể được dùng như một phương thức hội nhập văn hóa và gìn giữ hòa bình đích thực trong
một quốc gia dân tộc hoặc một khu vực. Các nhà lý thuyết tự do thường xem chủ nghĩa quốc
gia dân tộc như là một hệ tư tưởng phổ quát nhân mạnh đến sự bình đẳng và quyền con
người nhưng nó cũng có thể được xem là một loại chủ nghĩa biệt lập chối bỏ những người
không phải công dân của mình hoặc những công dân có sự lệch lạc văn hóa, trong trường
hợp cực đoan, nó còn chối bỏ họ với tư cách thành viên cộng đồng xã hội (Giddens, 1987).
Dựa vào bối cảnh xã hội, chủ nghĩa quốc gia dân tộc có thể có tác động hội nhập/phân rã về
mặt văn hóa xã hội, hoặc có thể là phương tiện hàn gắn sự chia rẽ giữa các dân tộc trong cùng
một quốc gia có sự đa dạng văn hóa.
Về sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia dân tộc, trong tính lịch sử của nó, tư tưởng quốc
gia dân tộc nhằm mục đích gắn kết người dân về văn hóa, chính trị và kinh tế. Mô hình quốc
gia dân tộc như là một thực thể chính trị tối thượng đã trở nên phổ biến trong thế kỷ XX, các
quốc gia dân tộc đóng vai trò rât quan trọng trong việc tạo ra thế giới ngày nay do vai trò quan
trọng của các mối quan hệ quốc tế. Các quốc gia tạo ra sự hội nhập xã hội thông qua việc đề
ra các khuôn mẫu chung như hệ thống giáo dục thống nhât, ngôn ngữ phổ thông, hợp đồng
lao động có tính phổ biến. Có thể thây, việc xây dựng hình ảnh quốc gia thống nhât thông qua
tạo sự khác biệt với quốc gia khác nhằm tăng cường tính cố kết trong nước đã không còn là
sự cá biệt. Trong quốc gia, tât cả đàn ông, đàn bà đều là công dân, họ tham gia vào hệ thống
các mối quan hệ xã hội, họ được nương tựa, bảo vệ, đóng góp cho quốc gia, sự phân biệt chỉ
đến khi có sự xuât hiện của người bên ngoài (quốc gia khác). Ở nơi nào tinh thần quốc gia dân
tộc được phổ biến thành công đến các công dân của mình, nơi đó mỗi người dân sẽ là một
nhà vận động cho dân tộc, bản sắc, lối sống của họ dần trở nên tương thích với các yêu cầu
của quốc gia dân tộc, hỗ trợ cho sự phát triển quốc gia. Trong trường hợp chủ nghĩa quốc gia
dân tộc thât bại, nhà nước có xu hướng sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực nhằm
ngăn chặn sự phân rã. Sự độc quyền trong sử dụng bạo lực chính đáng, độc quyền thu thuế
là một trong những đặc tính quan trọng nhât của nhà nước hiện đại. Tuy nhiên, bạo lực được
xem như là phương án cuối cùng, gắn kết con người thông qua văn hóa, hệ tư tưởng vẫn là ưu
tiên, được sử dụng phổ biến và có tính bền vững.
36
Vũ Thái Hạnh & Phạm Thị Thanh Phương
Vì biên giới quốc gia luôn có sự thay đổi trong tiến trình lịch sử, các cộng đồng người
trong quốc gia cũng có sự thay đổi, đây là một tiến trình diễn ra liên tục, không ngừng nghỉ.
Các nhóm dân tộc có thể tiếp tục tồn tại và tạo ra mối nguy đối với chủ nghĩa quốc gia dân
tộc đang thống trị theo hai cách: lật đổ hoặc phân rã. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc chỉ thực sự
thành công khi nhà nước đồng thời tăng cường ảnh hưởng và phản ứng thích đáng với những
yêu cầu chung, thỏa mãn được các nhu cầu chính đáng của người dân, thì khi đó mỗi người
dân sẽ trở thành các nhà ái quốc, có tinh thần dân tộc. Có thể nảy sinh các xung đột tiềm tàng
giữa quốc gia dân tộc với các hình thức tổ chức không phải quốc gia dân tộc khi các tổ chức
này theo đuổi các nguyên tắc chuẩn mực không tương thích với các chuẩn mực, nguyên tắc
của nhà nước, nhât là xung đột hệ tư tưởng.
Trong xã hội hiện đại, các dân tộc thiểu số ít nhiều phải đối mặt với nguy cơ bị đồng hóa
(do hội nhập và sự hiện đại hóa), họ có thể yêu cầu được hưởng một số quyền đặc biệt do tính
khác biệt về văn hóa và lối sống, mặt khác họ cũng có thể phải chịu sự phân biệt đối xử có tính
hệ thống nếu họ được nhà nước trao cho các quyền này. Chế độ Apacthai ở Nam Phi dành
cho người da đen ở nước này các đặc quyền về kinh tế, dạy ngôn ngữ châu Phi, giữ gìn các di
sản văn hóa truyền thống đồng thời cũng tước đi của họ sự tham gia vào đời sống chính trị
của đât nước Nam Phi. Nếu tât cả công dân đều được đối xử bình đẳng, một số giá trị văn hóa
sẽ được tôn vinh nhưng nếu người dân bị phân biệt đối xử theo sự khác biệt về đặc điểm văn
hóa thì thành viên thuộc các dân tộc ít người dễ bị thiệt thòi, yếu thế. Vì vậy, chủ nghĩa quốc
gia dân tộc cần được mở rộng nội hàm, giàu tính bao dung, đại diện cho ước mơ và nguyện
vọng của đông đảo người dân, bao quát được mọi thành phần dân tộc, vượt qua sự khác biệt,
hướng đến lợi ích chung của đât nước. Cần lưu ý, chủ nghĩa quốc gia dân tộc gắn với nhà nước,
với các nhóm dân tộc quy mô lớn đôi khi không tương thích/khác biệt với các giá trị của các
dân tộc ít người, từ đó tạo ra sự tác động tiêu cực tới các dân tộc này. Khi văn hóa của họ bắt
buộc phải thích nghi với các yêu cầu của nhà nước hiện đại, thường ít nhiều dẫn tới sự thay
đổi bản sắc văn hóa dân tộc. Các dân tộc yếu thế hơn có xu hướng học ngôn ngữ phổ thông,
trong quá trình này bản sắc văn hóa của họ cũng sẽ có sự thay đổi đáng kể.
Sự khác biệt giữa các quốc gia dân tộc thường liên quan đến các phương thức hội nhập,
hệ thống chính trị và điều kiện kinh tế đa dạng, do đó khi xem xét, xử lý các vân đề dân tộc cần
linh hoạt phù hợp với điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Điểm lưu ý tiếp theo là truyền thống
và lịch sử chính trị đặc thù có ảnh hưởng đến bản chât của các mối quan hệ giữa các dân tộc
bên trong quốc gia. Cuối cùng, có lẽ là cơ bản nhât, sự phân chia quyền lực kinh tế, chính trị
tạo thành câu trúc xã hội của một quốc gia. Nói dễ hiểu hơn, các nhóm bị phân biệt đối xử,
nghèo đói thì có ít cơ hội đạt được những quyền lợi của mình một cách thuyết phục, ngược lại
các nhóm có sự thành công, như người Do Thái ở Mỹ, đã tạo dâu ân, sắc thái văn hóa dân tộc
rõ nét, được công nhận như những công dân Mỹ tiêu biểu trong so sánh với người nhập cư từ
các dân tộc khác trong xã hội Mỹ.
37
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (60) - 2019
Hiện nay, vân đề dân tộc và các phong trào quốc gia dân tộc vẫn liên tục có nhiều diễn
biến mới, với các xu hướng tồn tại song song: xu hướng liên kết như mô hình của Liên minh
châu Âu, ASEAN hay xu hướng đâu tranh ly khai như ở Scotland (Liên hiệp vương quốc Anh),
xứ Catalonia (Tây Ban Nha),.... Xử lý tốt vân đề này lại tùy thuộc vào đặc điểm, tính chât của
từng bối cảnh cụ thể, mối quan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia và mối quan hệ dân tộc với
quốc gia, đặc điểm văn hóa lịch sử của từng quốc gia cụ thể.
4. Kết luận và hàm y
Khái niệm dân tộc và chủ nghĩa quốc gia dân tộc là những luận điểm còn gây tranh cãi
trong giới học giả cũng như các nhà chính sách. Các trường phái lý thuyết có thể giải thích
dân tộc từ góc độ sinh học, xã hội, văn hóa, kinh tế, lịch sử, theo đó dân tộc là khái niệm có
tính động, thay đổi theo thời gian. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc là khái niệm được các nhà tư
tưởng, giới nghiên cứu giải thích dựa theo yếu tố lợi ích, với những cách tiếp cận riêng. Một
số quốc gia sử dụng khái niệm này với biểu hiện bành trướng lãnh thổ trong khi nhiều quốc
gia sử dụng nó như yếu tố đoàn kết dân tộc, quan tâm đến các nhu cầu chính đáng của người
dân để cùng hội nhập, hợp tác hòa bình với các quốc gia trong khu vực và thế giới. Trong bối
cảnh hiện nay, xu hướng chủ nghĩa quốc gia dân tộc diễn biến phức tạp, đa chiều cạnh, do
đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo cần có cách xử lý thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tế, lợi ích
quốc gia và luật pháp quốc tế.
Việt Nam luôn hướng đến bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại. Chính sách dân tộc được thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển. Chúng ta cũng ý thức được rằng, việc xây
dựng, củng cố, phát triển các giá trị tốt đẹp của dân tộc là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự góp
sức của mỗi thành viên cũng như vai trò của nhà nước với hệ thống chính sách tổng thể, linh
hoạt. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc, trong bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều diễn biến đan xen
phức tạp, chúng ta cần hướng đến bảo vệ các giá trị chính đáng, xây dựng khối đại đoàn kết
trong nước, đồng thời tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ đối tác trong khu vực
và thế giới để tận dụng sức mạnh thời đại. Tăng cường tiềm lực quốc gia dân tộc là cơ sở mâu
chốt để xây dựng, bảo vệ đât nước đồng thời đem lại cuộc sống âm no, phát triển bền vững
cho mỗi người dân Việt.
Tài liệu tham khảo:
Aboud, F. E. (1987).The development of ethnic self-identification and attitudes. Children’s
ethnic socialization: Pluralism and development, 32-55.
Calhoun, C. (1993). Nationalism and ethnicity. Annual review of sociology, 19(1), 211-239.
Eriksen, T. H. (1991). Ethnicity versus nationalism. Journal of Peace Research, 28(3), 263-278.
Gans, H. J. (1979). Symbolic ethnicity: The future of ethnic groups and cultures in
America. Ethnic and racial studies, 2(1), 1-20.
38
Vũ Thái Hạnh & Phạm Thị Thanh Phương
Gellner, E. (1983). Nationalism and the 2 forms of cohesion in complex societies. In
Proceedings of the British Academy (Vol. 68, pp. 165-187). England: Oxford Univ Press.
Glazer, N., & Moynihan, D. P. (1970). Beyond the Melting Pot: The Negroes, Puerto Ricans,
Jews, Italians, and Irish of New York City (Vol. 63). Cambridge, MA: mit Press.
Glazer, N., Moynihan, D. P., & Schelling, C. S. (Eds.). (1975). Ethnicity: Theory and
experience (No. 109). Harvard University Press.
Hobsbawm, E. J., & Kertzer, D. J. (1992). Ethnicity and nationalism in Europe today.
Anthropology today, 8(1), 3-8.
Nagel, J. (1994). Constructing ethnicity: Creating and recreating ethnic identity and
culture. Social problems, 41(1), 152-176.
Nagel, J. (1997). American Indian ethnic renewal: Red power and the resurgence of identity
and culture. Oxford University Press on Demand.
Orni, M., & Winant, H. (1994). Racial Formation in the United States: From the 1960s to
the 1990s. London and New York: Routledge.
Portes, A., & Bach, R. L. (1985). Latin journey: Cuban and Mexican immigrants in the United
States. Univ of California Press.
Sarna, J. D. (1978). From Immigrants to Ethnics: Toward a New Theory of. Ethnicity, 5(4),
370-78.
Van den Berghe, P. L. (1981). The ethnic phenomenon. New York: Elsevier.
Yancey, W. L., Ericksen, E. P., & Juliani, R. N. (1976). Emergent ethnicity: A review and
reformulation. American sociological review, 391-403.
Yang, P. Q. (2000). Ethnic studies: Issues and approaches. SUNY Press.
Bạn đang xem tài liệu "Dân tộc và chủ nghĩa quốc gia dân tộc: Quan niệm và tiếp cận nhìn từ các nghiên cứu quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dan_toc_va_chu_nghia_quoc_gia_dan_toc_quan_niem_va_tiep_can.pdf

