Giá trị nhân cách trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
GIÁ TRỊ NHÂN CÁCH  
TRONG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH  
PERSONALITY VALUES IN HO CHI MINH’S POLITICAL CULTURE  
BÙI THỊ THU HIỀN  
TÓM TẮT: Văn hóa chính trị cá nhân gồm các yếu tố như: nhận thức chính trị, hoạt động chính trị  
thực tiễn và nhân cách chính trị. Trong đó, tri thức chính trị là những hiểu biết về các lý thuyết,  
học thuyết chính trị, các kinh nghiệm về đấu tranh chính trị, tham dự chính trị và các lý thuyết,  
kinh nghiệm về lãnh đạo, quản lý; lý tưởng, niềm tin chính trị; phương pháp, phong cách chính  
trị… Hoạt động chính trị thực tiễn là khả năng và cách thức tham dự và dấn thân vào chính trị,  
tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện một thể chế chính trị nhất định. Nhân cách chính trị cá  
nhân là toàn bộ những yếu tố như động cơ, thái độ và phong cách ứng xử với một thể chế chính trị  
cụ thể. Trong các giá trị của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, giá trị nhân cách chính trị là cơ sở để  
Người tiếp thu tri thức chính trị phong phú, thực hiện các hành động chính trị thực tiễn đúng đắn  
cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích nội dung giá trị nhân cách  
trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh.  
Từ khóa: giá trị nhân cách; văn hóa chính trị Hồ Chí Minh.  
ABSTRACT: Personal political culture includes the following factors: political awareness,  
practical political activities and political personality. Among them, political knowledge is the  
understanding of political theories, experiences of political struggle, political participation and  
theories and experiences of leadership and management; political ideals and beliefs; methods,  
political styles, ect. Practical political activities are the ability and way of participating and  
engaging in politics, participating in building and completing a certain political institution.  
Personal political personality is all factors such as motivations, attitudes and behavior styles to a  
specific political institution. Among the values of Ho Chi Minh’s political culture, personality  
values are the foundation for Him to acquire rich political knowledge, carry out right practical  
political actions for the victory of the Vietnamese revolution. The article focuses on analyzing the  
content of personality values in Ho Chi Minh’s political culture.  
Key words: personality values; Ho Chi Minh’s political culture.  
chính trị được cộng đồng thừa nhận, chia sẻ,  
vận dụng trong việc thiết lập và vận hành một  
thể chế chính trị nhất định theo hướng tiến bộ.  
Văn hóa chính trị kết tinh toàn bộ những giá trị,  
phẩm chất, trình độ, năng lực chính trị được  
hình thành trên một nền chính trị nhất định  
nhằm thực hiện lợi ích giai cấp, dân tộc, cộng  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Văn hóa chính trị là sản phẩm do con  
người hun đúc trong quá trình đấu tranh giành,  
giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, trở thành  
những giá trị bền vững chi phối nhận thức và  
hành vi chính trị của con người. Văn hóa chính  
trị là những giá trị của tư tưởng cùng hành vi  
 TS. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [email protected], Mã số: TCKH22-26-2020  
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ đề tài C2019-76-01  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
đồng và phù hợp với xu hướng phát triển tiến  
bộ của xã hội loài người. Văn hóa chính trị  
không phải là sự kết hợp đơn thuần giữa văn  
hóa với chính trị mà văn hóa thẩm thấu vào mọi  
hoạt động chính trị, tổ chức chính trị và chủ thể  
chính trị, nâng chính trị lên tầm văn hóa, làm  
cho nền chính trị mang đậm tính nhân văn. Văn  
hóa chính trị được biểu hiện thông qua hành vi  
chính trị của mỗi công dân, trước hết là các nhà  
chính trị, các lãnh tụ chuyên nghiệp. Với một  
số lãnh tụ chính trị xuất sắc thì văn hóa chính  
trị của họ có vai trò to lớn trong việc hình thành  
những giá trị chung, thậm chí tạo ra bước ngoặt  
trong quá trình phát triển văn hóa của cộng  
đồng, dân tộc. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh  
là văn hóa chính trị cá nhân, và là cá nhân tiêu  
biểu với tính cách là một lãnh tụ chính trị và là  
một nhà quản lý tối cao của dân tộc. Văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh được hình thành, phát  
triển và hoàn thiện trong suốt quá trình hoạt  
động cách mạng của Người, là sản phẩm của sự  
tích hợp, kế thừa, phát triển văn hóa chính trị  
truyền thống Việt Nam, giá trị văn hóa chính trị  
của nhân loại, đặc biệt là giá trị văn hóa chính  
trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện  
cụ thể của Việt Nam. Văn hóa chính trị của  
Người có nội dung cốt lõi là tư tưởng và hành  
động nhằm thực hiện triệt để quyền dân tộc cơ  
bản và quyền con người chân chính, là nền tảng  
tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người; có  
giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, là yếu tố nền  
tảng tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt  
Nam. Đồng thời, văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh là “chất keo” gắn kết mọi người dân Việt  
Nam thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau  
tạo nên nguồn lực to lớn đủ sức mạnh đánh bại  
các thế lực xâm lược; đưa nước ta đi lên chủ  
nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng một  
nền chính trị dân chủ, độc lập, tự chủ, cách  
mạng và tiến bộ.  
thức chính trị là những hiểu biết về các lý  
thuyết, học thuyết chính trị, các kinh nghiệm về  
đấu tranh chính trị, tham dự chính trị và các lý  
thuyết, kinh nghiệm về lãnh đạo, quản lý; lý  
tưởng, niềm tin chính trị; phương pháp, phong  
cách chính trị… Hoạt động chính trị thực tiễn  
là khả năng và cách thức tham dự và dấn thân  
vào chính trị, tham gia vào việc xây dựng và  
hoàn thiện một thể chế chính trị nhất định.  
Nhân cách chính trị cá nhân là toàn bộ những  
yếu tố như động cơ, thái độ và phong cách ứng  
xử với một thể chế chính trị cụ thể. Trong các  
giá trị của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, giá  
trị nhân cách là cơ sở để Người tiếp thu tri thức  
chính trị phong phú, thực hiện các hành động  
chính trị thực tiễn đúng đắn cho thắng lợi của  
cách mạng Việt Nam.  
Giá trị nhân cách trong văn hóa chính trị Hồ  
Chí Minh thể hiện ở các nội dung: 1) Hồ Chí  
Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân, trọng dân,  
thân dân, mọi suy nghĩ và hành động cách mạng  
đều vì quyền lợi của dân; 2) Hồ Chí Minh luôn  
chú trọng xây dựng đạo đức chính trị; 3) Hồ Chí  
Minh suốt đời tu dưỡng đạo đức chính trị, luôn  
hài hòa giữa đạo đức chính trị với cách thức đạt  
được các mục tiêu chính trị, luôn đặt lợi ích của  
Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của  
nhân dân, trọng dân, thân dân, mọi suy nghĩ  
và hành động cách mạng đều vì quyền lợi  
của dân  
Tư tưởng và hành động cụ thể trong ứng  
xử với nhân dân không chỉ là nguồn gốc sâu xa  
tạo nên sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh mà  
còn là một giá trị nổi bật của văn hóa chính trị  
của Người. “Nhân dân” theo quan niệm của Hồ  
Chí Minh, là cộng đồng người bao gồm nhiều  
giai cấp, tầng lớp khác nhau nhưng đều là gốc  
của quốc gia, dân tộc, vừa là cơ sở cho sự ra  
đời, tồn tại và phát triển của chính trị vừa là  
chủ thể của chính trị. Quyền lực chính trị  
thường chỉ được bảo đảm cho những người  
Văn hóa chính trị cá nhân gồm các yếu tố  
như: nhận thức chính trị, hoạt động chính trị  
thực tiễn và nhân cách chính trị. Trong đó, tri  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
thuộc giai cấp thống trị, do đó, lịch sử phát  
triển của xã hội loài người cũng đồng thời là  
lịch sử đấu tranh cho việc mở rộng đối tượng là  
chủ thể của chính trị và bảo đảm cho các chủ  
thể đó tham gia ngày càng sâu, rộng và thể hiện  
ngày càng rõ hơn vai trò của mình trong đời  
sống chính trị. Cuộc đời hoạt động chính trị của  
Hồ Chí Minh chính là quá trình tìm tòi, đấu  
tranh, khẳng định và đề cao vai trò của nhân dân  
trong đời sống chính trị và hướng mọi hoạt động  
của các chủ thể chính trị đến việc thực hiện  
quyền lực chính trị của nhân dân nhằm mục tiêu  
đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân,  
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.  
thể quyền lực chính trị của nhân dân, không  
phân biệt giai cấp, tầng lớp, tín ngưỡng, tôn  
giáo. Luôn đề cao vai trò của nhân dân, Người  
luôn xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân để  
lựa chọn hệ tư tưởng, lý tưởng và mục tiêu  
chính trị. Trước khi tiếp thu hệ tư tưởng của  
giai cấp công nhân, Người đã tiếp xúc với  
nhiều học thuyết chính trị khác nhau, nhưng  
cuối cùng, chính chủ nghĩa nhân văn, lòng yêu  
thương con người và tư tưởng tất cả vì nhân  
dân đã giúp Hồ Chí Minh lựa chọn, tin theo chủ  
nghĩa Mác – Lê-nin, lựa chọn lý tưởng xây  
dựng một chế độ chính trị thực sự của dân, do  
dân, vì dân. Thấu hiểu nguyện vọng và nhu cầu  
bức thiết của nhân dân là được độc lập, tự do,  
ấm no, hạnh phúc, Hồ Chí Minh đã lựa chọn và  
đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường  
cách mạng vô sản, với mục tiêu chính trị là độc  
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây  
là con đường duy nhất đúng đắn đã được thực  
tiễn kiểm nghiệm.  
Ở Hồ Chí Minh, trong suy nghĩ và hành  
động, nói và làm, lý luận và thực tiễn, điểm  
xuất phát và điểm cuối cùng là vì con người,  
nhân dân, đồng bào với tất cả nhu cầu sinh tồn  
và phát triển. Hồ Chí Minh có nhiều cách diễn  
đạt và tiếp cận khác nhau về nhân dân, nhưng  
đều đề cập đến số đông quần chúng trong xã  
hội. Tiếp cận từ góc độ nguồn gốc, Người cho  
rằng, nhân dân là những người có chung một  
cội nguồn, chung một tổ tiên, đều là “Con Lạc,  
cháu Hồng”, đều là anh em, ruột thịt. Từ góc độ  
bản sắc văn hóa của cộng đồng người, Hồ Chí  
Minh quan niệm, nhân dân là những người  
trong cùng một quốc gia, một lãnh thổ thống  
nhất, có những nét chung về tiếng nói, chữ viết,  
phong tục, tập quán... Từ góc độ chính trị,  
Người quan niệm “Nhân dân là bốn giai cấp  
công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và  
những phần tử khác yêu nước” [8, tr.264]. Nắm  
vững quan điểm giai cấp, quan điểm quần  
chúng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra giai cấp công  
nhân và nông dân là lực lượng đông đảo nhất,  
bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần  
cách mạng triệt để nhất.  
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh còn thể  
hiện ở việc Người luôn đề cao vai trò của nhân  
dân, tôn trọng dân, học hỏi dân, xuất phát từ  
dân để xác định lực lượng và phương pháp  
cách mạng. Hồ Chí Minh tin tưởng mãnh liệt  
vào sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của quần  
chúng nhân dân. Với quan điểm: “Cách mạng  
là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải  
là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào” [10,  
tr.672], thông qua hoạt động thực tiễn cơ bản  
nhất như lao động sản xuất, đấu tranh chính trị  
- xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa, tinh  
thần. Người luôn chủ trương làm tốt công tác  
dân vận để tuyên truyền, giác ngộ, tập hợp và  
phát huy sức mạnh của toàn dân, làm cho nhân  
dân hiểu rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi  
của mình trong đấu tranh cách mạng. Hồ Chí  
Minh cho rằng, “Vì bị áp bức mà sinh ra cách  
mệnh, cho nên ai bị áp bức càng nặng thì lòng  
cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng  
quyết” [4, tr.288]. Do vậy, ở một nước thuộc  
địa nửa phong kiến như Việt Nam, giai cấp  
Với quan điểm “Trong bầu trời không gì  
quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì  
mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”  
[4, tr.274], Hồ Chí Minh luôn khẳng định, cách  
mạng là một quá trình nhằm trả lại địa vị chủ  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
công nhân cùng với giai cấp nông dân là động  
lực chủ yếu của cách mạng và trong cuộc đấu  
tranh đó “nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ,  
nếu được thì được cả thế giới” [4, tr.288].  
Trong điều kiện bị đế quốc, thực dân thống trị,  
kẻ thù đàn áp dã man, cùng với chính sách ngu  
dân của chúng, người dân các nước thuộc địa  
tưởng chừng không thể gượng dậy nổi, song  
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng  
ở nhân dân mình, dân tộc mình. Xuất phát từ  
quan điểm, cách mạng là của dân, Hồ Chí Minh  
chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng, tức là  
bạo lực của toàn dân có tổ chức và đặt dưới sự  
lãnh đạo của Đảng để phát huy được sức mạnh  
của toàn dân. Người khẳng định: “Trong cuộc  
đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và  
dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại  
bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền  
và bảo vệ chính quyền” [11, tr.391].  
dối của đế quốc, thực dân khi họ nêu cao những  
khẩu hiệu tốt đẹp “tự do, bình đẳng, bác ái”,  
“quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh  
phúc”… để tập hợp, tận dụng sức mạnh của  
nhân dân. Nhưng đến khi đạt được mục đích  
của mình thì quay ngược trở lại áp bức, bóc lột  
nhân dân. Người yêu cầu: “Chúng ta đã làm  
cách mạng thì phải làm cho đến nơi, cho triệt  
để, làm sao cách mạng rồi thì phải mang lại  
quyền lợi cho đa số quần chúng. Cách mạng  
tháng Tám năm 1945 thành công, tại cuộc họp  
đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến  
quốc, Người nêu rõ mục tiêu của nhà nước là:  
“1) Làm cho dân có ăn; 2) Làm cho dân có  
mặc; 3) Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có  
học hành”. Người còn nói: “Chúng ta đã hy  
sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã  
tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do,  
độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự  
do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ  
giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được  
ăn no, mặc đủ” [5, tr.152]. Khi có chính quyền  
rồi, Người luôn nhắc nhở phải xây dựng bộ  
máy trong sạch, đấu tranh với những biểu hiện  
của thói quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân  
dân; phải dựa vào nhân dân, khơi dậy sức mạnh  
tiềm tàng trong nhân dân để phục vụ cho sự  
nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống mới trong  
nhân dân. Bộ máy nhà nước mới phải nắm bắt  
và giải quyết kịp thời những nhu cầu chính  
đáng của nhân dân như: ăn, mặc, ở, học hành,  
chữa bệnh… Nếu dân đói, dân rét, dân không  
được học hành thì đó là lỗi của Đảng và Chính  
phủ. Luôn đề cao vai trò của nhân dân, trọng  
dân, thân dân, mọi suy nghĩ và hành động cách  
mạng đều vì quyền lợi của dân, luôn quan tâm  
chăm lo đến lợi ích của nhân dân là một trong  
những vấn đề cốt lõi của giá trị nhân cách trong  
văn hóa chính trị Hồ Chí Minh.  
Luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết,  
trước hết và do đó, vấn đề độc lập, tự do, ấm no  
hạnh phúc và không ngừng nâng cao đời sống  
vật chất, tinh thần của nhân dân vừa là điểm  
khởi đầu, vừa là mục tiêu cuối cùng của mọi  
chiến lược và sách lược cách mạng. Đây là  
điểm nổi bật trong nhân cách chính trị Hồ Chí  
Minh. Trên cơ sở kiên định mục tiêu chiến lược  
là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,  
trong chỉ đạo thực tiễn, Hồ Chí Minh luôn xuất  
phát từ lợi ích, nguyện vọng thiết thực của nhân  
dân và thực tiễn đất nước trong từng thời kỳ để  
xác định sách lược cụ thể trên các lĩnh vực,  
chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, bảo đảm  
linh hoạt, mềm dẻo và mang lại hiệu quả thiết  
thực cho cuộc sống của nhân dân.  
Muốn phát huy sức mạnh của nhân dân,  
Hồ Chí Minh chủ trương: Đảng, Chính phủ  
không chỉ dừng lại ở tuyên truyền, tổ chức, giác  
ngộ mà điều quan trọng nhất là phải chăm lo,  
bồi dưỡng sức dân - cái gốc rễ, nền tảng - của  
mình bằng những việc làm thiết thực để mang  
lại lợi ích, ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho  
nhân dân. Hồ Chí Minh lên án, phê phán sự lừa  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
mực sống của các cá nhân trong quan hệ sinh  
hoạt hằng ngày, mà còn hàm chứa thái độ của  
mỗi người trong việc giải quyết các mối quan  
hệ xã hội phong phú. Nó đòi hỏi ở mỗi người  
tính tự nguyện, đức hy sinh, chứa đựng những  
giá trị xã hội lớn lao, mang nội dung nhân văn  
sâu sắc.  
2.2. Hồ Chí Minh luôn chú trọng xây dựng  
đạo đức chính trị  
Đạo đức chính trị là bộ phận cốt lõi của  
đạo đức cách mạng, bao gồm những nguyên  
tắc, chuẩn mực và định hướng ứng xử, có tác  
dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi chủ  
thể trong đời sống chính trị, góp phần xây dựng  
một nền chính trị nhân văn, nhân đạo, tất cả vì  
con người. Chính trị chỉ thực sự trở thành văn  
hóa, có giá trị văn hóa khi tất cả hệ thống cùng  
các yếu tố cấu thành của nó như: mục tiêu, lý  
tưởng, phương pháp, phương tiện và mỗi chủ  
thể đều lấy nhân dân làm đối tượng tối cao để  
phục vụ và hướng tới việc bảo đảm cho con  
người ngày càng được giải phóng. Nếu đi  
ngược lại hoặc không bảo đảm được tiêu chí  
này, chính trị chỉ là những thủ đoạn của cá  
nhân hay nhóm lợi ích nào đó, và khi ấy, chính  
trị thậm chí còn là phản văn hóa. Vì vậy, việc  
lựa chọn, xác lập và xây dựng một mô hình  
chính trị mà các yếu tố, các bộ phận của nó đều  
đặt lợi ích của cộng đồng, quốc gia dân tộc lên  
trên hết là một giá trị hết sức quan trọng của  
văn hóa chính trị.  
Người còn chỉ rõ đạo đức cách mạng có  
nguồn gốc sâu xa từ bản chất tốt đẹp của cách  
mạng vô sản. Sau nhiều năm bôn ba, trải  
nghiệm cuộc sống và nghiên cứu lý luận, Hồ  
Chí Minh đã nhận thức sâu sắc chân lý của thời  
đại hiện nay là chỉ có đi theo con đường cách  
mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với giải  
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, xóa bỏ tận  
gốc mọi áp bức, bóc lột, bất công thì con người  
mới thực sự được giải phóng. Đó là sự nghiệp  
cách mạng vĩ đại nhất của nhân loại cần lao,  
trong đó hàm chứa những giá trị nhân đạo cao  
cả, nhân văn sâu sắc. Chế độ mới là môi trường  
tốt đẹp tạo ra những tiền đề kinh tế - xã hội cho  
sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị. Trong  
xã hội cũ, các giai cấp thống trị tìm mọi cách  
áp đặt các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của  
giai cấp mình cho toàn xã hội, nhằm sử dụng  
tối đa sức mạnh tinh thần của đạo đức phục vụ  
cho mục tiêu chính trị, duy trì xã hội trong trật  
tự bóc lột, vị kỷ của chúng. Trong xã hội đó,  
bóc lột, mâu thuẫn đối kháng là bản chất của  
chế độ xã hội; chính trị chỉ là những thủ đoạn  
của thiểu số thống trị xã hội sử dụng để nô dịch  
đa số quần chúng lao động. Hồ Chí Minh nhận  
định rằng trong xã hội có giai cấp bóc lột,  
thống trị, chỉ có lợi ích của giai cấp thống trị là  
được thoả mãn, còn lợi ích cá nhân của quần  
chúng lao động thì bị giày xéo. Trong thực tiễn  
đấu tranh cách mạng, mục tiêu chính trị cao cả  
là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được  
nhân dân giác ngộ, chuyển hóa thành nhu cầu,  
tình cảm, lương tâm, nghĩa vụ đạo đức và  
nguyện chiến đấu hy sinh cho quyền lợi của  
dân tộc, lợi ích của nhân dân. Hồ Chí Minh gọi  
đó là đạo đức cách mạng và “đạo đức đó không  
Hồ Chí Minh là một lãnh tụ chính trị quan  
tâm nhiều nhất đến đạo đức chính trị, Người  
không những chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa  
đạo đức với hiệu quả lãnh đạo của người đảng  
viên, giữa đạo đức với tồn tại xã hội, mà còn chỉ  
rõ tính vượt trước của đạo đức chính trị đối với sự  
vận động, phát triển của xã hội. Trong tư tưởng  
Hồ Chí Minh, nội dung tư tưởng đạo đức cách  
mạng tập trung, nổi bật ở luận điểm: “Đạo đức là  
cái gốc của người cách mạng”. Người ví đạo đức  
cách mạng như gốc của cây, ngọn nguồn của  
sông, của suối. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì  
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông  
cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.  
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo  
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được  
nhân dân” [6, tr.292].  
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng  
không chỉ dừng lại ở những quy tắc, chuẩn  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới,  
đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của  
cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của  
dân tộc, của loài người” [6, tr.292]. Trong thực  
tiễn đấu tranh cách mạng, giai cấp công nhân  
đã sáng tạo ra đạo đức của mình để giác ngộ,  
nâng cao nhiệt tình cách mạng của khối quần  
chúng đông đảo đoàn kết xung quanh Đảng,  
đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và  
chủ nghĩa cộng sản.  
khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống  
lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính  
đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh  
cho Đảng, cho Tổ quốc. “Liêm” là không tham  
địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung  
sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì  
vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ  
hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham  
làm, ham tiến bộ.  
Cũng theo Người, để làm tròn nhiệm vụ  
Tổ quốc và nhân dân giao phó, Đảng và mỗi  
cán bộ, đảng viên phải phụng sự nhân dân trên  
tinh thần luôn “đặt lợi ích của nhân dân lên  
trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì  
cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân  
hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình  
trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê  
bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình  
phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để  
nhân dân noi theo” [7, tr.177]. Đó chính là đạo  
đức của Đảng cách mạng trong sạch, vững  
mạnh và của mỗi cán bộ, đảng viên - những  
người đảm nhận trọng trách “kép” - vừa là  
người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung  
thành của nhân dân, luôn “làm mực thước cho  
dân”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” mà  
không cầu danh lợi, không màng phú quý, coi  
khinh sự xa hoa, giản dị trong lối sống đời  
thường… Do vậy, trau dồi đạo đức cách mạng  
là yêu cầu nền tảng của mỗi con người, trước  
hết là đối với người cán bộ cách mạng.  
Đạo đức cách mạng được thể hiện sâu sắc  
trước hết trong phẩm chất, nhân cách của người  
cán bộ cách mạng. Cán bộ, đảng viên không chỉ  
thấm nhuần sâu sắc vai trò, sức mạnh của đạo  
đức cách mạng, coi đạo đức là gốc, là căn bản,  
là nền tảng mà còn phải thường xuyên rèn  
luyện “như ngọc càng mài càng sáng, vàng  
càng luyện càng trong”. Cụ thể, theo Hồ Chí  
Minh, mỗi người đều phải thấm nhuần đạo đức  
cách mạng, nhất là phải có và thường xuyên rèn  
luyện 5 đức tính tốt: “Nhân” là thật thà thương  
yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì  
thế mà kiên quyết chống lại những người,  
những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân; sẵn  
lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng  
hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham  
giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai  
quyền. “Nghĩa” là ngay thẳng, không có tư tâm,  
không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu  
Đảng, ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích  
riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì  
bất cứ việc to hay nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận.  
Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói.  
Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình  
người khác cũng luôn luôn đúng đắn. “Trí” là  
vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho  
nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý  
luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người.  
Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi,  
tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất  
nhắc người tốt, đề phòng người gian. “Dũng” là  
dũng cảm, gan góc, gặp việc là phải có gan  
làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực  
Bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức,  
tạo nên những nhân cách mẫu mực phải là công  
việc thường xuyên đối với người cách  
mạng. Hồ Chí Minh quan niệm rằng, người  
kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình,  
chí hiếu nhất. Vì thế, Người rất coi trọng việc  
bồi dưỡng chính trị, rèn luyện đạo đức mới.  
Đặc biệt, đối với người cán bộ giữ cương vị  
lãnh đạo lại càng cần phải tích cực trau dồi  
phẩm chất chính trị - đạo đức, hoàn thiện nhân  
cách để có khả năng cảm hóa, tập hợp quần  
chúng thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ  
32  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
chính trị của cách mạng. Do vậy, việc bồi  
dưỡng thế giới quan Mác – Lê-nin phải gắn liền  
với giáo dục nhân sinh quan cộng sản. Hồ Chí  
Minh chỉ rõ: “Có học tập lý luận Mác – Lê-nin  
mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ  
vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình  
độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng  
giao phó cho mình” [9, tr.292]. Giáo dục cán  
bộ, đảng viên, trước hết đó là công việc của  
Đảng. Người căn dặn: “Đảng ta phải ra sức  
tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng  
cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách  
của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người  
đảng viên” [10, tr.439]. Giáo dục, rèn luyện  
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng  
viên của Đảng là xây dựng cái nền tảng, cái  
“gốc” vững chắc của người cán bộ cách mạng.  
Công việc đó cần được tiến hành đồng thời với  
bồi dưỡng lý luận chính trị cách mạng. Bài học  
đầu tiên đối với người cách mạng, theo tư  
tưởng Hồ Chí Minh, phải là bài học về đạo đức  
cách mạng. Trong Di chúc (năm 1969), Người  
không quên nhắc nhở việc giáo dục, rèn luyện  
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng  
viên của Đảng và yêu cầu họ “phải thật sự  
thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần  
kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn  
Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là  
người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung  
thành của nhân dân” [10, tr.510].  
gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài  
diễn văn tuyên truyền” [2, tr.263]. Mặt khác,  
Người còn khẳng định vai trò của đạo đức là  
yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của  
cách mạng, của sự ra đời của chế độ xã hội mới  
khi chứng minh rằng, chủ nghĩa cá nhân là một  
trở lực lớn của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Người  
quan tâm rất nhiều đến việc bồi dưỡng đạo đức  
cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhằm góp  
phần tạo ra một môi trường xã hội mới, làm  
cơ sở để xây dựng một nền đạo đức mới. Với  
nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết và sự nêu  
gương về đạo đức, Hồ Chí Minh đã chỉ ra vị trí,  
vai trò, chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo  
đức cách mạng và để lại một tấm gương sáng  
ngời về đạo đức của người cộng sản - một giá  
trị mang tầm biểu tượng trong văn hóa chính trị  
của Người.  
2.3. Hồ Chí Minh suốt đời tu dưỡng đạo đức  
cách mạng, luôn hài hòa giữa đạo đức chính  
trị với cách thức đạt được các mục tiêu chính  
trị, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên  
trên lợi ích cá nhân  
Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời để  
làm chính trị nhưng không vì bản thân mình mà  
chỉ có một mục đích là đem lại độc lập cho dân  
tộc, tự do cho nhân dân. Vì vậy, Người không  
chỉ để lại một di sản chính trị vẻ vang mà còn  
để lại một tấm gương sáng ngời về đạo đức  
chính trị. Nguyên tắc bất biến chỉ đạo mọi hoạt  
động chính trị của Hồ Chí Minh là giải phóng  
dân tộc phải gắn liền với tự do, ấm no, hạnh  
phúc của nhân dân. Nguyên tắc này là cơ sở để  
Người xác lập các chuẩn mực đạo đức: trung,  
hiếu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,  
yêu thương con người… và định hướng cho các  
hành vi chính trị. Đạo đức chính trị là cơ sở để  
Hồ Chí Minh ứng xử với các học thuyết chính  
trị, nhìn nhận tấm gương của các nhà chính trị  
và lựa chọn xây dựng thể chế chính trị. Với đạo  
đức chính trị Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác –  
Lê-nin là học thuyết chân chính nhất, chắc chắn  
nhất, cách mạng nhất; cách mạng Tháng Mười  
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn  
nêu cao tinh thần tự giác trong tự giáo dục, tự  
rèn luyện, toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục  
vụ nhân dân. Rèn luyện đạo đức cách mạng là  
một công việc khó khăn, lâu dài, gian khổ đòi  
hỏi tinh thần nỗ lực, bền bỉ, kiên trì. Đó phải là  
công việc suốt đời. Sức mạnh và sự hấp dẫn  
của đạo đức cách mạng không chỉ bởi lý tưởng  
cao cả, mà còn bởi hành vi cao đẹp của người  
cán bộ có sức lôi cuốn quần chúng noi theo.  
Bởi vậy, người cán bộ phải thể hiện đạo đức  
cách mạng qua hành động thực tiễn, phải trở  
thành mẫu mực trong mọi công việc: “Một tấm  
33  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 22, Tháng 7 - 2020  
Nga là thành công đến nơi; Lê-nin là tấm  
gương mẫu mực về đạo đức chính trị của người  
cộng sản. Viết về tấm gương đạo đức của Lê-  
nin, Hồ Chí Minh cho rằng, “Không chỉ thiên  
tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa  
hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng,  
nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và  
cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao  
tới các dân tộc châu Á…” [2, tr.317].  
chính trị Hồ Chí Minh, việc đánh đổ chủ nghĩa  
thực dân là đánh đổ địa vị giai cấp và tước bỏ  
những điều kiện thống trị của nó chứ không  
phải là tiêu diệt những cá nhân thuộc giai cấp  
tư sản.  
Hồ Chí Minh đã để lại một tấm gương  
sáng ngời về một nhà chính trị vì dân, một vị  
lãnh tụ của nhân dân, thực sự gần dân, tin dân,  
coi trọng dân, lắng nghe ý kiến của dân, chăm  
lo đến đời sống của dân. Người luôn coi mình  
“Như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân  
ra mặt trận”. Việc giải quyết hài hòa giữa đạo  
đức chính trị với cách thức hay nghệ thuật hiện  
thực hóa các mục tiêu chính trị là một giá trị nổi  
bật của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Trong  
đó, Người luôn tự đặt mình ở vị trí là đầy tớ, là  
công bộc của dân, do vậy, mọi suy nghĩ và hành  
động chính trị từ việc xác định mục tiêu, đến  
phương pháp và cách thức thực hiện đều lấy  
quyền lợi, tính mạng, tài sản của dân làm cơ sở  
để lựa chọn. Ở Hồ Chí Minh, tính nhân văn,  
nhân đạo luôn xuyên suốt trong mục tiêu và  
phương thức chính trị, kể cả khi sử dụng phương  
thức bạo lực. Bởi lẽ, bạo lực chỉ được sử dụng  
sau mọi nỗ lực hòa bình không được đối phương  
chấp nhận và cũng chỉ nhằm mục đích hòa bình.  
Tính kiên trì, bền bỉ, tự giác trong tu  
dưỡng đạo đức cách mạng là một trong những  
yếu tố cơ bản tạo nên giá trị nhân cách của văn  
hóa chính trị Hồ Chí Minh. Người là tấm  
gương sáng ngời về sự cần cù, tiết kiệm, liêm  
khiết và chính trực. Người không chỉ tự mình  
cần cù, mà còn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng  
viên và nhân dân phải cần cù để không ngừng  
tiến bộ trong công tác, đóng góp ngày càng  
nhiều cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.  
Với tinh thần cần cù, vượt khó, Người đã làm  
nhiều công việc khác nhau để sống và để hoạt  
động cách mạng, luôn tự học, tự nghiên cứu,  
không ngừng mở rộng vốn kiến thức và tích lũy  
kinh nghiệm hoạt động cách mạng.  
Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học tập  
tấm gương đạo đức của Lê-nin, Hồ Chí Minh  
đã để lại một tấm gương sáng ngời về lòng yêu  
nước, thương dân, suốt đời phấn đấu làm công  
bộc tận tụy của dân; về sự giản dị, khiêm tốn,  
nhiệt tình, trách nhiệm với công việc và ý chí  
nghị lực, tinh thần chủ động, sáng tạo vượt qua  
mọi khó khăn để đạt được mục tiêu chính trị đã  
xác định. Người khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có  
một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của  
Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những  
khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào  
chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục  
đích đó” [5, tr.272].  
Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức chính trị  
Hồ Chí Minh là cơ sở để Người đoàn kết, tập  
hợp được đông đảo quần chúng nhân dân đi  
theo Đảng làm cách mạng, tranh thủ được sự  
giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần của  
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các  
lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế  
giới cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của  
nhân dân ta. Quá trình tu dưỡng, rèn luyện này  
cũng đồng thời làm cho Hồ Chí Minh trở nên  
gần gũi với tất cả mọi người dù họ ở địa vị,  
cương vị và giai cấp, tầng lớp nào, kể cả những  
người đối lập về hệ tư tưởng cũng như mục  
tiêu, lý tưởng. Với tinh thần nhân văn cao cả và  
tấm lòng khoan dung, độ lượng, Hồ Chí Minh  
không coi ai vĩnh viễn là kẻ thù, Người luôn  
nhìn nhận sự vật, hiện tượng với trạng thái biểu  
hiện của quá trình vận động, phát sinh, phát  
triển trong môi trường tự nhiên, chính trị, xã  
hội nhất định. Trong tư tưởng và hành động  
34  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
Cùng với cần kiệm, tấm gương về sự liêm  
khiết là một biểu hiện tất yếu của đạo đức Hồ  
Chí Minh. Người không tham tiền tài, địa vị,  
vinh hoa phú quý, không bao giờ đòi hỏi đặc  
quyền, đặc lợi; luôn công minh, chính trực,  
luôn “Dĩ công vi thượng”, đặt lợi ích của Đảng,  
của dân tộc lên trên hết. Thủ tướng Phạm Văn  
Đồng là người có nhiều năm sống và làm việc  
bên cạnh Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hồ Chủ  
tịch không có cái gì riêng, cái gì của dân là của  
Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích  
hàng ngày của dân, là sự lo lắng hàng ngày  
của Người. Gia đình của Người là đại gia đình  
Việt Nam” [1, tr.443]. Thực tế đã chứng minh,  
toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, tấm  
gương đạo đức Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ  
nhất nhân cách chính trị của Người; cả cuộc đời  
thực hành cần, kiệm, liêm, chính, là tấm gương  
tuyệt vời của sự quang minh, chính đại, tất cả  
vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì uy tín của  
Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.  
Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân,  
trọng dân, thân dân, mọi suy nghĩ và hành động  
cách mạng đều vì quyền lợi của dân. Đồng thời,  
ở Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng đạo đức  
chính trị. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh suốt đời tu  
dưỡng đạo đức chính trị, luôn hài hòa giữa đạo  
đức chính trị với cách thức đạt được các mục  
tiêu chính trị, luôn đặt lợi ích của Đảng, của  
dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Xuyên suốt giá  
trị nhân cách trong văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh là tình thương yêu con người và vì con  
người, thể hiện sự kế thừa và phát triển đạo lý  
làm người, bản chất nhân văn trong đạo đức  
truyền thống dân tộc. Lòng nhân ái, vị tha, bao  
dung của Hồ Chí Minh đối với con người được  
nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản;  
biểu hiện thành tinh thần quyết tâm đấu tranh vì  
sự nghiệp giải phóng con người, trả lại cho con  
người những giá trị chân chính. Tư tưởng và  
nhân cách vĩ đại của văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh mãi mãi là ngọn đèn soi sáng, là động lực  
tinh thần to lớn thúc đẩy sự nghiệp cách mạng  
Việt Nam.  
3. KẾT LUẬN  
Giá trị nhân cách trong văn hóa chính trị  
Hồ Chí Minh là thể hiện ở các khía cạnh: Hồ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trần Văn Giàu (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Hồ Chí Minh (1993), Biên niên tiểu sử, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[7] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[10] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 28-4-2020. Ngày biên tập xong: 12-5-2020. Duyệt đăng: 24-7-2020  
35  
pdf 9 trang Thùy Anh 21760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị nhân cách trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_nhan_cach_trong_van_hoa_chinh_tri_ho_chi_minh.pdf