Sự phát triển quan điểm về trí thức trong thời kỳ đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đình Ninh  
SỰ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM VỀ TRÍ THỨC  
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM  
DEVELOPING VIEWPOINTS REGARDING INTELLECTUAL RESOURCE  
TERMINOLOGY IN RENOVATION TIME OF VIETNAMESE COMMUNIST PARTY  
NGUYỄN ĐÌNH NINH  
TÓM TẮT: Những thành công trong quá trình đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng  
sản Việt Nam là sự khẳng định vững chắc tính đúng đắn của đường lối cách mạng Việt Nam. Bằng  
sự chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong vận dụng và phát triển hệ thống quan điểm, chủ trương và  
đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ được mọi thành phần, lực lượng trong xã  
hội tham gia tích cực và hiệu quả vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.  
Trong đó, sự phát triển quan điểm về trí thức của Đảng đã tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí  
thức trở thành lực lượng góp phần quan trọng trong phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.  
Từ khóa: quan điểm về trí thức; quan điểm về trí thức trong thời kỳ đổi mới của Đảng Cộng sản  
Việt Nam.  
ABSTRACT: The successful achievements during the national renovation time under leadership by  
Vietnamese Communist Party have been the strong confirmations towards the precision character  
of Vietnamese Communist Party. With activeness, creativeness and intelligence in applying and  
developing the overall systems of viewpoints, policies and leadership pathways, Vietnamese  
Communist Party has accumulated all components and resources in the society in participating  
actively and efficiently the constructing and protecting Vietnamese nation in the current situation.  
At the same time, the developing viewpoints regarding ‘intellectual resource’ terminology in  
Renovation time of Vietnamese Communist Party has brought in the convenient environment for  
the intellectual resource to become one integral component in advancing all social aspects.  
Key words: viewpoint of intellectual resource; viewpoints regarding intellectual resource terminology in  
Renovation time of Vietnamese Communist Party.  
hóa dân tộc. Câu nói nổi tiếng “Hiền tài là  
nguyên khí quốc gia….” [8, tr.46] của Thân  
Nhân Trung đã đi vào lịch sử và trở thành một  
triết lý sâu sắc của dân tộc Việt Nam về vai trò  
của trí thức nói riêng và nhân tài của quốc gia  
nói chung. Cùng với triết lý trên, sự ra đời của  
Quốc Tử giám từ thế kỷ XI vừa là sự khẳng  
định, đồng thời là sự cụ thể hóa quan điểm coi  
đào tạo con người, nâng cao dân trí là quốc  
sách hàng đầu trong truyền thống trọng hiền tài  
của dân tộc.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc  
của khoa học và công nghệ, nhân loại đang  
bước vào nền kinh tế tri thức, vai trò quan trọng  
của lực lượng trí thức lại càng được khẳng  
định. Việt Nam là một trong những dân tộc có  
truyền thống hiếu học, cần cù và sáng tạo.  
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đất  
nước và con người Việt Nam luôn không  
ngừng vươn lên để nắm bắt những tri thức mới,  
góp phần thúc đẩy sự phát triển đời sống và văn  
 ThS. Bệnh viện Quân y 175, [email protected], Mã số: TCKH26-19-2021  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống  
hiếu học, tôn sư trọng đạo, tôn trọng trí thức,  
trọng dụng nhân tài tiếp tục được phát huy. Chủ  
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trí thức là vốn  
quý của dân tộc” [9, tr.84], “đó là đội quân chủ  
lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi Chủ  
nghĩa xã hội ở nước ta” [10, tr.617]. Tiếp tục  
kế thừa và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh  
về trí thức, cùng với việc đúc kết kinh nghiệm  
trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng và xuất  
phát từ yêu cầu của sự phát triển xã hội trong  
công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước, quan điểm của Đảng  
Cộng sản Việt Nam về vấn đề lực lượng trí  
thức ngày càng rõ ràng và sâu sắc.  
đó, trong quan điểm của Đảng, trí thức có vai  
trò ngày càng quan trọng trong công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa đất nước, là lực lượng cần  
thiết, quan trọng để rút ngắn quá trình công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quan  
điểm sử dụng, phát huy lực lượng trí thức,  
Đảng xác định: “phát huy tìm tòi, sáng tạo trong  
nghiên cứu, đồng thời đề cao trách nhiệm xã  
hội của những người làm công tác khoa học và  
công nghệ đối với đất nước” [2, tr.106]. Kế  
thừa quan điểm trên và từ yêu cầu công cuộc  
đổi mới, tại Hội nghị Trung ương II, khóa VIII,  
Đảng đã có Nghị quyết số 02-NQ/HNTW ngày  
24-12-1996 về “định hướng chiến lược phát  
triển giáo dục - đào tạo và chiến lược phát  
triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công  
nghiệp hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”. Trong  
đó, Đảng ta xác định mục tiêu và nhiệm vụ cụ  
thể là cùng với giáo dục và đào tạo, “khoa học  
công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Tiếp tục yêu  
cầu phát triển, phát huy trí thức, Đại hội Đảng  
IX đặt vấn đề: “thực hiện tốt chính sách bảo hộ  
sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa  
học có công trình nghiên cứu xuất sắc”… Có thể  
thấy, xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng,  
nhất là khi đất nước bước vào đổi mới, quan  
điểm của Đảng về vai trò, nhiệm vụ của lực  
lượng trí thức, việc sử dụng, đào tạo đội ngũ trí  
thức phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng  
ngày càng khoa học, toàn diện và sâu sắc hơn.  
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội X, Đảng  
2. NỘI DUNG  
2.1. Sự phát triển quan điểm về trí thức của  
Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới  
Trong Văn kiện Đại hội VI, đại hội đổi  
mới của Đảng, khi nói về lực lượng trí thức,  
Nghị quyết đã viết: “Đối với trí thức, điều quan  
trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo.  
Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho  
năng lực được sử dụng đúng và phát triển. Phá  
bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng  
lớp trí thức ngày nay là những người lao động  
xã hội chủ nghĩa, được Đảng giáo dục và lãnh  
đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân,  
nông dân” [4, tr.449]. Tiếp tục phát triển những  
quan điểm, đường lối trên về lực lượng trí thức,  
từ Đại hội Đảng VII, Đảng ta đặc biệt chú ý  
đến đào tạo, xây dựng, phát triển và phát huy  
lực lượng trí thức. Văn kiện Đại hội Đảng VII  
xác định:“mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm  
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng  
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri  
thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự  
chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách  
mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã  
hội” [1, tr.81] và đặt ra yêu cầu phải “coi phát  
triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công  
nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [3, tr.91]. Theo  
ta đã có nghị quyết riêng về vấn đề trí thức tại  
Hội nghị Trung ương VII, Nghị quyết số 27-  
NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời  
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
nước. Trong đó, Đảng ta đã đưa ra quan điểm  
khá toàn diện và sâu sắc về vị trí, vai trò của  
lực lượng trí thức, đồng thời có quan điểm cụ  
thể về nhiệm vụ xây dựng, đào tạo, sử dụng,  
phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức, Nghị  
quyết nhấn mạnh: “trí thức Việt Nam là lực  
lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến  
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đình Ninh  
đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng nền  
kinh tế tri thức phát triển và nền văn hóa Việt  
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Xây  
dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp  
nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất  
nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và  
chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị.  
Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho  
phát triển bền vững” [5, tr.91]. Như vậy, Nghị  
quyết Hội nghị Trung ương VII là một bước  
tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng về  
đội ngũ trí thức. Nội dung Nghị quyết cho thấy  
nhận thức của Đảng về đội ngũ trí thức đã có  
bước phát triển lớn, thể hiện tính khách quan và  
toàn diện. Trong đó, các vấn đề như trí thức là  
gì? Vai trò của lực lượng trí thức với xã hội và  
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đặc điểm  
của trí thức, mối quan hệ của trí thức với các  
lực lượng xã hội khác, quan điểm về đào tạo,  
sử dụng và phát huy vai trò của lực lượng trí  
thức cơ bản được giải quyết.  
tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây  
dựng đội ngũ trí thức. Về thành phần, việc xác  
định lực lượng trí thức là những ai, có ý nghĩa  
quan trọng đến công tác tổ chức, lãnh đạo lực  
lượng trí thức. Xuyên suốt trong tư tưởng của  
Đảng thì lực lượng trí thức là những người hoạt  
động trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, lao  
động trí óc, có chuyên môn sâu, xuất thân từ  
mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội và hoạt  
động trong mọi lĩnh vực, ngành nghề. Ngay từ  
Đại hội Đảng II đã thể hiện nhất quán quan  
điểm này, họ là những nhà khoa học tự nhiên  
và khoa học xã hội, các viện sĩ, giáo sư, phó  
giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân, kỹ sư, kiến  
trúc sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc,  
luật sư, nghệ sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà điêu khắc,  
nhà ngôn ngữ, nhà toán học, nhà hóa học, nhà  
vật lý học, nhà văn, nhà thơ, nhà thiết kế, một  
bộ phận lớn công chức, viên chức, các nhà sáng  
chế, phát minh, sáng tác, sáng tạo… Hội nghị  
Trung ương X tiếp tục khẳng định trí thức là  
“những người lao động trí óc…” là bước kế  
thừa tư tưởng về trí thức trong lịch sử của  
Đảng. Đây là một quan điểm phù hợp với trình  
độ và giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện  
nay, thuận lợi cho việc tập hợp, tổ chức và phát  
huy sức mạnh của những người có trình độ  
trong xã hội. Đồng thời, là một đặc trưng của  
trí thức xã hội chủ nghĩa, mà theo V.I.Lê-nin,  
“tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức, để dịch  
những danh từ Đức Literat, Literatentum là  
những danh từ có nghĩa bao hàm không chỉ các  
nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả  
mọi người có học thức, các đại biểu của lao  
động trí óc…” [11, tr.372]. Về đặc điểm, lực  
lượng trí thức Việt Nam trong quan niệm của  
Đảng tuy có sự khác nhau về trình độ, cơ cấu  
nghề nghiệp, về số lượng và chất lượng nhưng  
dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng đều là lực  
lượng đại diện cho trí tuệ của nhân dân và dân  
tộc, cho trình độ lao động phức tạp, lao động  
sáng tạo và là một trong những động lực quan  
trọng nhất thúc đẩy sự phát triển, sự phồn vinh  
2.2. Nội dung cơ bản trong quan điểm về trí  
thức tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây  
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Trước hết, về quan niệm trí thức, Nghị  
quyết Hội nghị Trung ương VII đã đề cập đến  
những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí  
thức Việt Nam hiện nay thông qua khái niệm trí  
thức là “những người lao động trí óc, có trình  
độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất  
định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo,  
truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những  
sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối  
với xã hội”. Trí thức là vấn đề rộng lớn, không  
chỉ gắn liền với lịch sử đất nước mà còn gắn  
liền với mọi mặt đời sống xã hội. Quan niệm  
trên cho thấy cái nhìn toàn diện, phù hợp với  
trình độ hiện nay của đất nước cũng như của  
khu vực và thế giới. Nghị quyết tập trung một  
số nội dung chính là khẳng định quan điểm của  
Đảng về vấn đề trí thức, xác định một số đặc  
điểm cơ bản làm cơ sở cho việc đề xuất mục  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
của đất nước. Về vai trò, ngay phần đầu Nghị  
quyết đã nêu rõ vị trí, vai trò của lực lượng trí  
thức với sự phát triển của đất nước, đó là:  
“Mục tiêu sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình  
trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một  
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm  
2020 đòi hỏi phải lựa chọn con đường rút  
ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn  
lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là  
năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức” [11,  
tr.81]. Thực tiễn đã cho thấy, trong mọi thời  
đại, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt trong  
sáng tạo và truyền bá tri thức. Trong xã hội  
hiện đại ngày nay, lực lượng trí thức càng trở  
thành nguồn lực đặc biệt quan trọng trong  
chiến lược phát triển, tạo nên sức mạnh của  
mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam,  
phát huy vai trò lực lượng trí thức là nhân tố  
quan trọng quyết định thắng lợi sự nghiệp đổi  
mới của đất nước. Nghị quyết xác định rõ ba  
quan điểm chỉ đạo. Một là, trí thức Việt Nam là  
lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng  
trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây  
dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa  
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.  
Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực  
tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của  
đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng  
và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị.  
Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho  
phát triển bền vững. Hai là, xây dựng đội ngũ  
trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội,  
của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm  
của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định.  
Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc  
và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao  
phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên  
môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của  
đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Ba là, thực hành  
dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng  
trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí  
thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội  
công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi trường  
và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề  
nghiệp của lực lượng trí thức. Trọng dụng lực  
lượng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm  
chất, năng lực và kết quả cống hiến, có chính  
sách đặc biệt với nhân tài của đất nước.  
Nghị quyết đã thẳng thắn nhìn nhận một số  
những hạn chế, yếu kém của đội ngũ trí thức và  
những hạn chế, khuyết điểm của công tác xây  
dựng đội ngũ trí thức của Đảng, Nhà nước mà  
chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan như sự yếu  
kém của một số cấp ủy Đảng, chính quyền, sự  
thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý, những định  
kiến… là những lực cản lớn đối với sự phát triển  
của trí thức và gây hạn chế vai trò của họ tới  
phát triển và tiến bộ xã hội.  
Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về  
vấn đề trí thức quan hệ biện chứng với tiến  
trình cách mạng của dân tộc. Từ Hội nghị  
Trung ương VII (khóa X), các vấn đề liên quan  
đến ưu tiên phát triển, bảo vệ và tạo môi trường,  
điều kiện thuận lợi để lực lượng trí thức phát  
triển và cống hiến tài năng đã ngày càng cởi  
mở. Ngày càng có nhiều trí thức cùng các công  
trình khoa học tầm cỡ, có vai trò đặc biệt quan  
trọng trong phát triển các mặt của đời sống xã  
hội. Nghị quyết Trung ương VII cho thấy sự  
sáng suốt, kịp thời trong công tác lãnh đạo của  
Đảng trước yêu cầu của thực tiễn, đang ngày  
càng đi sâu vào đời sống xã hội và được thực  
tiễn cách mạng khẳng định là một khâu đột phá  
quan trọng trong hệ thống chủ trương, chính  
sách của Đảng giai đoạn hiện nay. Tổng kết 30  
năm đổi mới đất nước và 5 năm thực hiện  
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ  
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển  
năm 2011) và chiến lược phát triển kinh tế - xã  
hội 2011-2020, tầm quan trọng của vấn đề trí  
thức đối với sự phát triển của đất nước tiếp tục  
được Đại hội XII khẳng định: “Xây dựng đội  
ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng  
cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tôn  
trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Đình Ninh  
động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức  
trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực  
và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí  
tuệ, đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng những cống  
hiến của trí thức. Có cơ chế, chính sách đặc  
biệt để thu hút nhân tài đất nước. Coi trọng vai  
trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các  
cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch  
định đường lối, chủ trương của Đảng, chính  
sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án  
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội” [7, tr.161-162].  
Sự phát triển của kinh tế tri thức ngày nay  
thức trong Nghị quyết Trung ương VII thực sự  
là tiền đề, là định hướng quan trọng để Đại hội  
đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng  
định: “Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ  
cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên  
gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành  
nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn.  
Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa  
dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát  
triển của các lĩnh vực, ngành nghề” [6, tr.130].  
Điều đó cũng được thể hiện rõ trong cương lĩnh  
cũng như trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn  
quốc lần thứ XII của Đảng, rằng: “Nhà nước ta  
là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của  
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả  
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền  
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với  
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng  
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đổi mới căn bản  
và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển,  
ứng dụng khoa học - công nghệ; phát huy vai  
trò quốc sách hàng đầu của giáo dục - đào tạo,  
khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp đổi  
mới và phát triển đất nước” [6, tr.85].  
đang chuyển các nền kinh tế từ dựa vào tài  
nguyên và lao động là chính sang nền kinh tế  
dựa vào trí tuệ, con người ngày càng trở thành  
yếu tố quan trọng nhất. Hiện nay, Việt Nam là  
một trong những quốc gia vẫn đang trong quá  
trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp,  
nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức lao động, tài  
nguyên thô sang nền kinh tế công nghiệp phát  
triển. Mặc dù, đất nước đã ra khỏi tình trạng  
kém phát triển, nhưng sự nghiệp phát triển kinh  
tế, xã hội, văn hóa của đất nước, theo định  
hướng xã hội chủ nghĩa đang ngày càng đòi hỏi  
phải sử dụng, phát huy hiệu quả trí tuệ của tầng  
lớp trí thức. Nếu Đảng và Nhà nước ta có chính  
sách hợp lý, khoa học thì chúng ta sẽ phát huy  
tốt tiềm năng của lực lượng trí thức, sớm đạt  
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân  
chủ, công bằng, văn minh. Với tư duy đổi mới,  
nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ và nói đúng sự  
thật, từ quan điểm, đường lối chính sách và sự  
đánh giá của Đảng tại Hội nghị Trung ương VII  
(khóa X) về mặt lý luận đối với trí thức cùng  
với những đánh giá về thành tựu, hạn chế, yếu  
kém, những nguyên nhân chủ quan và khách  
quan dẫn đến những thành tựu hạn chế đó trong  
công tác trí thức của Đảng, những giải pháp  
xây dựng và phát triển lực lượng trí thức mà  
Nghị quyết Trung ương VII đưa ra là một bước  
tiến quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn  
trong việc giải quyết vấn đề trí thức. Những  
vấn đề lý luận và thực tiễn trên về lực lượng trí  
3. KẾT LUẬN  
Có thể nói, từ những quan điểm nhiệm vụ  
và giải pháp trong công tác lãnh đạo của Đảng  
về trí thức tại Hội nghị Trung ương VII và các  
văn kiện tiếp theo, đến nay Đảng và Nhà nước  
đã hiện thực hóa thành nhiều giải pháp cụ thể  
trên cơ sở đi sâu nắm bắt suy nghĩ, tâm tư,  
tình cảm, nguyện vọng của lực lượng trí thức  
nhằm khai thác mặt mạnh của đội ngũ trí thức.  
Từng bước đặt đội ngũ trí thức vào đúng vị trí,  
sở trường để họ có thể phát huy được năng lực  
tối đa, tạo ra những đóng góp lớn nhất. Đảng  
và Nhà nước thực hiện dân chủ ngày càng  
rộng rãi, chân thành đối với trí thức, sẵn sàng  
lắng nghe và xem xét thấu đáo những ý kiến  
mang tính phản biện của trí thức. Các chủ  
trương của Đảng đã được Nhà nước cụ thể hóa  
thông qua hệ thống pháp luật hiện hành, thể  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 26, Tháng 03 - 2021  
hiện trong nhiều bộ luật như Bộ Luật Lao  
động, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Khoa học và  
Công nghệ, Luật Giáo dục... Qua đó, các vấn  
đề liên quan đến ưu tiên phát triển, bảo vệ và  
tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để lực  
lượng trí thức phát triển và cống hiến tài năng  
đã ngày càng rộng mở. Ngày càng có nhiều trí  
thức cùng các công trình khoa học, có vai trò  
đặc biệt quan trọng trong phát triển các mặt  
của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương  
VII đang ngày càng đi sâu vào đời sống xã hội  
và được thực tiễn cách mạng khẳng định là  
một khâu đột phá quan trọng trong hệ thống  
chủ trương, chính sách của Đảng thời kỳ đổi  
mới. Con người với tư cách là chủ thể xã hội,  
đồng thời là chủ thể một loại tài nguyên đặc  
biệt, đó là năng lực sáng tạo. Phát triển đội  
ngũ trí thức là một biện pháp cơ bản, có ý  
nghĩa quyết định trực tiếp nhằm tăng cường  
khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động  
quốc gia. Đồng thời, xây dựng đội ngũ trí thức  
Việt Nam trong thời kỳ mới với một quan  
điểm đúng đắn, sáng suốt về việc sử dụng con  
người, sử dụng trí thức sẽ góp phần quan trọng  
vào xây dựng và phát triển đất nước. Đây là  
vấn đề có tính quy luật của mọi quốc gia, có ý  
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những nước  
đang ở quá trình phát triển như Việt Nam.  
Quán triệt và thực hiện thành công Nghị quyết  
của Hội nghị Trung ương VII, cần tiếp tục coi  
xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức vừa là  
một giải pháp đột phá, đồng thời là mục tiêu  
quan trọng của các chính sách, chiến lược,  
chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế -  
xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Toàn tập, tập 47, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương  
khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính  
trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng  
Trung ương Đảng, Hà Nội.  
[8] Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2013), Thân Nhân Trung “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”,  
Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[10] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[11] V.I.Lê-nin (2005), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 01-3-2021. Ngày biên tập xong: 12-3-2021. Duyệt đăng: 25-3-2021  
12  
pdf 6 trang Thùy Anh 19520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự phát triển quan điểm về trí thức trong thời kỳ đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_phat_trien_quan_diem_ve_tri_thuc_trong_thoi_ky_doi_moi_cu.pdf