Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP  
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM  
Mạch Quang Thắng(1)  
(1) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 21/5/2021; Ngày gửi phản biện: 25/5/2021; Chấp nhận đăng: 30/7/2021  
Liên hệ email: [email protected]  
Tóm tắt  
Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên những định hướng phát  
triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu  
quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Theo định hướng này cũng  
tức là vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  
Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa, của dân, do  
dân, vì dân  
Abstract  
HO CHI MINH’S THOUGHT ON CONSTRUCTION OF THE SOCIALIST  
LEGAL STATE IN VIETNAM  
The 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam has set forth the  
orientations for the development of the country in the new period, including the building  
and completion of the socialist rule of law state that is clean, strong, and lean, effective  
and efficient operation, serving the people and the development of the country.  
Following this orientation also means applying and developing Ho Chi Minh's thought  
on construction of socialist legal state in Vietnam.  
1. Đặt vấn đề  
Có hay không có tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền? Trong giới  
nghiên cứu Hồ Chí Minh, đã có một số người cho rằng có, có nội dung tư tưởng Hồ Chí  
Minh về nhà nước, nhưng về nhà nước pháp quyền thì không có; còn cái vế “xã hội chủ  
nghĩa” thì lại càng không có. Tôi cho rằng, trong hệ thống các nội dung của tư tưởng Hồ  
Chí Minh, có nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa”. Bài viết này bước đầu nêu lên nội dung đó.  
43  
2. Tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  
Chính quyền là một vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, nghĩa là chỉ  
khi giành được chính quyền thì lúc đó cuộc cách mạng xã hội mới được coi là thắng lợi.  
Nhưng, chỉ như thế thôi thì chưa rõ được nghĩa “nhà nước pháp quyền”. Thế nên, chỉ  
khi nào nhà nước nào đó hoạt động trên cơ sở pháp luật (luật cơ bản là Hiến pháp và các  
luật dưới Hiến pháp), vận hành theo đúng Hiến pháp và pháp luật thì mới được coi là  
nhà nước pháp quyền.  
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chính thức từ ngày 02/9/1945. Nó  
là kết quả từ thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản  
Đông Dương lãnh đạo. Lực lượng yêu nước Việt Nam đã đứng về phe Đồng minh  
chống phát xít, xóa bỏ ách thống trị của phát xít Nhật và lật nhào chế độ quân chủ  
phong kiến, lập nên nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước  
dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Về mặt pháp lý quốc tế mà nói, thì  
ngày 30/8/1945, khi tại cuộc mít tinh ở Ngọ Môn thành phố Huế, hoàng đế Bảo Đại đọc  
chiếu thoái vị để trở thành công dân Vĩnh Thụy, thì lúc đó mới chính thức (tuy là màn  
nghi thức) cáo chung cho sự tồn tại của chế độ phong kiến; thay thế nó là một chế độ  
chính trị hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam: chế độ dân chủ  
nhân dân, một chế độ do nhân dân làm chủ.  
Nhưng, bộ máy nhà nước lúc này chưa có sự bảo đảm của luật pháp, do đó, tất cả  
mới chỉ là lâm thời (Chính phủ lâm thời được cải tổ từ Ủy ban Giải phóng được lập ra tại  
Đại hội Quốc dân Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, tháng 8/1945. Chính phủ lâm thời này đã  
ra mắt quốc dân đồng bào chiều ngày 02/9/1945 tại cuộc mít tinh ở Vườn hoa (sau này  
gọi là Quảng trường) Ba Đình, Hà Nội với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ do Hồ Chí  
Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên đọc). Lúc này, theo Hội nghị Potsdam1, tháng 7  
và 8/1945, Đồng minh chống phát xít (Đại diện là Liên Xô, Anh, Mỹ) đã phân công quân  
Trung Hoa Dân quốc sẽ đến Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc và quân Anh sẽ đến Việt  
Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào nam để giải giáp quân phát xít Nhật. Thấy rất rõ tính yêu cầu  
cấp thiết của giá trị pháp lý cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho nên ngay sau  
mít tinh độc lập một ngày, tại cuộc họp Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Chủ tịch  
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh nêu ý kiến, đề nghị:  
“Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng  
hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”2 bầu ra Quốc hội, để rồi từ đó  
có bộ máy nhà nước chính thức, hợp Hiến, hợp pháp.  
Sau đó, những diễn biến ken dày cứ tiếp theo nhau một cách có bài bản, đúng theo  
thông lệ quốc tế.  
Cuộc bầu cử diễn ra bắt đầu từ tháng 12/1945, và đợt tập trung lớn nhất là vào ngày  
Tổng tuyển cử 06/01/1946, tuy gặp muôn vàn khó khăn, song đã đạt được kết quả tốt đẹp.  
Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, người dân từ 21 tuổi trở lên có sức khỏe tinh  
thần bình thường có quyền ứng cử và từ 18 tuổi trở lên có sức khỏe tinh thần bình thường  
44  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
thì có quyền bầu cử. Công dân Việt Nam, không phân biệt nam nữ, đảng phái, tôn giáo,  
tín ngưỡng, vùng miền, dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, giàu nghèo…, đều có quyền  
tham gia hoạt động này. Cả nước Việt Nam đã bầu ra được 333 đại biểu Quốc hội theo  
cách phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín với những quy định thật sự dân chủ.  
Quốc hội đã họp phiên đầu tiên ngày 02/3/1946 tại Hội trường Nhà hát Lớn, Hà Nội. Tại  
cuộc họp này, Quốc hội cho phép nhường 70 ghế không qua bầu cử cho các đại diện  
không đảng phái và đại diện một số đảng phái chính trị (333 đại biểu + 70 = 403 đại  
biểu). Cuộc họp đầu tiên của Quốc hội đầu tiên diễn ra chỉ khoảng 4 tiếng đồng hồ, nhưng  
đã hoàn thành những công việc có ý nghĩa cực kỳ to lớn: lập ra bộ máy Nhà nước chính  
thức và cử được những nhân sự của bộ máy đó, đáng chú ý nhất là lập được Chính phủ  
liên hiệp do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, mà trong thành phần có cả những đại điện lực  
lượng Việt Minh (cộng sản – đã tuyên bố tự giải tán ngày 11/11/1945, nhưng thực chất là  
rút vào hoạt động bí mật, chỉ còn tên công khai là Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông  
Dương), đại diện các đảng phái chính trị khác, kể cả các đảng chính trị đối lập với Việt  
Minh là Việt Quốc, Việt Cách…, có cả bộ trưởng không đảng phái.  
Nhưng, đến mức ấy thì Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa phải đã  
được hoàn bị/hoàn chỉnh theo giá trị pháp lý phổ quát của quốc tế. Cho nên, theo ý kiến  
đề nghị của Chủ tịch Chính phủ liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí  
Minh, Quốc hội đã lập ra Ban Soạn thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng  
hòa. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thảo  
luận và thông qua vào tháng 11/1946. Vậy là từ đây, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng  
hòa chính thức là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam  
Dân chủ Cộng hòa là Quốc hội lập hiến và lập quốc một cách chính thức, theo nghĩa  
không còn lâm thời nữa.  
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước pháp quyền, Nhà nước hợp  
hiến, hợp pháp, do Hồ Chí Minh làm “kiến trúc sư trưởng”, “tổng công trình sư”, ra đời  
một cách “bài bản” như thế. Và, Hồ Chí Minh, với trách nhiệm của mình, cùng với  
Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung đã lãnh đạo công cuộc xây dựng Nhà  
nước mới, theo cách gọi hiện nay, đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của  
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.  
Hồ Chí Minh, từ sớm, đã có quan điểm về xây dựng một nhà nước pháp quyền.  
Một trong những biểu hiện về điều này là trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam của  
nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp do Người thay mặt nhóm gửi đến Hội  
nghị Vécxai (Versailles, Pháp) năm 1919. Bản Yêu sách toát lên tinh thần quyền dân tộc  
tự quyết3. Đây là Hội nghị của các nước đế quốc trong phe Đồng Minh thắng trận của  
Thế chiến I (1914-1918) bàn nhiều việc, trong đó có việc xác nhận sự thất bại của Đức  
và các đồng minh của Đức; cùng nhau phân chia thị trường thế giới như là chiến lợi  
phẩm cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là chia cho Mỹ, Pháp, Anh. Một trong  
những người đồng chủ trì Hội nghị này là Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ  
V.Wilson (làm Tổng thống từ năm 1913 đến năm 1921). Tại Hội nghị, Tổng thống  
45  
V.Wilson tiếp tục tuyên bố theo tinh thần “Chương trình 14 điểm” mà ông đã nêu từ  
năm 1918. Thực ra, tâm điểm của Chương trình này là nhằm thiết lập vai trò lãnh đạo  
của Mỹ đối với thế giới, đồng thời chống lại nước Nga Xô viết vừa mới ra đời do thắng  
lợi của cuộc Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917. Tổng thống Mỹ  
đã đưa ra những lời rất mỹ miều về quyền dân tộc tự quyết, về quyền dân chủ. Có thể  
nói rằng, Tổng thống Mỹ V.Wilson đã đánh trúng tâm lý khát khao nồng cháy về những  
chủ đề đó trong những người yêu nước của các dân tộc thuộc địa trên thế giới, trong đó  
có những người Việt Nam yêu nước đang có mặt tại Pháp năm 1919, mà tiêu biểu là  
những nhân vật chủ chốt trong nhóm (“ngũ hổ”): Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường,  
Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh.  
Bản Yêu sách còn được Nguyễn Ái Quốc tìm cách thuê in thành truyền đơn đồng  
thời cho đăng trên nhiều báo để phân phát cho những người tham dự các cuộc mít tinh,  
các buổi họp, gửi cho một số nhà hoạt động chính trị ở Pháp, đồng thời gửi cho người  
Việt Nam ở Pháp (Việt kiều) và gửi về Việt Nam qua nhiều đường khác nhau, trong đó  
chủ yếu nhất là bằng đường vận tải biển. Đáng chú ý là bản Yêu sách còn được Nguyễn  
Ái Quốc viết thành văn vần (thơ) 56 câu tiếng Việt với cái tên là “Việt Nam yêu cầu  
ca”4. Nguyễn Ái Quốc “diễn ca” với thể thơ lục bát trong đó có câu:  
“Bảy xin hiến pháp ban hành  
Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”5.  
Hình thức trình bày bằng thơ này được Nguyễn Ái Quốc lựa chọn có thể là do ông  
quan niệm rằng, thể loại này dễ đi vào lòng người Việt Nam hơn cả, nhất là đối với  
những người không biết chữ.  
Quyền tự quyết dân tộc là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc – quốc gia, nó nằm  
trong cụm bốn nội dung làm thành một thể thống nhất là quyền dân tộc cơ bản: (1) Độc  
lập; (2) Chủ quyền; (3) Thống nhất; (4) Toàn vẹn lãnh thổ. Có thể nói rằng, tất cả các  
dân tộc – quốc gia trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều luôn muốn và giữ  
được quyền này. Đó cũng là điều cơ bản nhất, thường là Điều 1, xuất hiện trong các  
hiệp định mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia đàm phán và ký kết với các bên  
liên quan (Đơn cử là Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, ngày 21/7/1954 và Hiệp định  
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973 – Hiệp định Pari  
năm 1973). Đó cũng là tinh thần của bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang lên trên phòng  
tuyến Như Nguyệt sông Cầu của quân dân Đại Việt chống quân xâm lược nhà Tống thế  
kỷ X. Đó là tinh thần của Hịch tướng sĩ mà Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn  
tuyên đọc trước khi cầm quân ra trận chống xâm lược Nguyên – Mông, lần hai, thế kỷ  
XIII. Đó cũng là tinh thần bất hủ của Bình Ngô đại cáo mà Nguyễn Trãi vâng lệnh của  
Lê Lợi thảo ra sau khi đánh thắng quân xâm lược nhà Minh thế kỷ XV. Đó cũng là lời  
hịch của Hoàng đế Quang Trung vang lên tại Tam Điệp, Ninh Bình hẹn quân sĩ cùng  
nhau đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, giải phóng thành Thăng Long vào dịp hạ  
cây nêu Tết Nguyên đán Kỷ Dậu 1789.  
46  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
Bản Yêu sách đó nêu ra yêu cầu “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách  
làm cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như  
người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp  
bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”; “Thay thế chế độ ra các sắc lệnh  
bằng chế độ ra các đạo luật”6. Bản Yêu sách chỉ là những điều “khiêm tốn”7 đặt trong bối  
cảnh như trong bản Yêu sách viết: “trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý  
tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc  
được thừa nhận thật sự”8. Đáng tiếc thay, và cũng không có gì là bất ngờ, tôi thấy tuyên  
bố về quyền dân tộc tự quyết của Tổng thống Mỹ V.Wilson tại Hội nghị Versailles năm  
1919 chỉ là trên đầu lưỡi, không có một chút nào về giá trị thực tế. Về sau, trong bài Cuộc  
kháng chiến của tổ hợp những bài với tiêu đề chung là Đông Dương năm 1923-1924,  
Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn”9.  
Những kiến thức về xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó có cả nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chắc chắn được Hồ Chí Minh nghiên cứu, học tập qua quá  
trình hoạt động cách mạng, trên những nẻo hành trình gian khổ tìm đường, mở đường,  
dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, trong đó có quãng thời gian nghiên  
cứu, học tập tại “bộ ba” cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Quốc tế Cộng sản ở  
Mátxcơva, Liên Xô những năm 30 của thế kỷ XX: Trường Đại học Cộng sản phương  
Đông, Trường Quốc tế Lênin, Viện Nghiên cứu Những vấn đề dân tộc và thuộc địa.  
Trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới/nguyên thủ quốc gia, và là  
lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1951 là Chủ tịch Đảng, Hồ Chí Minh  
càng quan tâm sâu sắc hơn đến việc bảo đảm cho Nhà nước được tổ chức và vận hành  
phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, đồng thời, căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật để điều  
hành/quản lý/quản trị xã hội, làm cho tinh thần pháp quyền thấm sâu và điều chỉnh mọi  
quan hệ và hoạt động trong Nhà nước và xã hội.  
2.1. Tuân thủ mọi chế định của pháp luật  
Nhà nước, với nghĩa nguyên khởi là nhà nước cai trị của một giai cấp nhất định  
trong một xã hội. Nó ra đời là do kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa  
được, do đó, nhà nước không phải là tổ chức đứng trên các giai cấp, mà là nhà nước của  
một giai cấp. Nó là một phạm trù lịch sử, vì khi các giai cấp bị mất đi thì nhà nước cũng  
tự tiêu vong. Dần dần, qua quá trình phát triển của nhân loại, nhất là ở thời đương đại,  
cái gọi là chức năng/vai trò cai trị dần dần bị mờ đi, chiếm lĩnh dần vào đó là chức năng  
quản lý/quản trị/dịch vụ công. Với tình hình đó, nhà nước chủ yếu quản lý bằng Hiến  
pháp, pháp luật. Vì thế, công tác lập pháp của nhà nước được nổi lên rõ nhất trong ba  
nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp – và nhiều nước đang đi theo sự vận  
hành của tam quyền phân lập). Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác này. Ở trách  
nhiệm Chủ tịch nước/nguyên thủ quốc gia với vai trò lớn nhất về đối nội và đối ngoại,  
Hồ Chí Minh đã hai lần tham gia vào quá trình lãnh đạo soạn thảo Hiến pháp: Hiến  
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và Hiến pháp năm  
1959/1960 (Quốc hội thông qua ngày cuối cùng của năm 1959 và Chủ tịch nước ký ban  
47  
hành đầu năm 1960). Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh trong  
đó có 243 sắc lệnh quy định về tổ chức Nhà nước và pháp luật cũng như nhiều văn bản  
dưới luật khác10. Trong hoàn cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, nhất là trong thời  
kỳ chiến tranh (kháng chiến, kiến quốc; chống Pháp xâm lược 1945-1954 và chống Mỹ,  
cứu nước 1954-1975), công tác quản lý xã hội thông qua hệ thống luật pháp mà Hồ Chí  
Minh đã cùng toàn Đảng, toàn dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng đã phản ánh  
được thái độ chính trị coi trọng pháp luật, thể hiện vai trò của công tác lập pháp, thể  
hiện tinh thần thượng tôn pháp luật.  
Song, lập pháp mới chỉ là công việc quan trọng đầu tiên. Vấn đề rất quan trọng tiếp  
theo mà Hồ Chí Minh rất chú ý là đưa pháp luật vào trong cuộc sống, bảo đảm cho pháp  
luật được thi hành một cách đúng đắn, có hiệu quả, đi đôi với việc đề ra và thực hiện cơ chế  
giám sát việc thi hành pháp luật. Hồ Chí Minh thấy rõ tính cấp thiết của việc nâng cao trình  
độ giác ngộ chính trị thông qua luật pháp và năng lực chấp pháp của nhân dân, với tư cách  
là công dân trong xã hội pháp quyền. Hồ Chí Minh mong muốn và yêu cầu mọi người, bất  
kể người đó giữ cương vị nào trong xã hội hoặc không giữ chức vụ gì trong bộ máy công  
quyền, đều phải nâng cao tinh thần, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật.  
Hồ Chí Minh coi pháp luật phải là sự thể hiện quyền làm chủ của nhân dân. Trong  
cấu tạo quyền lực của Nhà nước thì ông coi mọi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, vì  
thế pháp luật cũng là công cụ để thực thi quyền lực của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh,  
phải “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của  
mình, dám nói, dám làm”11. Điều này phản ánh trong luận điểm súc tích và nổi tiếng của  
Hồ Chí Minh khi đề cập về dân chủ: Dân là chủ và dân làm chủ, trong đó có thể hiểu  
nghĩa dân làm chủ tức là đề cập vị thế/vai trò của nhân dân; còn dân làm chủ là đề cập  
trách nhiệm của nhân dân. Do đó, công tác giáo dục pháp luật cho mọi người có ý nghĩa  
rất quan trọng đối với việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của  
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mọi người đều được bảo đảm quyền và nghĩa vụ  
đối với quốc gia – dân tộc. Muốn thực thi tốt quyền và nghĩa vụ thì bản thân mọi người  
phái được giác ngộ, vì thế, dân trí cũng phải được nâng lên. Đó là lý do tại sao Hồ Chí  
Minh thường hay dùng đến cụm từ Đảng Cộng sản Việt Nam phải có trách nhiệm “nâng  
cao dân chúng”, “giáo dục nhân dân”, “không theo đuôi quần chúng”.  
Bản thân pháp luật là một sự nghiêm minh, nó làm cho xã hội phát triển theo  
luật định, theo một nguyên tắc, nó hướng tất cả mọi tổ chức, cá nhân vào một quy tắc  
ứng xử phù hợp. Không ai có quyền đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Do đó, Hồ Chí  
Minh luôn luôn hướng mọi người nêu cao tính nghiêm minh của pháp luật. Quan điểm  
này của Hồ Chí Minh liên quan chất lượng lập pháp và chất lượng thi hành pháp luật.  
Với quan điểm dân là chủ và dân làm chủ, cho nên Hồ Chí Minh khuyến khích  
mọi người phê bình, kiểm tra, giám sát công việc của Nhà nước, giám sát quá trình Nhà  
nước xây dựng và thực thi pháp luật, đồng thời yêu cầu cán bộ, công chức các cấp, các  
ngành phải gương mẫu thực hiện pháp luật. Nhân dân thông qua các tổ chức do mình  
lập ra như hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội (theo dân chủ gián tiếp) và thông qua  
48  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
dân chủ trực tiếp đề hoàn thành trách nhiệm thực thi pháp luật. Đặc biệt là đối với  
những cán bộ, công chức ngành tư pháp, Hồ Chí Minh càng coi trọng đặc biệt tới vai trò  
và trách nhiệm của họ. Ông nhấn mạnh: “Các bạn là những người phụ trách thi hành  
pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí  
công, vô tư” cho nhân dân noi theo”12. Hồ Chí Minh là người nêu gương sáng trong việc  
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cả trong sinh hoạt đời thường và cả trong công tác. Hồ  
Chí Minh tuân thủ một cách tự giác những quy định của Nhà nước, tự giác giữ kỷ luật,  
kỷ cương. Theo Hồ Chí Minh, người nào càng có chức vụ cao trong bộ máy hệ thống  
chính trị thì trách nhiệm càng cao, tính kỷ luật càng nghiêm. Đó chính là thể hiện rõ  
nhất tính pháp quyền trong một xã hội có dân chủ, kỷ cương. Đối với Hồ Chí Minh, tư  
duy và hành động như thế đã trở thành nếp sống, lối sống thường nhật.  
2.2. Tính xã hội chủ nghĩa của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thể hiện  
trong tư tưởng Hồ Chí Minh  
Có thể có người băn khoăn về cách gọi cụm từ “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa”, cũng tương tự gọi “Thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, họ cho  
rằng, đã pháp quyền, sao lại là pháp quyền xã hội chủ nghĩa? rằng, đã thị trường thì làm  
gì có cái vế sau là xã hội chủ nghĩa?  
Tính xã hội chủ nghĩa của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thể hiện trong tư  
tưởng Hồ Chí Minh ở những điểm chủ yếu sau đây.  
Một, Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo  
Đây là một nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam mà Hồ Chí  
Minh đã đề xướng ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuy rằng  
điều này thể hiện với rất nhiều hình thức khác nhau. Tháng 11-1946, Đảng Cộng sản  
Đông Dương (Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Cộng sản Việt Nam, gọi tắt từ đây  
là Đảng) rút vào hoạt động bí mật, Chính phủ liên hợp nhiều đảng phái được thành lập,  
vậy vấn đề Đảng lãnh đạo có được bảo đảm không? Câu trả lời là: có. Điều này được  
phản ánh trong Hiến pháp năm 1946, tại Điều 49 và Điều 50 quy định về quyền và trách  
nhiệm của Chủ tịch Chính phủ/Chủ tịch nước. Trong hoàn cảnh đó, Đảng lãnh đạo Nhà  
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ yếu thông qua nguyên thủ quốc gia Hồ Chí  
Minh. Nhà nước do Đảng lãnh đạo cũng thể hiện công việc lập pháp của Nhà nước là ở  
chỗ Quốc hội thể chế hóa cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng. Sau Cương lĩnh  
của Đảng rồi mới đến Hiến pháp. Thoạt đầu nghe có vẻ lạ kỳ, nhưng thực chất đúng là  
như vậy ở Việt Nam khi Nhà nước do Đảng lãnh đạo, nó phản ánh Nhà nước đặt dưới  
sự lãnh đạo của Đảng (nghĩa “cầm quyền”của Đảng cũng chủ yếu từ thành tố này chế  
định). Tuy không gọi Nhà nước là công cụ của Đảng, nhưng đây là tổ chức thể chế hóa  
mọi chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, đưa cương lĩnh, chủ trương, đường lối  
của Đảng vào trong cuộc sống thông qua một kênh cực kỳ cơ bản và cực kỳ quan trọng  
là luật pháp, kèm với đó là hệ thống tổ chức bộ máy và nhân sự tham gia bộ máy Nhà  
nước, mà nhân sự này do Đảng chịu trách nhiệm phụ trách.  
49  
Hai, Nhà nước tổ chức và hoạt động vì mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa  
Mục tiêu và con đường phát triển của xã hội Việt Nam được Đảng xác định ngay  
từ đầu khi mới thành lập là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là “Toàn Đảng toàn dân  
ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân  
chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”13 như  
điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh được ghi trong Di chúc. Mọi hoạt động  
của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ buổi sơ khai cho đến hiện nay là Cộng  
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và cả từ nay trở đi nữa, đều là vì mục tiêu đó. Chính vì  
thế, không gì khác hơn để xác định tính cần thiết, tính đúng đắn của cụm từ “xã hội chủ  
nghĩa” phải có sau vế “Nhà nước pháp quyền”. Điều này cũng có thể cắt nghĩa tại sao,  
Nhà nước Việt Nam, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, không theo thể chế “tam quyền phân  
lập” như ở các nước tư bản chủ nghĩa, mà là Nhà nước, trong đó cấu tạo quyền lực là  
thống nhất, mọi quyền lực và quyền lực tối cao đều thuộc về nhân dân, trong Nhà nước,  
có sự phân công, phân cấp các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.  
Ba, hoạt động của Nhà nước là tất cả vì con người, tức là nhân văn, nhân nghĩa,  
coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển  
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nhà  
nước pháp quyền nhân nghĩa, mà cố Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên nước Việt Nam  
Dân chủ Cộng hòa Vũ Đình Hòe (2011) đã viết như thế trong một cuốn sách Pháp  
quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh (Nxb Văn hoá - Thông tin - Trung tâm Văn hoá Ngôn  
ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2001). Nói đến tính nhân nghĩa của Nhà nước Việt Nam theo tư  
tưởng Hồ Chí Minh là nói đến việc Nhà nước bảo đảm quyền con người, điều Hồ Chí  
Minh thể hiện sớm nhất, rõ ràng nhất đối với chế độ mới ở bản Tuyên ngôn độc lập mà  
ông thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc tại Vườn hoa  
Ba Đình, Hà Nội chiều ngày 02/9/1945.  
Nhà nước quản lý xã hội nhưng phải là phục vụ nhân dân, thậm chí Hồ Chí Minh  
còn nói rằng, phải là làm đầy tớ, làm công bộc, “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi  
tớ trung thành của nhân dân”14. Theo Hồ Chí Minh, quyền tối cao của con người là  
quyền sống, sau đó mới đến quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Điều này Hồ  
Chí Minh kế thừa và phát triển tư tưởng của bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng như  
Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp. Nói phát triển là ở chỗ Hồ Chí Minh  
suy rộng ra: nước đã mất độc lập thì quyền con người cũng không có, vì vậy độc lập dân  
tộc là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người.  
Tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng xã  
hội – giai cấp, giải phóng con người. Giải phóng dân tộc là tiền đề, là cơ sở, là điều kiện  
tiên quyết để tiến tới giải phóng xã hội – giai cấp và giải phóng con người. Giải phóng  
xã hội – giai cấp vừa là để bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của giải phóng dân tộc và  
đồng thời là tiến tới giải phóng con người. Còn giải phóng con người chính là mục tiêu  
cao nhất, mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Hai giải phóng trước đó đều  
50  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
phải hướng tới giải phóng con người – con người được giải phóng khỏi mọi áp chế, bất  
công để trở thành con người tự do, như quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong  
tác phẩm đánh dấu cho sự ra đời chính thức của chủ nghĩa xã hội khoa học là Tuyên  
ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848): “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện  
cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”15.  
Một nước Việt Nam hùng cường, phồn thịnh, một nước Việt Nam phát triển cả về  
mặt vật chất lẫn văn hóa – tinh thần là điều căn bản bảo đảm vững chắc cho nền độc lập  
nước nhà, và đó cũng là tinh thần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí  
Minh nêu quan điểm: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc  
lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”16. Ông còn nhấn mạnh thêm: “Chúng ta tranh được tự  
do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân  
chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”17. Muốn thế, những  
chỉ số phát triển bền vững phải được tăng lên hằng năm. Muốn thế, đời sống văn hóa  
tinh thần, đạo đức của xã hội phải được nâng cao. Tất cả những điều đó cũng là để bảo  
đảm cho độc lập dân tộc được trường tồn vững chắc; làm cho đất nước có cơ sở vật chất  
kỹ thuật của một nước công nghiệp; làm cho đất nước vừa giàu có về vật chất, vừa văn  
minh về tinh thần. Làm được như thế thì chắc chắn đến năm 2025 Việt Nam trở thành  
nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua thu nhập trung bình  
thấp; đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập  
trung bình cao; đến năm 2045 dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ  
Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trở thành nước phát  
triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ  
ra. Làm được như thế, lòng tin của nhân dân đối với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa  
mới được vững chắc. Làm được như thế thì tính chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước  
pháp quyền Việt Nam mới được thể hiện một cách rõ ràng và đúng đắn. Hồ Chí Minh  
chính là người khơi nguồn cảm hứng, kích hoạt cho mọi hoạt động của Nhà nước Việt  
Nam hiện nay theo hướng đó.  
Sự nghiệp cách mạng chân chính cần đấu tranh cho quyền con người, vì thế, mục  
tiêu giải phóng con người, làm cho mọi người có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh  
phúc, xứng với phẩm giá con người, được hưởng các quyền con người một cách đầy đủ  
nhất đã hòa quyện một cách hữu cơ và trở thành mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách  
mạng dân tộc Việt Nam, cần được thể hiện trong việc thực hiện, vận dụng và phát triển  
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân  
dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.  
Bốn, tính xã hội chủ nghĩa của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam còn là ở chỗ  
phải làm cho Nhà nước luôn luôn trong sạch.  
Đầu tiên phải chú trọng tới kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa chế định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, như thế có nghĩa là  
quyền lực của Nhà nước do nhân dân ủy thác cho. Con người ta có đủ các trạng thái tâm  
lý và đủ các dục vọng, trong đó nổi lên hơn hết là danh lợi và sắc dục. Điều này rất dễ  
51  
làm cho con người lạm dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân mình, nhóm mình. Do  
đó, việc cán bộ, công chức của bộ máy Nhà nước rất dễ phạm phải những tiêu cực.  
Muốn kiểm soát quyền lực Nhà nước, trước hết cần chú trọng tăng cường công tác  
xây dựng Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh vì Đảng là người lãnh đạo Nhà  
nước (Đảng cầm quyền). Sự cầm quyền của Đảng không phải cứ tự nhận mà được. Sự  
cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là do nhân dân ủy thác cho sau bao năm đấu  
tranh, cống hiến, hy sinh vì độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Quyền  
của Đảng cầm là do nhân dân giao phó. Đảng phải xứng đáng với niềm tin và sự giao  
phó, ủy thác của nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng: “Công việc của Đảng và Nhà nước  
ngày càng nhiều. Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải  
chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các  
cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và  
giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm  
gương mẫu tốt cho nhân dân”18. Nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực Nhà nước. Hồ  
Chí Minh cho rằng: “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải  
có quần chúng giúp mới được”19, “mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan  
nghênh quần chúng đôn đốc và kiểm tra”20.  
3. Lời kết  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có  
giá trị lớn lao, phản ánh được bản chất của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, một chế độ  
tôn nhân dân lên hàng tối thượng trong hệ thống quyền lực Nhà nước, lấy thượng tôn  
pháp luật làm hành động. Đất nước Việt Nam đang thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII  
của Đảng với những mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành một nước phát triển  
có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Những chỉ dẫn  
của Hồ Chí Minh về xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
vẫn đang là vốn quý báu để đất nước đi lên sánh vai với các cường quốc năm châu.  
Chú thích:  
(1) Hội nghị Potsdam, Đức, được tổ chức từ ngày17/7 đến ngày 2/8/1945. Tham dự Hội nghị có đại diện  
Winston Churchill dẫn đầu, sau đó được thay bởi Clement Attlee người thế chân Churchill làm Thủ  
tướng Anh sau khi Đảng Lao động giành chiến thắng trước Đảng Bảo Thủ trong cuộc bầu cử năm  
1945), Mỹ (Tổng thống Harry S. Truman dẫn đầu). Chương trình nghị sự của Hội nghị này có việc  
thành lập trật tự thế giới mới thời hậu Thế chiến II, những vấn đề về hiệp ước hòa bình và cách thức  
giải quyết hậu quả của chiến tranh.  
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.4, tr.7.  
(3) “Dân tộc” được đề cập ở đây là dân tộc-quốc gia (Nation), không phải dân tộc/bộ tộc/tộc người (Ethnic).  
(4) (5), (6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị quốc gia, 2011, t.1, tr.472-474, 473, 441,  
469, 441  
(10)Tác giả bài viết này tự thống kê dựa vào bộ sách 15 tập Hồ Chí Minh toàn tập. NXB Chính trị  
Quốc gia, 2011.  
52  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
(11)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.15, tr.293.  
(12)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.5, tr.473.  
(13)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.15, tr.614.  
(14)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.7, tr.50.  
(15)Karl Max – Friedrich Engels. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Song ngữ Anh – Việt). NXB Trẻ,  
2018, tr.129.  
(16)(17) Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.4, tr.64, 175.  
(18)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.14, tr.362.  
(19)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.5, tr.325.  
(20)Hồ Chí Minh Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 2011, t.8, tr.507.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên) (1997). Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách  
mạng Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia.  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. NXB  
Chính trị Quốc gia.  
[3] Duiker William J (2000). Ho Chi Minh a lif. Hyperion, New York.  
[4] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, các tập 1, 4, 7, 8, 15.  
[5] Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Song Thành (Chủ biên) (2006).  
Hồ Chí Minh - Tiểu sử. NXB Lý luận Chính trị.  
[6] Karl Marx – Fridrich Engels (2018). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (song ngữ Việt –  
Anh). NXB Trẻ.  
[7] Nguyễn Trần Bạt (2006). Văn hoá và con người. NXB Văn hoá thông tin (In lần thứ hai).  
[8] Nguyễn Văn Út (biên soạn) (2006). 9 bản tuyên ngôn độc lập. NXB Văn hoá Thông tin.  
[9] Nhiều tác giả (1998). Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử. NXB Chính trị quốc gia, 10 tập.  
[10]Sophie Quinn Judge (2002). Ho Chi Minh, The missing years. Berkeley and Los Angeles,  
University of California Press, California.  
[11]T. Lan (1976). Vừa đi đường, vừa kể chuyện. NXB Sự thật.  
[12]UNESCO và Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam(1990). Hội thảo quốc tế: Hồ Chí Minh –  
Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. NXB Khoa học Xã hội.  
[13]V.I.Lênin (1977). Toàn tập. NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tiếng Việt, các tập 41, 42.  
[14] Vũ Đình Hòe (2011). Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. NXB Văn hoá - Thông tin -  
Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây.  
53  
pdf 11 trang Thùy Anh 18840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_ho_chi_minh_ve_xay_dung_nha_nuoc_phap_quyen_xa_hoi.pdf