Đóng góp của trí thức yêu nước trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Nam Kỳ thập niên đầu thế kỷ XX

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 73 (01/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
ĐÓNG GÓP CỦA TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TRONG PHONG TRÀO  
ĐÔNG DU VÀ DUY TÂN Ở NAM KỲ THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX  
The contribution of patriotic scholars in the Journey to the East and the  
Modernization movements in the South in the first decade of the 20th century  
TS. Trần Thị Ánh  
Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Đầu thế kỷ XX, qua làn sóng Tân thư, Tân văn, trí thức yêu nước Nam Kỳ đã mạnh dạn tiếp thu tư  
tưởng dân chủ tư sản phương Tây, khởi xướng, lãnh đạo phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp với  
nhiều hình thức phong phú. Trí thức yêu nước Nam Kỳ đã có những đóng góp tích cực trong cuộc vận  
động Đông Du và Duy Tân, làm cho Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ diễn ra mạnh mẽ, góp phần quan  
trọng vào công cuộc thực sản hưng nghiệp, chấn dân khí, nâng cao dân trí, tác động tích cực đến sự phát  
triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nam Kỳ.  
Từ khóa: Duy Tân, Đông Du, Minh Tân, tư tưởng dân chủ tư sản, trí thức Nam Kỳ  
ABSTRACT  
At the beginning of the twentieth century, through movements such as Tân thư (contemporary  
publications), Tân văn (contemporary literature), patriotic scholars of the Cochinchina had proactively  
absorbed the Western bourgeois democracy ideology, initiated and led the movement to fight against  
French colonialism with various means and avenues of action. Patriotic scholars in the South had  
positively contributed to the Đông Du (Journey to the East) and Duy Tân (Modernization) movements,  
helping the Đông Du movement reach a strong level of activity, playing an important part in farming  
production and career building, uplifting the people’s morale, improving the people’s knowledge,  
having a positive impact on the economic, cultural and social development in Cochinchina.  
Keywords: Duy Tân (Modernization), Đông Du (Journey to the East), Minh Tân, Western bourgeois  
democracy ideology, Cochinchinese scholars  
văn hóa Nam Bộ, trí thức yêu nước Nam  
Kỳ luôn nhạy bén, chủ động tiếp thu tư  
tưởng cứu nước mới, tiếp thu và truyền bá  
những yếu tố văn hóa tích cực, tiến bộ,  
thực hiện hoài bão đưa dân tộc tiến cùng  
thời đại. Phong trào Minh Tân (Minh đức  
Tân dân) diễn ra ở Nam Kỳ nhằm hưởng  
ứng Phong trào Đông Du và Duy Tân,  
1. Đặt vấn đề  
Trong tiến trình lịch sử, trí thức Việt  
Nam nói chung, trí thức Nam Kỳ nói riêng  
luôn có vai trò quan trọng trong sự nghiệp  
kiến thiết và xây dựng đất nước. Họ là lực  
lượng tiên phong, khởi xướng, tổ chức,  
lãnh đạo các phong trào chính trị, văn hóa.  
Mang trong mình sự khoáng đạt của  
17  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
trong đó có những đóng góp quan trọng  
của đội ngũ trí thức yêu nước trên vùng  
đất này.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Đội ngũ trí thức yêu nước ở Nam  
Kỳ đầu thế kỷ XX  
của các trí thức nho học yêu nước trong  
nhân dân. Trong hơn 20 năm đầu xâm  
chiếm Nam Kỳ, ngoài việc thành lập một  
số trường tiểu học để dạy chữ Quốc ngữ và  
Toán cho học sinh, Pháp đã cho mở một số  
trường thông ngôn đào tạo những người  
làm công tác thông dịch, phiên dịch như  
Collège d’Adran còn gọi là Trường Bá Đa  
Lộc (1861); Trường An Nam còn gọi là  
Trường Thông ngôn (Collège Annamite  
hay Collège des interprètes, 1862). Đào tạo  
giáo viên và công chức có Trường Sư  
phạm thuộc địa (École Normale Coloniale,  
1871). Trường Hậu bổ (Collège des  
Stagiaires, 1873) đào tạo nhân viên hành  
chính cho chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam  
Kỳ (tham gia giảng dạy tại trường này có  
một số trí thức như Trương Vĩnh Ký,  
Trương Minh Ký). Chasseloup Laubat2 là  
trường trung học được xây dựng sớm nhất  
(1874), dạy học cho cả con em người Pháp,  
con em viên chức làm việc cho Pháp và  
con em một số gia đình người Việt, quy tụ  
được nhiều học sinh ưu tú của đất Nam Kỳ  
thời đó như Cao Triều Phát, Nguyễn An  
Ninh, Phan Văn Chương, Trần Văn Giàu,  
Nguyễn Văn Hưởng, Lưu Văn Lang, Phạm  
Quang Lễ3, v.v. Một số trường như Trường  
Bá Đa Lộc, Trường tư thục Lasan Taberd4  
cũng đã đào tạo được nhiều trí thức tân  
học, bổ sung vào lực lượng công chức  
người bản xứ trong bộ máy cai trị của  
Pháp.  
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX,  
dưới ảnh hưởng của chính sách cai trị của  
thực dân Pháp và sự du nhập làn sóng tư  
tưởng tiến bộ từ bên ngoài vào Việt Nam,  
nền văn hóa cổ truyền Việt Nam đã có sự  
tiếp xúc mạnh mẽ với văn hóa phương Tây.  
Nhận thức và tư tưởng của giới trí thức  
cũng có những chuyển biến lớn. Trước ảnh  
hưởng của làn sóng văn minh mới, một bộ  
phận sĩ phu tuy xuất thân từ “cửa Khổng  
sân Trình”, tinh thông Hán học, nhưng vốn  
đã chứng kiến sự thất bại của ý thức hệ  
Nho giáo trong nhiệm vụ giải phóng dân  
tộc, đã mạnh dạn tiếp thu những tư tưởng  
mới tiến bộ, bước lên vũ đài chính trị, tiếp  
tục giữ vai trò tiên phong trong phong trào  
yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược.  
Tiêu biểu cho thế hệ sĩ phu cấp tiến ở Nam  
Kỳ giai đoạn này, phải kể đến Đặng Thúc  
Liêng, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An  
Khương, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn Quang  
Diêu, v.v.  
Bên cạnh lực lượng trí thức Nho học  
tiến bộ, bộ phận trí thức tân học ở Nam Kỳ  
cũng dần hình thành và ngày càng phát  
triển đông đảo. Đó là kết quả của quá trình  
chính quyền Pháp đầu tư phát triển nền  
giáo dục Tây học, thay thế cho nền giáo  
dục truyền thống ở đây nhằm mục đích đào  
tạo một lực lượng lớn trí thức phục vụ cho  
công cuộc cai trị lâu dài của người Pháp.  
Sau khi chiếm Lục tỉnh Nam Kỳ,  
ngoài việc bỏ hẳn kỳ thi Hương1, chính  
quyền Pháp cho mở một số trường học, đẩy  
mạnh truyền bá chữ Quốc ngữ và chữ Pháp  
nhằm loại bỏ chữ Hán cũng như ảnh hưởng  
Sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách  
giáo dục, cùng với hai cuộc cải cách giáo  
dục ở Đông Dương dưới thời Toàn quyền  
Paul Beau và Albert Sarraut vào các năm  
1906 và 1917, nền giáo dục tân học ở Nam  
Kỳ đã có những bước phát triển mới. Đặc  
biệt, sau cải cách giáo dục lần thứ hai  
(1917), nền giáo dục Nho học bị xóa bỏ,  
thay vào đó là hai hệ thống trường Pháp và  
18  
TRẦN THỊ ÁNH  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
trường Pháp - Việt (gồm các bậc: tiểu học,  
trung học, cao đẳng hay đại học và các  
trường thực nghiệp). Ở bậc cao đẳng và đại  
học, Trường Đại học Đông Dương và  
nhiều trường cao đẳng được xây dựng như  
Cao đẳng Sư phạm, Công chính, Thương  
mại, Thú y, Canh nông… với số lượng sinh  
viên ngày càng tăng, đào tạo được một đội  
ngũ trí thức tân học với trình độ cao và số  
lượng ngày càng đông đảo.  
Đầu tư phát triển nền giáo dục thực  
dân từ rất sớm ở Nam Kỳ, người Pháp  
muốn hướng đến mục tiêu xóa bỏ hoàn  
toàn Nho học, đào tạo đội ngũ thông ngôn,  
quan cai trị thuộc địa và chuyên viên lành  
nghề làm tay sai phục vụ cho chính sách  
cai trị và bóc lột lâu dài của chính quyền  
thực dân, đồng thời truyền bá văn minh  
phương Tây, phục vụ đắc lực cho chính  
sách đồng hóa của chính quyền thực dân  
đối với thuộc địa. Tuy nhiên, trong số  
những trí thức tân học được đào tạo từ nhà  
trường thực dân, có người ra làm việc cho  
Pháp, nhưng cũng có không ít thanh niên  
trí thức tuy học ở trường Tây hoặc sang  
Tây du học (theo diện tự do hoặc theo học  
bổng của chính phủ Pháp) trở về, với tinh  
thần yêu nước đã tham gia tích cực vào  
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều  
này rõ ràng trái với chủ ý của người Pháp  
khi đầu tư phát triển giáo dục ở Nam Kỳ  
nói riêng và Việt Nam nói chung.  
thuộc địa của thực dân Pháp, đã trở thành  
cơ sở và là một trong những nguyên nhân  
quan trọng dẫn đến những thay đổi trong  
nhận thức, tư tưởng của các thế hệ thanh  
niên trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ  
đây, lớp thanh niên trí thức đương thời đã  
có được nhận thức và so sánh về sức  
mạnh cũng như ưu thế của kỹ thuật và văn  
minh phương Tây so với văn minh nông  
nghiệp Á Đông. Thức thời, tiếp nhận cái  
mới, nhưng tỉnh táo trước âm mưu và thủ  
đoạn của Pháp, nhiều trí thức Nam Kỳ  
vốn trưởng thành từ nhà trường thực dân,  
cùng với đội ngũ sĩ phu cấp tiến mạnh  
dạn tiếp thu những tư tưởng cách mạng  
tiến bộ, tích cực tham gia vào cuộc vận  
động cứu nước, trở thành lực lượng đóng  
vai trò quan trọng trong phong trào dân  
tộc dân chủ ở Nam Kỳ trong những thập  
niên đầu của thế kỷ XX với nhiều hình  
thức đấu tranh phong phú, sôi nổi, mới  
mẻ và tích cực.  
Đầu thế kỷ XX, trong lúc giới trí thức  
đương thời trăn trở với câu hỏi nguyên  
nhân mất nước và con đường cứu nước,  
qua một số sách báo như Tân thư, Tân văn  
được du nhập chủ yếu từ Trung Hoa,  
những trào lưu tư tưởng tiến bộ của phong  
trào cách mạng từ bên ngoài dội mạnh vào  
Việt Nam, tác động to lớn đến sự chuyển  
biến trong nhận thức và tư tưởng của trí  
thức trong nước. Trước hết, phải kể đến  
ánh sáng của cuộc Đại cách mạng tư sản  
Pháp (1789) và các thuyết về “nhân đạo”,  
“dân quyền” của giai cấp tư sản Pháp với  
các đại biểu tiến bộ như Montesquieu,  
Rousseau, Voltaire, v.v. Tiếp đến là làn  
sóng “Châu Á thức tỉnh” với cuộc Duy tân  
Minh Trị ở Nhật Bản (1868), cuộc vận  
động duy tân ở Trung Quốc (1898), cuộc  
vận động cách mạng của Tôn Trung Sơn,  
đỉnh cao là Cách mạng Tân Hợi (1911), v.v.  
Tuy vẫn nhất quán với chính sách  
đồng hóa, ngu dân, nhưng chương trình  
giáo dục của nhà trường thực dân ít nhiều  
thể hiện mặt tích cực trong việc rèn luyện  
cho học sinh ý thức học tập và kỷ luật,  
khả năng tư duy khoa học, thói quen suy  
nghĩ và hành động một cách độc lập, chủ  
động, sáng tạo. Cùng với đó, việc tiếp cận  
khoa học, kỹ nghệ của phương Tây được  
đưa vào Việt Nam qua hai cuộc khai thác  
19  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
Tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng  
đấu tranh sinh tồn là hai nội dung cơ bản  
được thể hiện rất rõ trong Tân thư và Tân  
văn. Các nhà Nho yêu nước như Phan Bội  
Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can,  
Nguyễn Quyền, Trần Quý Cáp, Huỳnh  
Thúc Kháng… là những sĩ phu đầu tiên đã  
tìm thấy sự liên quan giữa hai nội dung này  
với hai nhiệm vụ chống phong kiến và  
chống đế quốc ở Việt Nam lúc bấy giờ.  
Trong Bức thư bí mật gửi Kỳ Ngoại Hầu  
Cường Để, Huỳnh Thúc Kháng đã đánh giá  
rất cao ảnh hưởng của Tân thư, Tân văn  
đối với sĩ phu đương thời khi đi tìm câu trả  
lời cho con đường cứu nước mới: “Được  
đọc loại sách báo nói trên như trong buồng  
tối, chợt thấy tia sáng lọt vào, những học  
thuyết mới “cạnh tranh sinh tồn”, “nhân  
quyền tự do” gần chiếm cả cái chủ đích  
môn học khoa cử ngày trước, mà một tiếng  
sét nổ đùng, có sức kích thích mạnh  
nhất…” (Huỳnh Thúc Kháng, 1957, tr.36).  
Làn sóng Tân thư, Tân văn, cùng với  
tập Trung Quốc và Nhật Bản, khởi xướng  
con đường cứu nước mới để tìm con đường  
đi mới cho dân tộc. Phong trào Đông Du,  
Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân ở Bắc  
Kỳ, Trung Kỳ và Minh Tân ở Nam Kỳ diễn  
ra đầu thế kỷ XX vừa là sự tiếp nối những  
hoài bão canh tân của các sĩ phu lớp trước  
(như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ  
Trạch...) chưa thành hiện thực, vừa là kết  
quả của sự tiếp thu những tư tưởng mới  
mẻ, tiến bộ qua Tân thư và Tân văn. Riêng  
trí thức yêu nước Nam Kỳ, trong đó có trí  
thức tân học như Trần Chánh Chiếu và một  
số sĩ phu cấp tiến như Huỳnh Đình Điển,  
Nguyễn An Khương, Nguyễn Quang Diêu,  
Nguyễn Thần Hiến… là lớp trí thức sớm  
tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, hưởng  
ứng tích cực và có những đóng góp quan  
trọng trong phong trào Đông Du và Duy  
Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.  
2.2. Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng xu  
hướng cứu nước của Phan Bội Châu và  
Phan Châu Trinh  
tiếng dội của phong trào “Châu Á thức  
tỉnh” đã đem lại sự chuyển biến trong nhận  
thức chính trị và những quan niệm mới mẻ  
cho một bộ phận sĩ phu thức thời Việt Nam  
đầu thế kỷ XX. Khi tiếng súng Cần Vương  
chấm dứt, giữa lúc các sĩ phu yêu nước  
không khỏi bùi ngùi chứng kiến sự bất lực  
của khuynh hướng cứu nước theo lập  
trường phong kiến, thì Tân thư, Tân văn  
được truyền bá vào Việt Nam “như là một  
hồi chuông tỉnh mộng, một ánh sáng soi  
đường” (Chương Thâu, 2007, tr.198) cho  
các Nho sĩ yêu nước đương thời. Với lòng  
yêu nước, thức thời và sự nhạy bén trước  
thời cuộc, các sĩ phu như Phan Bội Châu,  
Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh  
Thúc Kháng… đã hồ hởi đón nhận tư  
tưởng cứu nước mới, mạnh dạn vượt qua  
rào cản của hệ tư tưởng phong kiến, học  
2.2.1. Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng  
phong trào Đông Du  
Phong trào Đông Du do Phan Bội  
Châu cùng các sĩ phu yêu nước khởi xướng  
nhằm vận động đưa thanh niên yêu nước  
Việt Nam du học nước ngoài, đặc biệt sang  
Nhật Bản để học hỏi tấm gương tự cường  
của nước Nhật, dựa vào Nhật để mưu cầu  
thoát khỏi ách thống trị của thực dân. Để  
có tiền của chi dùng cho phong trào Đông  
Du, theo gợi ý của Tiểu La Nguyễn Thành  
- một yếu nhân của Duy Tân Hội ở Quảng  
Nam, Phan Bội Châu đã chú ý đến các nhà  
hào phú Nam Kỳ hào sảng, giàu lòng yêu  
nước, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp  
chung. Năm 1903, Phan Bội Châu đã thực  
hiện chuyến Nam hành để vận động cho  
Đông Du, tiếp xúc trực tiếp với các nhân sĩ  
Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng, Nguyễn  
20  
TRẦN THỊ ÁNH  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Thần Hiến, Bùi Chi Nhuận… bước đầu xác  
lập mối quan hệ với thành phần trí thức,  
điền chủ giàu có ở Nam Kỳ. Đây là sự kiện  
có ý nghĩa rất lớn đối với phong trào Đông  
Du và cuộc vận động Duy Tân sau này.  
Phong trào Đông Du bắt đầu ở Bắc và  
Trung Kỳ vào tháng 7/1905. Dưới tác động  
của Ai cáo Nam Kỳ phụ lão cùng với nhiều  
tài liệu tuyên truyền khác của Phan Bội  
Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để5 gửi từ  
nước ngoài về và được Trần Chánh Chiếu  
phổ biến, đến năm 1907 phong trào lan  
rộng đến Nam Kỳ. Dưới hình thức của  
cuộc vận động Minh Tân, các chí sĩ đầu  
tiên tham gia phong trào như Trần Chánh  
Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần  
Hiến, Đặng Thúc Liêng, Huỳnh Đình  
Điển... “đều nhờ có tài, có của, có gan nên  
phong trào nảy nở rất mau” (Nguyễn Văn  
Hầu, 1974, tr.32), đã đóng góp một phần  
gia sản rất lớn, thành lập nhiều cơ sở kinh  
tài, cung cấp tiền của cho thanh niên sang  
Nhật du học cũng như các hoạt động bí mật  
của phong trào. Phan Bội Châu đã ghi nhận  
đóng góp của Nam Kỳ cho Đông Du: “anh  
em Nam Kỳ giúp nhiều lắm” và “hậu viện  
trông về Nam Kỳ cũng là thực sự” (Phan  
Bội Châu, 1973, tr.34, 104).  
Sau chuyến sang Hương Cảng hội đàm  
với Phan Bội Châu và gặp Kỳ Ngoại Hầu  
Cường Để ở Nhật Bản trở về (khoảng sau  
tháng 4/1907), Trần Chánh Chiếu bắt đầu  
vận động cho Đông Du. Ngoài việc cho  
con là Trần Chánh Tiết (còn gọi là Jules  
Tiết) sang Nhật Bản học tập, Trần Chánh  
Chiếu còn viết sách báo cổ súy công khai  
cho cuộc Minh Tân. Trong đó, có nhiều bài  
viết đăng trên hai tờ báo Nông Cổ Mín  
Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn trong giai đoạn  
ông làm chủ bút, kêu gọi các nhà hào phú,  
điền chủ hùn hạp thành lập các cơ sở kinh  
doanh công thương nghiệp, để huy động tài  
chính cho thanh niên đi du học. Bên cạnh  
việc thành lập Minh Tân Hội, Trần Chánh  
Chiếu còn đầu tư lập Nam Trung khách  
sạn6, vừa kinh doanh phòng nghỉ, vừa có  
nhà hàng bán cơm, rượu, có cả ban đón  
tiếp, hướng dẫn thanh niên xuất dương du  
học. Minh Tân khách sạn gồm các dịch vụ  
nhà hàng, kinh doanh phòng nghỉ, các cửa  
hiệu bán các mặt hàng cao cấp trong nước  
hoặc nhập từ nước ngoài, cũng là trụ sở hội  
họp của Hội Minh Tân. Nam Kỳ Minh Tân  
Công nghệ7 sản xuất diêm, xà bông nhằm  
cạnh tranh với sản phẩm của Hoa kiều.  
Những cơ sở kinh tài trên vừa là nơi kinh  
doanh, là nơi tập hợp các đồng chí và các  
du học sinh, đồng thời cũng là nơi phân  
phát tài liệu cách mạng tuyên truyền cho  
phong trào. Cuộc Minh Tân trong đó có  
hoạt động vận động tài chính, đưa thanh  
niên ưu tú đi du học do Trần Chánh Chiếu  
khởi xướng đã lôi cuốn rất nhiều trí thức  
yêu nước đương thời ở khắp các tỉnh Nam  
Kỳ tham gia, đóng góp nhiều công sức và  
tiền của cho phong trào.  
Ngoài việc cho Trần Chánh Chiếu  
mượn trụ sở lập Minh Tân khách sạn,  
Huỳnh Đình Điển còn là người đầu tiên  
xuất vốn xây dựng Nam Kỳ khách sạn,  
tham gia thành lập Nam Kỳ Minh Tân  
Công Nghệ nhằm cạnh tranh với tư bản  
Pháp và Hoa kiều. Nguyễn An Khương  
cũng bỏ vốn lập Chiêu Nam Lầu, giao cho  
người chị ruột là Nguyễn Thị Xuyên trông  
nom. Đây là cơ sở kinh tài đồng thời cũng  
là nơi tập kết đưa rước thanh niên sang  
Nhật du học.  
Nguyễn Thần Hiến cũng cho người  
con trai duy nhất là Nguyễn Như Bích sang  
Nhật du học, tích cực vận động thành lập  
Khuyến du học hội để vận động và tài trợ  
cho Đông Du. Ông đã góp một số tiền khá  
lớn vào quỹ du học sinh8, kết hợp hoạt  
21  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
động cùng với các cơ sở yêu nước của các  
trí thức Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng (Sa  
Đéc), Trần Chánh Chiếu (Sài Gòn),  
Nguyễn Quang Diêu (Đồng Tháp), Bùi Chi  
Nhuận (Long An), v.v. Nguyễn Thần Hiến  
còn sang tận Nhật Bản để thăm nom việc  
học hành của du học sinh và đưa nhiều du  
học sinh mới sang nhập học. Chí sĩ Nguyễn  
Quang Diêu hoạt động tích cực trong  
Khuyến du học hội của Nguyễn Thần Hiến,  
được rất nhiều người hưởng ứng. Có thể  
thấy rõ, những cuộc xuất dương cầu học ở  
Nam Kỳ vốn diễn ra từ trước, khi hưởng  
ứng Đông Du đã được gắn với mục tiêu  
cứu nước.  
Không nằm ngoài dự đoán của Phan  
Bội Châu và Tiểu La Nguyễn Thành, hoạt  
động tích cực và đóng góp to lớn của trí  
thức Nam Kỳ đã góp phần làm cho phong  
trào Đông Du diễn ra sôi nổi. Nam Kỳ là  
nơi có nguồn lực kinh tế lớn nhất nước, có  
nhiều nhà hằng sản, hằng tâm, là chỗ dựa  
kinh tài rất lớn và chủ yếu cho cuộc Đông  
Du. Theo ước tính của Phan Bội Châu, học  
phí huy động ở Nam Kỳ dồi dào hơn  
những nơi khác, còn số học sinh du học  
trên cả nước trong các năm 1907-1908  
“ước có 200 người: Nam Kỳ ước hơn 100  
người, Trung Kỳ ước 50 người, Bắc Kỳ  
ước hơn 40 người” (Phan Bội Châu, 1973,  
tr.104). Đây là một kết quả khá ấn tượng,  
bởi gần hai năm sau khi bùng nổ ở Bắc và  
Trung Kỳ, Phong trào Đông Du mới lan  
đến Nam Kỳ, trong khi đó, tài chính huy  
động được từ Nam Kỳ cũng như số lượng  
du học sinh ở đây là cao nhất nước (số học  
sinh du học ở Nam Kỳ hơn cả số học sinh  
du học ở Bắc và Trung Kỳ cộng lại). Qua  
nhận định của Phan Bội Châu và các con  
số nêu trên, có thể nhận thấy, phong trào  
Đông Du ở Nam Kỳ diễn ra rất sôi nổi,  
thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả ở Bắc và  
Trung Kỳ.  
Do sự cấu kết Nhật - Pháp, Phong trào  
Đông Du tan rã vào tháng 10/1908. Mặc dù  
vậy, tác động của Phong trào Đông Du là  
rất lớn và lâu dài. Trong quá trình vận động  
tài chính cho Đông Du, nhiều công ty công  
thương nghiệp, hội buôn ra đời với nhiều  
chủ nhân là trí thức yêu nước, sau khi  
Phong trào thất bại vẫn tiếp tục được  
khuếch trương, góp phần làm cho đời sống  
kinh tế, xã hội Nam Kỳ có những chuyển  
biến mới. Phong trào Đông Du đã trở thành  
một chất xúc tác, góp phần đẩy mạnh  
phong trào xuất dương cầu học vốn đã xuất  
hiện từ trước ở Nam Kỳ. Những trí thức trẻ  
từ Nam Kỳ đã mạnh dạn bước ra khỏi  
phạm vi châu Á, đến châu Âu và nhiều nơi  
khác trên thế giới, tìm kiếm con đường cứu  
nước mới để giải phóng dân tộc.  
2.2.2. Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng  
Phong trào Duy Tân  
Tiếp nối tư tưởng canh tân của các sĩ  
phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ,  
Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch... Phong  
trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh  
Thúc Kháng cùng một số sĩ phu cấp tiến  
khởi xướng cũng chủ trương canh tân đất  
nước, chống chế độ phong kiến, vận động  
xây dựng một nền học mới theo kiểu  
phương Tây, thực hiện lối sống mới văn  
minh hiện đại, dân chủ, truyền bá chữ  
Quốc ngữ, phát triển kinh tế công thương  
nghiệp dân tộc, làm cho đất nước phú  
cường và dân chủ trong khuôn khổ chế độ  
thuộc địa.  
Cũng như Phan Bội Châu, năm 1905,  
Phan Châu Trinh thực hiện Nam du để  
tuyên truyền chủ trương duy tân nhưng  
phải dừng chân ở Phan Thiết vì bị bệnh.  
Mặc dù vậy, từ cuối năm 1906 đến đầu  
năm 1907, phong trào từ Trung Kỳ cũng đã  
lan vào tận Nam Kỳ. Minh Tân Hội đã tổ  
22  
TRẦN THỊ ÁNH  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
chức nhiều hoạt động hưởng ứng Duy Tân  
như viết báo tuyên truyền, hô hào thực hiện  
nếp sống mới, kêu gọi nhân dân bài trừ hủ  
tục, bỏ tệ cờ bạc, nghiện hút, cổ động sử  
dụng chữ Quốc ngữ; kêu gọi mở các cơ sở  
công thương nghiệp để phát triển kinh tế và  
cũng để đóng góp tài chính cho Đông Du.  
Đến đây, cuộc Minh Tân do Trần Chánh  
Chiếu cùng với các trí thức yêu nước Nam  
Kỳ lãnh đạo đã kết hợp thực hiện được tư  
tưởng và mục đích của cả hai phong trào:  
Đông Du và Duy Tân.  
Sau khi sang Trung Quốc, Nhật Bản  
gặp Phan Bội Châu và Cường Để trở về,  
Trần Chánh Chiếu vừa bắt tay vào cuộc  
vận động Đông Du, vừa thực hiện tuyên  
truyền tư tưởng mới để góp phần canh tân  
đất nước. Hai tác phẩm Hương Cảng nhơn  
vật và Quảng Đông tỉnh thành phong cảnh  
của Trần Chánh Chiếu đã được ông cho in  
và phổ biến công khai, chỉ ra những công  
việc phải làm theo gương Duy Tân của  
Trung Quốc, bao gồm phát triển trường  
dạy học, phát triển công nghệ trong nước  
và mở mang trường quân sự dạy thủy quân,  
lục quân (Sơn Nam, 2009, tr.45).  
Sử dụng báo chí làm phương tiện cổ  
súy cho Minh Tân là phương thức đặc biệt  
và hiệu quả, góp phần làm cho cuộc vận  
động Duy Tân và Đông Du lan tỏa rộng  
khắp, nhất là trong giới trí thức và nhân  
dân thành thị. Để khuyến khích nhân dân  
sử dụng chữ Quốc ngữ, ngay trang đầu tiên  
của tờ Nông Cổ Mín Đàm, số 264 (ngày  
6/10/1906), Trần Chánh Chiếu đã cho đăng  
tin mở cuộc thi sáng tác truyện bằng chữ  
Quốc ngữ với tên gọi “Quốc âm thí cuộc”,  
hướng dẫn người dự thi “đặt ra một truyện  
tùy theo nhơn vật, phong tục trong xứ,  
dường như truyện có thiệt vậy… tốt khen  
xấu chê, phải có cang thường, luân lý,  
nhơn duyên, thiện ác, không đặng dùng  
việc dị đoan…” (Nông Cổ Mín Đàm, số  
264, ngày 6/10/1906). Cuộc thi vừa có tác  
dụng cổ động và phổ biến việc sử dụng chữ  
Quốc ngữ, vừa mang tính nhân văn và kêu  
gọi bài trừ hủ tục trong nhân dân.  
Bên cạnh việc cổ vũ nhân dân sống  
theo lối mới để bắt kịp đà tiến hóa của xã  
hội, các trí thức Nam Kỳ vẫn luôn ý thức  
giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa  
dân tộc. Ngoài việc kinh doanh khách sạn  
tài trợ cho Đông Du, Huỳnh Đình Điển còn  
đưa lên sân khấu của khách sạn Minh Tân  
loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử, tiền thân  
của bộ môn nghệ thuật sân khấu cải lương  
sau này. Huỳnh Đình Điển và Trần Chánh  
Chiếu cũng sử dụng khách sạn này làm trụ  
sở tổ chức các buổi diễn thuyết với các đề  
tài tiến bộ, tân dân (Nhiều tác giả, 2007,  
tr.46), kêu gọi nhân dân sửa đổi phong tục,  
học tập để phát triển dân trí, vừa tiếp thu  
học tập văn minh Âu Tây vừa giữ gìn  
truyền thống văn hóa dân tộc, tiến tới tự  
lực tự cường, thoát khỏi ách đô hộ của thực  
dân Pháp.  
Một chủ trương nữa của Minh Tân Hội  
nhằm hiện thực hóa phong trào cải cách  
kinh tế, văn hóa - tư tưởng ở Nam Kỳ là  
kêu gọi hùn vốn lập hội buôn, phát triển  
công thương nghiệp để cạnh tranh với tư  
bản nước ngoài (tư bản Pháp, Hoa, Ấn),  
giúp giới làm ăn người Việt khẳng định  
khả năng kinh doanh và vị thế trong các  
hoạt động kinh tế. Trên Lục Tỉnh Tân Văn  
số 46 (ngày 4/10/1908), đăng quảng cáo  
Minh Tân Khách Sạn “có bán trà ngon,  
nước mắm Phú Quốc đựng ve, chiếu, sáp,  
savon và tạp hóa…” (Sơn Nam, 2009,  
tr.187), Chiêu Nam Lầu do Nguyễn An  
Khương thành lập tại số 49 đường Kinh  
Lấp, Sài Gòn kinh doanh dịch vụ nhà hàng  
khách sạn nhằm cạnh tranh với các cơ sở  
Hoa Kiều: “… hễ khi nào muốn đến tiệm  
23  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
Tiên lầu mà thết đãi anh em... xin ráng mà  
nhớ đến Chiêu Nam Lầu của đồng bào là  
Nguyễn An Khương… tốn tiền mà giúp  
đồng bào làm nên việc thì đồng bạc ấy còn  
ở bên nước ta, chẳng là hữu ích hơn gởi  
cho chúng nó đem về Tàu cất nhà sắm  
ruộng hay sao?” (Sơn Nam, 2009, tr.196).  
Ngoài ra, Lục Tỉnh Tân Văn còn đăng tin  
quảng cáo, kêu gọi hùn hạp thành lập nhiều  
cơ sở công thương nghiệp khác như Công  
ty Nhà in, Mỹ Tho Minh Tân túc mễ tổng  
cuộc, Nam Hòa công ty, Y Dược công  
ty.v.v. Có thể nói, tính đến thời điểm trước  
khi Hội Minh Tân ra đời, chưa bao giờ  
hoạt động công thương nghiệp ở Nam Kỳ  
lại diễn ra sôi nổi và phong phú đến như  
vậy. Rõ ràng, Trần Chánh Chiếu và các trí  
thức Nam Kỳ có vai trò quan trọng trong  
việc khuếch trương và làm cho phong trào  
chấn dân khí, nâng cao dân trí và thực sản  
hưng nghiệp lan tỏa, đi vào hiện thực ở  
khắp các tỉnh Nam Kỳ.  
Dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ  
tư sản phương Tây và Phong trào châu Á  
thức tỉnh, trí thức yêu nước Nam Kỳ cũng  
như đội ngũ trí thức yêu nước trên phạm vi  
cả nước đã nhận ra rằng, những hạn chế,  
yếu kém của đất nước về kinh tế, về trình  
độ dân trí là một trong những nguyên nhân  
dẫn đến mất tự do, dân chủ và sự thất bại  
trong cuộc đấu tranh giải phóng giống nòi.  
Với lòng yêu nước nhiệt thành, sự nhạy  
bén và thức thời, họ nhận thấy phải phú  
quốc, cường binh, thực sản hưng nghiệp để  
có được sức mạnh đương đầu với kẻ thù.  
Mặc dù diễn ra sôi nổi và tích cực,  
nhưng Minh Tân ở Nam Kỳ có kết cục  
cùng chung số phận với Phong trào Đông  
Du và Phong trào Duy Tân ở Bắc Kỳ và  
Trung Kỳ. Như đã nói ở trên, năm 1908,  
Nhật - Pháp cấu kết đàn áp, phong trào  
Đông Du thất bại. Trong khi đó, vào tháng  
10/1908, Trần Chánh Chiếu và một số  
nhân sĩ Minh Tân khác bị Pháp bắt, các cơ  
sở kinh tài và cơ quan báo chí của phong  
trào đều bị cấm hoạt động. Phong trào  
Minh Tân đến đây coi như bị dập tắt.  
3. Kết luận  
Nam Kỳ là vùng đất sớm chịu ách cai  
trị, bình định, khai thác thuộc địa của thực  
dân Pháp và cũng sớm tiếp cận nền văn  
minh phương Tây. Trí thức tân học ở Nam  
Kỳ lại ra đời sớm hơn so với Bắc và Trung  
Kỳ. Đây chính là những nhân tố tạo nên nét  
khác biệt về thành phần lãnh đạo, đặc điểm  
của phong trào yêu nước ở Nam Kỳ so với  
những vùng miền khác trên phạm vi cả  
nước. Nếu như giới sĩ phu cấp tiến là lực  
lượng lựa chọn, quyết định khuynh hướng  
dân chủ tư sản để tiếp tục con đường cứu  
nước qua hai cuộc vận động Đông Du và  
Duy Tân ở Bắc và Trung Kỳ; thì ở Nam  
Kỳ, sự kết hợp giữa hai thế hệ trí thức nho  
học cấp tiến và trí thức tân học trong  
Phong trào Minh Tân đã tạo nên một “gạch  
nối giữa hai thế kỷ”, cho thấy một sự tiếp  
nối và “chuyển giao thế hệ” rất đặc biệt  
trong phong trào yêu nước thập niên đầu  
thế kỷ XX trên vùng đất này. Điều đó  
chứng tỏ bước tiến vượt bậc trong nhận  
thức tư tưởng của thế hệ sĩ phu cấp tiến khi  
tiếp nhận những giá trị tiến bộ của thời đại  
- văn minh phương Tây và tư tưởng dân  
chủ tư sản, tìm ra một hướng đi mới cho  
dân tộc, đồng thời thể hiện vai trò quyết  
định của trí thức tân học đối với khuynh  
hướng dân chủ tư sản trong phong trào yêu  
nước ở Nam Kỳ cho đến trước khi Đảng  
Cộng sản Việt Nam ra đời (1930).  
Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ mang  
những sắc thái rất riêng mà Đông Du và  
Duy Tân ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ không có.  
Minh Tân cùng lúc thực hiện cả hai nhiệm  
vụ: Đông Du và Duy Tân với những hình  
24  
TRẦN THỊ ÁNH  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
thức mới mẻ, đặc biệt là tinh thần thực sản  
hưng nghiệp rất đậm nét ở Nam Kỳ. Rõ  
ràng, với sự tham gia, đóng góp của trí  
thức yêu nước Nam Kỳ, cùng với điều kiện  
kinh tế nổi trội của vùng đất này đã góp  
phần làm cho phong trào Đông Du ở Nam  
Kỳ diễn ra mạnh mẽ nhất so với các địa  
phương khác trên cả nước.  
Đông Du và Duy Tân thất bại, nhưng  
dư âm của hai phong trào này với tên gọi  
Minh Tân vẫn kéo dài với sự phát triển  
của các cơ sở kinh tài, ảnh hưởng sâu  
rộng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển  
kinh tế và văn hóa xã hội ở Nam Kỳ, góp  
phần dẫn đến sự hình thành tầng lớp tư  
sản dân tộc ở giai đoạn sau. Những cuộc  
xuất dương cầu học của thanh niên trí thức  
Nam Kỳ vẫn tiếp diễn, đến những chân  
trời rộng lớn hơn, khả dĩ hơn trong nhiệm  
vụ tìm ra con đường đúng đắn để giải  
phóng dân tộc.  
Cuộc Minh Tân ở Nam Kỳ cũng đã tạo  
ra một môi trường chính trị thuận lợi cho  
sự đón nhận khuynh hướng cứu nước mới,  
do Nguyễn Ái Quốc thông qua các học trò  
của Người truyền bá vào Việt Nam từ giữa  
thập niên 20 của thế kỷ XX: khuynh hướng  
cách mạng vô sản.  
Chú thích  
1 Từ năm 1813 đến năm 1864, có tất cả 20 khoa thi Hương được tổ chức ở Nam Kỳ, trong đó  
có 19 khoa thi được tổ chức ở trường thi Gia Định. Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định,  
trường thi này phải đóng cửa, nhà Nguyễn cho mở tiếp một khoa thi ở trường thi An Giang  
vào năm 1864 và đây cũng là khoa thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (Cao Xuân Dục, 1993,  
tr.80-90).  
2 Nay là Trường Lê Quý Đôn, tọa lạc tại số 110 đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1, Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
3 Phạm Quang Lễ được Trường Chasseloup Laubat cấp học bổng du học ở Pháp, trở thành kỹ  
sư và làm việc tại Pháp, Đức. Sau chuyến đi Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946), Phạm  
Quang Lễ theo Bác về nước tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến và được  
Bác đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa.  
4 Nay là Trường Trần Đại Nghĩa, tọa lạc tại số 20, Lý Tự Trọng, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.  
5 Tháng 5/1904, Duy Tân hội được thành lập với mục đích “khôi phục nước Việt Nam, lập ra  
một chính phủ độc lập”, nhiệm vụ trước mắt là khuếch trương thế lực về người và tài chính,  
chuẩn bị cho cuộc bạo động và ra ngoài cầu viện (Phan Bội Châu, 1973, tr.37-38). Mặc dù  
Kỳ Ngoại Hầu Cường Để được bầu làm Hội chủ, nhưng Phan Bội Châu chính là linh hồn của  
Duy Tân hội và Phong trào Đông Du. Những trí thức Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng,  
Nguyễn Thần Hiến, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu… chịu ảnh  
hưởng rất lớn tư tưởng của Phan Bội Châu.  
6 Nam Trung khách sạn tọa lạc ở số 4, đường Amiral Krantz (nay là đường Hàm Nghi), khai  
trương ngày 15/11/1907.  
7 Gilbert Chiếu chủ trương Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ là công ty “hùn ngân bổn vô hạn”,  
bắt đầu thu tiền kỳ thứ nhất vào tháng 2/1908. Nhiều trí thức Nam Kỳ cũng đã tham gia hùn  
hạp thành lập công ty như Nguyễn Viên Kiều, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn Thành Út… (Sơn  
Nam, 2009, tr.180-210).  
25  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
8 Trong thời gian từ 1908-1909, tổng số tiền Nguyễn Thần Hiến bỏ vào Khuyến du học hội là  
20.000 đồng Đông Dương, tương đương nửa triệu đồng năm 1960 (Nguyễn Văn Hầu, 1974,  
tr.33).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Phan Bội Châu. (1973). Phan Bội Châu niên biểu (Hồi kí của Phan Bội Châu). Nhóm  
nghiên cứu Sử - Địa xuất bản.  
Cao Xuân Dục. (Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Cao Tự Thanh hiệu đính và  
giới thiệu, 1993). Quốc triều hương khoa lục. NXB Thành phố Hồ Chí Minh.  
Trần Văn Giàu. (1975). Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách  
mạng tháng Tám. Tập II. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.  
Nguyễn Văn Hầu. (1974). Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu - Một lãnh tụ trọng yếu trong Phong  
trào Đông Du miền Nam. Hương Sen tái bản.  
Huỳnh Thúc Kháng. (1957). Bức thư bí mật của cụ Huỳnh Thúc Kháng trả lời cụ Kỳ Ngoại  
Hầu Cường Để. NXB Anh Minh.  
Sơn Nam. (2009). Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam. Miền Nam đầu thế kỷ XX -  
Thiên Địa Hội & Cuộc Minh Tân. NXB Trẻ.  
Nhiều tác giả. (2007). Phong trào Đông Du ở miền Nam. Tạp chí Xưa & Nay. NXB Văn  
hoá Sài Gòn.  
Nông Cổ Mín Đàm. Số 264 (ra ngày 6/10/1906). Phông Sưu tập tư liệu - Trung tâm Lưu  
trữ Quốc gia II.  
Chương Thâu. (2007). Góp phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước năm  
1945. Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin - Viện Văn hóa.  
Phạm Phúc Vĩnh. (2017). Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ (đầu thế kỷ XX). NXB Đại học  
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.  
Ngày nhận bài: 15/5/2020  
Biên tập xong: 15/01/2021  
Duyệt đăng: 20/01/2021  
26  
pdf 10 trang Thùy Anh 20780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đóng góp của trí thức yêu nước trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Nam Kỳ thập niên đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdong_gop_cua_tri_thuc_yeu_nuoc_trong_phong_trao_dong_du_va_d.pdf