Giáo trình Hiểu biết chung về quân binh chủng
TÀI LIỆU HỌC TẬP
HIỂU BIẾT CHUNG VỀ QUÂN BINH CHỦNG
(HỌC PHẦN IV MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH)
LƯU HÀNH NỘI BỘ
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Giới thiệu chung về tổ chức lực lượng các quân, binh chủng
1.1. Tổ chức và hệ thống tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.1. Những vấn đề chung về quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.2. Hệ thống tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam
1.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong quân đội
nhân dân Việt Nam
3
3
3
4
4
Chương 2: Lịch sử, truyền thống quân, binh chủng
2.1. Quân chủng Lục quân
7
7
2.1.1. Những vấn đề chung về Lục quân
7
2.1.2. Giới thiệu chung về các binh chủng của Lục quân
2.1.3. Giới thiệu chung về các quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô
2.1.4. Giới thiệu chung về các quân đoàn
7
8
14
21
21
25
26
26
26
2.2. Quân chủng Hải quân
2.2.1. Chức năng, nhiệm vụ các binh chủng của quân chủng Hải quân
2.2.2. Các Bộ Tư lệnh thuộc quân chủng Hải quân
2.3. Quân chủng Phòng không – Không quân
2.3.1. Tổ chức chung
2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ
2
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG CÁC QUÂN, BINH CHỦNG
1.1. Tổ chức và hệ thống tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.1. Những vấn đề chung về Quân đội nhân dân Việt Nam
- Khái niệm
QĐNDVN, QĐ của nước CHXHCNVN (VNDCCH), đặt dưới sự lảnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt của ĐCSVN, thuộc quyền thống lĩnh của chủ tịch
nước CHXHCNVN và chỉ huy điều hành của BT BQP, một quân đội kiểu mới,
QĐ của dân do chủ tịch HCM tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lực lượng nồng cốt
của LLVTNDVN trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. QĐND
VN mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân, từ nhân dân
mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, có mục tiêu chiến đấu nhất quán vì ĐLTD của
TQ, vì CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân
- Thành phần cơ cấu Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐND bao gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, lực
lượng thường trực và lực lượng dự bị, các quân chủng LQ, HQ, PK-KQ. Lục quân
không tổ chức thành quân chủng độc lập mà gồm các quân đoàn binh chủng hợp
thành, các binh chủng: pháo binh, tăng thiết giáp, đặc công, công binh, hóa học,
thông tin. Trên các hướng chiến lược tổ chức các quân khu có các đơn vị chủ lực
thuộc QK và các đơn vị bộ đội địa phương trên địa bàn QK ( tỉnh, huyện), hệ
thống các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, các học viện viện nghiên cứu, trường
đào tạo sĩ quan, trường nghiệp vụ các cấp, các xí nghiệp quốc phòng, các binh
đoàn làm kinh tế. giúp BTrưởng BQP có các cơ quan BTTM, TCCT, TCHC,
TCKT, TCCNQP, Tổng cục IIvà các tổ chức trực thuộc khác… Lực lượng trên
được tổ chức theo một hệ thống thống nhất, chặt chẽ, nghiêm ngặt từ toàn quân đến
cơ sở.
Từ khi thành lập đến nay QĐ ta đã giành thắng lợi vĩ đại, lập nên nhiều
chiên công oanh liệt, đó là những mốc lịch sử đánh dấu bước đường lớn mạnh và
trưởng thành nhanh chóng của QĐNDVN. Trong giai đoạn mới của CM ,
QĐNDVN đang tập trung xây dựng về mọi mặt theo hướng CM, chính qui tinh
nhuệ, từng bước hiện đại.
Trong cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, khó khăn chống lại những đội quân
xâm lược lớn và hiện đại của CNĐQ, QĐNDVN đã phát huy bản chất của
QĐCM, trung thành vô hạn với TQ, với nhân dân, với ĐCSVNCNXH, vừa là đội
quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác và sản xuất, đoàn kết nội bộ, đoàn kết
quân dân, đoàn kết quốc tế, dân chủ rộng rải, kĩ luật tự giác nghiêm minh. Bản
chất dó được phát huy trong thực tế chiến đấu và xây dựng đã tạo nên truyền thống
“trung với Đảng, hiếu với dân, sản sàng chiến đấu hy sinh vì ĐLTD của TQ, vì
CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào củng vượt qua kẻ thù nào
cũng đánh thắng”. Nhân dân VN đã ghi nhận và khen ngợi bản chất, truyền thống
tốt đẹp của QĐNDVN bằng danh hiệu cao quí Bộ đội Cụ Hồ.
3
1.1.2. Hệ thống tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam
- Hệ thống tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chính trị của quân đội. Phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh cụ thể của đất nứơc. Truyền thống tổ chức quân đội của dân tộc qua từng
giai đoạn lịch sử ( mỗi giai đoạn lịch sử có quy mô, tổ chức quân đội khác nhau).
Nhìn tổng quát, tổ chức QĐND Việt Nam bao gồm:
Bộ quốc phòng và các cơ quan bộ quốc phòng, các đơn vị trực thuộc bộ
quốc phòng. Ơ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các bộ chỉ huy quân
sự, ban chỉ huy (tỉnh đội, huyện đội…).
- Hệ thống tổ chức Bộ Quốc Phòng
1.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Quân đội
nhân dân Việt Nam
1. Bộ quốc phòng
Là cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, quản lí cao nhất của toàn quân.
4
2. Bộ tổng tham mưu và cơ quan tham mưu các cấp trong quân đội nhân
dân Việt Nam.
Là cơ quan chỉ huy các lực lượng vũ trang, có chức năng bảo đảm trình độ
SSCĐ của LLVT và điều hành mọi hoạt động quân sự Quốc phòng trong thời bình
và thời chiến.
3. Tổng cục chính trị và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội nhân
dân Việt Nam.
Là cơ quan đảm nhiệm CTĐ – CTCT trong QĐND, hoạt động dưới sự lãnh
đạo trực tiếp thường xuyên của bộ chính trị, Quân ủy trung ương, các cấp ủy đảng
cùng cấp.
Nhiệm vụ : CTCT và cơ quan chính trị các cấp căn cứ vào nghị quyết, chỉ
thị của Đảng, sự chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên, đề xuất những chủ trương,
giải pháp, kế hoạch CTĐ– CTCT của toàn dân, của từng đơn vị, các tổ chức. Tiến
hành và thực hiện tốt CTĐ – CTCT bảo đảm cho quân đội thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị được giao.
4. Tổng cục hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp.
Là cơ quan tham mưu bảo đảm về mặt hậu cần của toàn quân và từng đơn vị.
Nhiệm vụ: TCHC, cơ quan hậu cần các cấp, nghiên cứu đề xuất các vấn đề
liên quan đến tổ chức lực lượng, chỉ đạo công tác bảo đảm hậu cần cho nền QPTD,
quân đội, LLVT cả trong thời bình và thời chiến. Trực tiếp tổ chức, chỉ đạobảo
đảm hậu cần cho bộ đội, tăng gia sản xuất, tạo nguồn và nghiên cứu khoa học,
khai thác, sử dụng vật tư trang bị…
5. Tổng cục kĩ thuật và cơ quan kĩ thuật các cấp trong quân đội nhân dân
Việt Nam.
Là cơ quan đảm bảo trang bị kĩ thuật, phương tiện kỷ thuật phục vụ cho
nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu cho toàn quân và từng đơn vị.
6. Tổng cục công nghiệp quốc phòng, các cơ quan, đơn vị sản xuất quốc phòng.
Là cơ quan, đơn vị chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ sản xuất quốc phòng.
Chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu, đề xuất các vấn đế có liên quan đến tổ
chức, chỉ đạo công tác công nghiệp QPTD và CTND. Trực tiếp tổ chức chỉ đạo
sản xuất, tạo nguồn bảo đảm cho sản xuất của ngành CNQP trong quân đội. Tổ
chức chỉ đạo nghiên cứu khoa học và huấn luyện bộ đội về CNQP.
7. Quân khu.
Là tổ chức quân sự theo địa giới hành chính một số tỉnh, thành giáp nhau,
có liên quan với nhau về quân sự, quốc phòng.
8. Quân đoàn.
5
Là lực lượng thường trực của quân đội, là đơn vị tác chiến chiến dịch, lực
lượng thường từ 3 – 4 sư đoàn bộ binh và một số lữ đoàn, trung đoàn binh chủng,
bảo đảm.
9. Quân chủng.
Quân chủng là bộ phận phân loại cơ bản của quân đội, gồm có lục quân,
hải quân, phòng không-không quân; mỗi bộ phận được rèn luyện chiến đấu ở một
môi trường địa lý nhất định (trên bộ, trên biển hoặc trên không).
Là lực lượng quân đội được tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện, theo
đặc trưng chức năng, nhiệm vụ và phương thức tác chiến riêng. Hiện nay ta có
quân chủng hải quân, lục quân và phòng không – không quân.
10. Bộ đội biên phòng.
Là một phận của QĐND Việt Nam. Chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước
đối với biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, lợi ích quốc gia,
giữ gìn an ninh biên giới, vùng biển đảo của tổ quốc.
11. Binh chủng trong quân đội nhân dân Việt Nam.
Binh chủng là bộ phận trong quân chủng, được phân loại theo trang bị vũ
khí và chức năng tác chiến khác nhau. Ví dụ, trong quân chủng lục quân Việt Nam
có các binh chủng bộ binh, pháo binh, đặc công,…
Là những ngành chuyên môn chiến đấu và bảo đảm chiến đấu cho quân đội.
12. Cảnh sát biển Việt Nam một số tài liệu còn viết là Tuần duyên Việt
Nam, là lực lượng quân sự chuyên trách thực hiện chức năng quản lý về an ninh,
trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên
6
Chương 2
LỊCH SỬ, TRUYỀN THỐNG CÁC QUÂN, BINH CHỦNG
2.1. Quân chủng Lục quân
2.1.1. Những vấn đề chung về Lục Quân
Lục quân Việt Nam không tổ chức thành bộ tư lệnh riêng mà đặt dưới sự
chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục
Chính trị; sự chỉ đạo chuyên ngành của các tổng cục và cơ quan chức năng khác.
Khi mới thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có lục quân với bộ binh là
chính. Qua quá trình xây dựng, Lục quân đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ
chức và lực lượng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương thức tác chiến của
chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Lục quân có 07 quân khu (1, 2, 3, 4, 5, 7, 9) và Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội;
06 binh chủng (gồm Pháo binh, Tăng - Thiết giáp, Công binh, Thông tin, Hoá học,
Đặc công); 04 quân đoàn (1, 2, 3, 4). Các quân khu, quân đoàn, binh chủng có Tư
lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm
nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực
thuộc khác. Các quân khu được tổ chức trên các hướng chiến lược và theo địa
bàn. Quân khu có các sư đoàn và trung đoàn chủ lực trực thuộc. Quân khu chỉ huy
các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của
quân khu. Quân đoàn là đơn vị cơ động lớn nhất của Lục quân, được bố trí để bảo
vệ các địa bàn chiến lược trọng yếu của quốc gia, Quân đoàn có các sư đoàn và
các đơn vị trực thuộc. Các binh chủng tham gia tác chiến hợp đồng quân binh
chủng theo phân công đồng thời thực hiện chức năng bảo đảm kỹ thuật và huấn
luyện, đào tạo sĩ quan, nhân viên kỹ thuật theo các chuyên ngành cho toàn quân.
Các binh chủng có các đơn vị chiến đấu trực thuộc, các trường sĩ quan và trường
kỹ thuật theo chuyên ngành.
2.1.2. Giới thiệu chung về các binh chủng của Lục Quân
thường có số quân đông nhất, có trang bị và phương thức tác chiến đa dạng, phong
phú. Là lực lượng chính quyết định kết cục của chiến tranh.
trên bộ; đảm nhiệm chức năng chủ yếu là tiêu diệt đối phương, đánh chiếm trận
địa của chúng và giữ vững trận địa của mình. Là binh chủng cổ nhất trong lịch sử
và thường là binh chủng đầu tiên được xây dựng trong các quân đội. Từ giữa thế
kỉ 20, phần lớn các nước công nghiệp có xu hướng phát triển BB thành BB cơ
giới
Bộ binh cơ giới: bộ binh được trang bị xe chiến đấu bọc thép để cơ động và
chiến đấu, có thể thực hành chiến đấu ngay trên xe hoặc với đội hình đi bộ. So với bộ
binh, BBCG được trang bị hoả lực mạnh hơn và có sức cơ động cao hơn.
7
- Pháo binh: Lực lượng hỏa lực chủ yếu của lục quân, thường được trang
bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và
trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có
thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập.
- Tăng - thiết giáp: Chịu trách nhiệm tác chiến đột kích trên bộ và đổ bộ
(hải quân), được trang bị các loại xe tăng, xe thiết giáp, với hỏa lực mạnh, sức cơ
động cao.
- Đặc công: Một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ được tổ chức, trang bị và
huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường
dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí
chiến dịch và hậu phương của địch.
- Công binh: Có chuyên môn kỹ thuật với chức năng bảo đảm công binh
trong chiến đấu và xây dựng, có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí công binh.
- Thông tin liên lạc: Có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc cho hệ thống
chỉ huy trong toàn quân.
- Hóa học: Một binh chủng chuyên môn kỹ thuật, có chức năng bảo đảm
hóa học cho tác chiến, làm nòng cốt trong việc phòng chống vũ khí hủy diệt lớn,
ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng của quân đội, nghi binh đánh lừa địch
bằng màn khói. Bộ đội Hóa học còn có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí bộ binh
và súng phun lửa.
Như thế, lục quân và bộ binh hoàn toàn khác nhau. Lục quân là một quân
chủng trong quân đội. Bộ binh là một binh chủng chủ yếu của quân chủng Lục
quân, gồm những người lính chiến đấu chủ yếu ở trên bộ, được trang bị các loại
vũ khí nhỏ (súng trường, súng lục, lựu đạn...), mặc dù họ có thể được đưa đến
chiến trường bằng ngựa, tàu thuyền, ô-tô, máy bay hay các phương tiện khác.
2.1.3. Giới thiệu chung về các Quân khu và BTL Thủ đô
- Quân khu 1
Trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm ở vị trí địa - chính trị chiến
lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại
trong thế bố trí chung của cả nước, bảo vệ vùng Đông Bắc gồm 6 tỉnh: Cao Bằng,
Bắc Kạn, thái nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh. Có nhiệm vụ tổ chức, xây
dựng, quản lý và chỉ huy lực lượng vũ trang 3 thứ quân; thường xuyên nâng cao
tinh thần cảnh giác cách mạng, chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, khả
năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng thế trận
chiến tranh nhân dân vững chắc; tích cực tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp
nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN. Tư lệnh kiêm Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 1 là đồng chí Đàm
Quang Trung.
Hiện nay, Quân khu 1 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó
Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính
8
trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc
khác. Quân khu 1 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân
quân tự vệ trong địa bàn của quân khu
Ngày truyền thống: 16/10/1945
Truyền thống vẻ vang:
“TRUNG HIẾU, TIÊN PHONG, ĐOÀN KẾT, CHIẾN THẮNG”
Phần thưởng cao quý:
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc qua các thời kỳ, Lực lượng vũ trang
Quân khu 1 đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân
chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương Độc lập, 10
Huân chương Quân công, hàng nghìn lượt tập thể đơn vị, hàng vạn cá nhân được
thưởng Huân chương Chiến công các hạng; 346 đơn vị và 206 cá nhân được tuyên
dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến, 06 đơn vị được
tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới (lực lượng vũ trang
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; lực lượng vũ trang và nhân dân xã Thị Hoa,
huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng; Trung đoàn Xe tăng 409; Lữ đoàn Công binh 575;
Lữ đoàn Pháo binh 382; Tiểu đoàn Hoá học 23/ Bộ Tham mưu); 916 Mẹ Việt
Nam Anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác của bạn bè quốc tế.
- Quân khu 2
Quân khu 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm ở vị trí địa - chính trị
chiến lược bảo vệ vùng Tây Bắc gồm 9 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào
Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc. Có nhiệm vụ tổ chức,
xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa
phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh và Chính
uỷ đầu tiên của Quân khu 2 là các đồng chí Bằng Giang, Bùi Quang Tạo.
Hiện nay, Quân khu 2 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó
Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính
trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc
khác. Quân khu 2 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân
quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.
Ngày truyền thống: 19/10/1946
Truyền thống vẻ vang:
“TRUNG THÀNH, TỰ LỰC, ĐOÀN KẾT, ANH DŨNG, CHIẾN ĐẤU”
- Quân khu 3
Quân khu 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng, nằm ở vị trí địa - chính trị chiến
lược bảo vệ vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 9 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình.Có
nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc;
các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân
9
khu. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 3 là các đồng chí Hoàng Sâm, Trần
Độ.
Hiện nay, Quân khu 3 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó
Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính
trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc
khác. Quân khu 3 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân
quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.
Ngày truyền thống: 31/10/1945.
Truyền thống vẻ vang:
“ĐOÀN KẾT, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, HY SINH, CHIẾN THẮNG”
- Quân khu 4
Quân khu 4 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm trên một địa bàn
chiến lược trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, bảo vệ vùng Bắc Trung
Bộ gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý và tổ chức lực lượng vũ trang quân khu
chiến đấu bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/10/1945 Chiến khu
4 được thành lập gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên - Huế và ngày này trở thành Ngày truyền thống của lực lượng vũ
trang Quân khu 4. Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 17/SL
về việc thành lập Quân khu 4 trên cơ sở Liên khu 4.
Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 4 là các đồng chí Nguyễn Đôn,
Chu Huy Mân.
Hiện nay, Quân khu 4 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó
Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính
trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc
khác. Quân khu 4 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân
quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.
Ngày truyền thống: 15/10/1945
Phần thưởng cao quý:
- Quân khu 5
Quân khu 5 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, hiện nay có chức năng
nhiệm vụ cơ bản là tổ chức, xây dựng, quản lí và chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc
Quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Nam Trung Bộ, xây dựng và củng cố nền quốc
phòng toàn dân ở địa phương trên địa bàn. Địa bàn Quân khu 5 bắt đầu từ đèo Hải
Vân đến cực nam tỉnh Ninh Thuận, bảo vệ vùng Nam Trung Bộ gồm 11 tỉnh thành
phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh
Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông. Tổ chức hiện nay có Tư lệnh
và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm
10
các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn, trung đoàn
chủ lực và các đơn vị trực thuộc.
Ngày truyền thống: 16/10/1945
Truyền thống vẻ vang:
“TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, CHỊU ĐỰNG GIAN KHỔ,
MƯU TRÍ SÁNG TẠO, CHIẾN ĐẤU KIÊN CƯỜNG, CHIẾN THẮNG VẺ
VANG”.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và 35 năm xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã có 162.768 liệt sỹ hy sinh vì
sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc, hơn 100 nghìn thương, bệnh binh, 13.772
Mẹ Việt Nam Anh hùng. Với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng
dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã được
Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:
- Huân chương Sao vàng (1985);
- 898 tập thể và 392 cá nhân và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân, trong đó có: Trung đoàn Ba Gia - đơn vị được 3 lần tuyên dương
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị được 2
lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Sư đoàn 2; Trung đoàn
95; Trung đoàn 812; Tiểu đoàn 840/Trung đoàn 812; Đại đội Công binh Hải
Vân/Quảng Đà; Đại đội 2/Trung đoàn 66; Đại đội 5/26/Đoàn 5504; Lực lượng vũ
trang và nhân dân các địa phương huyện Duy Xuyên và (Quảng Nam); Lực lượng
vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Đại Lộc (Quảng Nam); xã Tịnh Khê
(Sơn Tịnh, Quảng Ngãi); xã Hoà Hải (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng).
Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng vũ trang Quân khu 5 có 5 tập thể vinh dự
được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
(lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc/Quảng Nam, Lữ đoàn công binh
270, Viện Quân y 13, Trung đoàn Pháo binh 368 và Binh đoàn 15), 1 cá nhân
được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động; 25 tập thể được tặng Cờ Thủ
tướng Chính phủ; 85 tập thể và 35 cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ; 68 tập thể được tặng Cờ Thi đua Bộ Quốc phòng; 542 tập thể và cá
nhân được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen và các hình thức khen thưởng khác.
- Quân khu 7
Quân khu 7 là tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ, được thành lập ngày
10/12/1945, bao gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Đinh, Chợ Lớn, Bà Rịa,
Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh. nằm trên một địa bàn chiến lược trong thế
trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, bảo vệ vùng Đông Nam Bộ Nay gồm Thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình
Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An và Tây Ninh.
Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang Quân khu 7
11
vừa xây dựng vừa chiến đấu, từ trong muôn vàn thiếu thốn, gian khổ hy sinh, đã
sáng tạo ra những cách đánh hết sức độc đáo, có hiệu quả, lập nên nhiều chiến
công xuất sắc ở cả ba vùng đô thị, đồng bằng và rừng núi, góp phần làm chuyển
đổi cục diện chiến trường, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch,
cùng quân và dân cả nước làm nên trận Điện Biên Phủ và cuộc Tổng tiến công
mùa Xuân năm 1975.
Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy chủ nghĩa anh hùng
cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 7
thực hành quân quản, sắp xếp lại lực lượng, khắc phục hậu quả chiến tranh, tham
gia xây dựng chế độ xã hội mới: Vừa đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại của địch,
xây dựng tiềm lực quân sự - quốc phòng, vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ biên
giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế xây dựng và bảo vệ đất nước Campuchia,
góp phần đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong bối cảnh lịch sử mới, lực
lượng vũ tranh Quân khu 7 tập trung xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ và từng bước hiện đại, ra sức huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trải qua hơn 60 năm, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng vũ
trang Quân khu 7 được tặng thưởng: 02 Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương
Hồ Chí Minh, 01 Huân chương Quân công hạng nhất và 340 cá nhân Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân. Thành phố Hồ Chí Minh và hầu hết các tỉnh của
Quân khu 7 đều được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh
và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Lực lượng vũ trang Quân khu 7 luôn chú trọng việc quán triệt các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy
quân sự Trung ương, Bộ quốc phòng, vận dụng linh hoạt sáng tạo đường lối quân
sự, đường lối ngoại giao, thống nhất ý chí và hành động, khắc phục khó khăn,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao.
Kế thừa và phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà ông, cha đã dày
công vun đắp, phấp đấu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 ngày càng lớn
mạnh, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang: “Trung thành vô hạn, chủ động sáng
tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng” lực lượng vũ trang Quân khu 7 mãi
mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
- Quân khu 9
Quân khu 9 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt nam nằm trên một địa bàn
chiến lược trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, bảo vệ vùng Đồng bằng
Sông Cửu long gồm 12 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng
Tháp, Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang, Kiên giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
có nhiệm vụ quản lý, tổ chức, xây dựng và chỉ huy quân đội chiến đấu bảo vệ
vùng Đồng bằng Sông Cửu long Việt Nam. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của
Quân khu 9 là các đồng chí Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Văn Bé.
12
Hiện nay, Quân khu 9 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó
Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính
trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc
khác. Quân khu 9 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân
quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.
Ngày truyền thống: 10/12/1945
- Bộ Tư Lệnh Thủ đô Hà Nội
Ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, lực lượng vũ trang
(LLVT) Thủ đô Hà Nội là một bộ phận quan trọng của LLVT nhân dân Việt Nam
đã kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm của Thủ
đô Hà Nội, truyền thống “Ngàn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội” cùng các
tầng lớp nhân dân Thủ đô viết nên trang sử hào hùng, góp phần làm rạng danh
non sông đất nước.
Trước và trong cách mạng tháng Tám, các đội tiền thân của LLVT Thủ đô
xung kích đi đầu, làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu
tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện khi thời cơ đến vùng dậy khởi
nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, góp phần quyết định thắng lợi cách mạng
tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân,
lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, giành độc lập tự do cho dân tộc, mang
lại quyền làm chủ cho nhân dân Việt Nam. LLVT Thủ đô Hà Nội đã cùng các
tầng lớp nhân dân kiên quyết đấu tranh đập tan hoạt động chống phá của kẻ thù,
bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam thoát ra
khỏi tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946 hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng,
quân và dân Chiến khu XI với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nổ
súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung,
quân và dân Thủ đô nói riêng mãi mãi lưu truyền cuộc chiến đấu 60 ngày đêm,
làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, vượt chỉ tiêu
Trung ương giao, bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước,
tạo điều kiện cho cả nước có thời gian thực hiện công việc kháng chiến lâu dài.
Suốt chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT Thủ đô Hà Nội đã
kiên trì trụ vững bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, dựa vào dân chiến đấu và lập
được nhiều chiến công vẻ vang. Nhiều trận đánh tiêu biểu, hiệu quả để lại kinh
nghiệm quý cho chiến tranh nhân dân, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng
trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Các địa phương thuộc tỉnh Hà Đông và
Sơn Tây là địa bàn hoạt động của các đơn vị LLVT Mặt trận Hà Nội, nhiều địa
phương được xây dựng thành căn cứ kháng chiến và căn cứ của Bộ chỉ huy Mặt
trận Hà Nội, hai tỉnh cung cấp nhiều nhất cho Hà Nội lương thực, thực phẩm…
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang Thủ đô
vừa sản xuất, vừa tăng cường chi viện cho chiến trường, dũng cảm, kiên cường,
13
mưu trí, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không, không quân quốc
gia đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc, đỉnh
cao là cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972, lập nên kỳ tích
của thế kỷ XX Hà Nội “Điện Biên Phủ trên không” để trở thành “Thủ đô lương
tri và phẩm giá con người”.
Thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, LLVT Thủ đô luôn
nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt mọi khó khăn, vừa tăng cường chi
viện cho các mặt trận bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là lực lượng
nòng cốt góp phần cùng các tấng lớp nhân dân Thủ đô làm thất bại âm mưu thủ
đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, bảo vệ, kiến thiết Thủ đô
ngày càng văn minh, hiện đại.
Trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến
sĩ LLVT Thủ đô Hà Nội lập nên những chiến công oanh liệt, viết nên những trang
sử hào hùng, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Sự hy sinh, cống hiến cùng những chiến công của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã
hun đúc nên giá trị tiêu biểu, đặc sắc như lời Bác Hồ khen “Quyết tử để Tổ quốc
quyết sinh”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự thương yêu đùm bọc giúp đỡ của nhân dân,
lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô đã không ngại gian khổ hy sinh
ra sức phấn đấu xây dựng và vun đắp nên truyền thống Anh hùng, hoàn thành xuất
sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của LLVT
Thủ đô là vinh dự và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô hôm
nay.
Ngày truyền thống
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, ngày
19/10/1946, Chiến khu XI - Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT
Thủ đô Hà Nội được thành lập. Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Trung ương. Ngày 25/7/1947 trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương ra
quyết định địa bàn hoạt động của Chiến khu XI được mở rộng bao gồm: Hà Nội,
Hà Đông và Sơn Tây. Qua Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động quân sự,
quốc phòng của Chiến khu XI đã mang đầy đủ tính chất chức năng, nhiệm vụ của
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay. Vì vậy, ngày 19/10/1946 là ngày truyền
thống của LLVT Thủ đô Hà Nội theo Quyết định số 1850/QĐ-QP ngày 31/5/2010
của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
2.1.4. Giới thiệu chung về các Quân đoàn
Quân đội nhân dân Việt Nam có các Quân đoàn 1, 2, 3 và 4. Mỗi quân đoàn
có 3-5 sư đoàn bộ binh và các đơn vị thiết giáp, công binh, pháo binh, phòng
không, thông tin, hóa học...
- Quân đoàn 1 : “Thần tốc - Quyết thắng”
14
Là quân đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam,
được thành lập ngày 24/10/1973. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân đoàn 1 là các
đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hoà. Quân đoàn 1 hiện nay có Tư lệnh và các Phó
Tư lệnh, Chính uỷ, Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công
tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc khác.
Trước diễn biến trên chiến trường và trước các điều kiện khách quan và chủ
quan, vấn đề xây dựng các quân đoàn, binh chủng hợp thành có sức cơ động cao,
hoả lực mạnh, sức đột kích lớn, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có
ý nghĩa chiến lược trở thành yêu cầu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển
của quân đội ta. Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng
10/1973 Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập
các quân đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 24/10/1973, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
đã ký Quyết định số 124/QĐ-QP thành lập Quân đoàn 1.
Ngay sau khi thành lập, trong điều kiện vừa ổn định tổ chức biên chế, vừa
huấn luyện và xây dựng, chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, Quân đoàn 1 đã khẩn
trương xây dựng Quân đoàn thành một Binh đoàn chủ lực, cơ động chiến lược của
Quân đội nhân dân Việt Nam: có khả năng chiến đấu cao, cơ động lớn, đột kích
mạnh, có khả năng tác chiến tập trung hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn.
Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 1 vừa thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sẵn sàng chiến
đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương chiến lược của cả nước, vừa
chủ động khắc phục những khó khăn to lớn về cơ động, về hậu cần - kỹ thuật và
chuẩn bị chiến trường, đã tổ chức cuộc hành quân “thần tốc” chưa từng có trong
lịch sử quân đội ta từ Bắc vào Nam chỉ trong 11 ngày đêm đã vượt chặng đường
dài hơn 1.700 km, kịp thời vào trực tiếp tham gia chiến đấu trên hướng Bắc Sài
Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhạy bén với tình hình, biết chủ động
nắm và chớp thời cơ, hạ quyết tâm chính xác, vận dụng sáng tạo cách đánh, nghệ
thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng, phù hợp với thực tiễn chiến trường, với lối
đánh “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, Quân đoàn đã kiên quyết tiến công,
táo bạo bất ngờ đánh chiếm những mục tiêu quan trọng có tính chiến lược trong
hệ thống phòng thủ của địch trên hướng Bắc Sài Gòn; tiêu diệt và bức hàng hoàn
toàn Sư đoàn 5 ngụy giải phóng tỉnh Bình Dương; táo bạo thọc sâu đánh chiếm
Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan đầu não của Quân nguỵ Sài Gòn, Quận lỵ Gò Vấp,
Tiểu khu Gia Định, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải
phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng nên truyền thống vẻ
vang “Thần tốc - Quyết thắng” của Quân đoàn.
Ngay sau ngày đất nước được giải phóng, trước yêu cầu khẩn trương của
sự nghiệp cách mạng, Quân đoàn 1 lại một lần nữa thực hiện cuộc hành quân
“Thần tốc” từ miền Nam trở về miền Bắc làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, cơ
động dự bị chiến lược của Bộ. Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên
15
các vùng biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, Quân đoàn 1 vừa hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ huấn luyện lực lượng tăng cường cho các đơn vị chiến đấu ở tuyến
trước, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu phòng ngự thay phiên, giữ vững một vùng
biên cương Tổ quốc, góp phần quan trọng cùng quân và dân cả nước đánh thắng
quân xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, các đơn vị của Quân đoàn 1 được trang
bị thêm nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại; tổ chức nhiều cuộc diễn tập chiến đấu
hiệp đồng quân binh chủng phục vụ công tác nghiên cứu khoa học - nghệ thuật quân
sự hoặc “làm mẫu” thực nghiệm cho toàn quân huấn luyện chiến đấu.
Ngày truyền thống: 24/10/1973
Với những chiến công và thành tích xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ và xây
dựng đất nước, Quân đoàn 1 đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương
Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (29/8/1985).
- Quân đoàn 2: “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng”
Quân đoàn 2 là quân đoàn chủ lực cơ động của QĐND Việt Nam, được thành
lập ngày 17/5/1974, tại Trị - Thiên. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân đoàn là các
đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Linh. Quân đoàn 2 hiện nay có Tư lệnh và các Phó Tư
lệnh, Chính uỷ, Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác
tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc khác.
Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương
Đảng về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng 10/1973 Quân uỷ
Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập các quân đoàn chủ
lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, ngày 17/5/1974, Quân đoàn 2
được thành lập tại Ba Nang - Ba Lòng - Quảng Trị.
Sự ra đời của Quân đoàn 2 thể hiện sinh động quy luật về xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân
đoàn là tham gia tổ chức các chiến dịch quy mô bằng sức mạnh hiệp đồng binh
chủng, thực hiện những đòn tiêu diệt lớn lực lượng địch, phối hợp với các lực
lượng tại chỗ và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân giải phóng hoàn
toàn miền Nam. Để thực hiện nhiệm vụ này, yêu cầu đặt ra đối với Quân đoàn là
phải xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao,
thành thạo tác chiến tập trung hiệp đồng quân, binh chủng.
Sau khi thành lập, quân đoàn đã mở các cuộc tiến công đầu tiên thắng lợi ở
Thượng Đức, La Sơn - Mỏ Tàu, mở rộng các vùng giải phóng, đánh bại cuộc phản
công của Sư đoàn Dù - con át chủ bài của lực lượng tổng dự bị chiến lược của
Quân đội Sài Gòn, góp phần để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
có thêm căn cứ thực tế khi phân tích tình hình, đánh giá so sánh lực lượng địch -
ta và hạ quyết tâm chiến lược chính xác.
Đầu năm 1975, Quân đoàn 2 đã đẩy mạnh các hoạt động phối hợp chiến
trường và tác chiến tạo thế ở Nam Thừa Thiên. Khi thời cơ xuất hiện, cùng với
16
các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5, Quân đoàn đã tiến công
liên tục tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 1, Quân khu 1 và Sư đoàn hải
quân đánh bộ của Quân đội VNCH Sài Gòn, góp phần quyết định thực hiện thắng
lợi Chiến dịch Trị - Thiên - Huế, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế và Quảng
Nam - Đà Nẵng.
Để phát triển ưu thế chiến lược có lợi cho ta trên toàn bộ chiến trường miền
Nam, theo Mệnh lệnh của Bộ, Quân đoàn 2 đã tổ chức và thực hiện xuất sắc cuộc
hành quân thần tốc trong 18 ngày đêm, tiến công địch trong hành tiến dọc duyên
hải miền Trung, góp phần quyết định tiến công đập tan lực lượng, và các tuyến
phòng ngự của Địch ở Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, giải phóng các tỉnh Ninh
Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy, khu vực phòng thủ từ xa của Quân VNCH trên
hướng Đông, góp phần làm thay đổi cán cân lực lượng gữa ta và địch ở Nam Bộ,
mở thông tuyến đường số 1 kéo dài từ miền Bắc tới tận cửa ngõ phía Đông và
Đông Bắc Sài Gòn, mở thêm một tuyến đường tiếp tế hậu cần chiến lược, tạo một
thế trận chung thuận lợi cả về chiến lược và chiến dịch.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 2 đã tổ chức đội hình
chiến đấu có lực lượng đột kích mạnh gồm xe tăng, pháo binh, pháo phòng không
và bộ binh, cùng với quân và dân vùng Đông và Đông Nam Sài Gòn tiến công
dũng mãnh, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng địch phòng ngự trên hướng
này, nhanh chóng đưa lực lượng thọc sâu đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng,
Dinh Độc lập, Phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn bắt Tổng thống và toàn bộ
nội các chính quyền Sài Gòn; góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất đất nước.
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Quân đoàn 2 tiếp tục nhận và hoàn
thành thắng lợi nhiều nhiệm vụ khác nhau. Đặc biệt trước yêu cầu của cuộc chiến
tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, Quân đoàn đã thực hiện xuất sắc cuộc hành quân
thần tốc từ miền Trung vào mặt trận, phối hợp cùng với các đơn vị bạn, Quân
đoàn 2 đã liên tục phản công, tiến công địch, góp phần xứng đáng vào chiến công
oanh liệt, đánh bại cuộc tiến công xâm lược của địch ở biên giới Tây Nam và làm
tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả; giải phóng đất nước Cămpuchia thoát khỏi nạn diệt
chủng, giúp Đảng nhân dân cách mạng Cămpuchia củng cố chính quyền cách
mạng cơ sở.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đoàn thường
xuyên huấn luyện, tổ chức các cuộc diễn tập nghiên cứu, thực nghiệm, kiểm tra
với quy mô lớn để từng bước hoàn chỉnh các phương án, hình thức tác chiến mới
phù hợp với chiến lược quốc phòng - an ninh của Đảng trong thời kỳ mới; đồng
thời nỗ lực xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng với truyền thống
“Thần tốc, táo bạo, quyết thắng” trong chiến đấu; “chủ động, tích cực, sáng tạo”
trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại,
thực sự là “quả đấm thép” chủ lực của Bộ Quốc phòng.
Ngày truyền thống: 17/5/1974
17
Với những thành tích vẻ vang trong chiến đấu, Quân đoàn 2 vinh dự được
Đảng và Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
(ngày 28/9/1985).
- Quân đoàn 3
Là quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam, được
thành lập ngày 26/3/1975. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân đoàn 3 là các
đồng chí Vũ Lăng, Đặng Vũ Hiệp. Quân đoàn 3 hiện nay có Tư lệnh và các Phó
Tư lệnh, Chính uỷ, Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt
công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc khác.
+ Quá trình hình thành và phát triển
Ngay sau khi Tây Nguyên được giải phóng, ngày 26/3/1975, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng
Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định số 54/QĐ-QĐ thành
lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Quân đoàn 3 được thành lập có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự ra đời
của quân đoàn chủ lực cơ động thứ 4 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo
quyết định của Bộ Quốc phòng, cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ Tư
lệnh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Với thành
phần là các đơn vị thuộc khối chủ lực B3 đang trong quá trình phát triển chiến
dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 3 là một binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành
hoàn chỉnh, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, sức cơ động cao, hoả lực mạnh,
có trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng; có thể độc lập tiến
hành một chiến dịch hoặc đảm nhiệm hướng chủ yếu trong đội hình chiến dịch
lớn của cấp trên, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến
lược.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ
đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu nhất của chiến dịch từ Tây Bắc vào Sài Gòn,
Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã nhanh chóng tổ chức quán triệt nhiệm vụ, xây dựng
quyết tâm chiến đấu, phương án tác chiến, gấp rút điều động lực lượng từ các
hướng cơ động về Tây Bắc Sài Gòn tham gia chiến dịch. Phát huy truyền thống
“Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực”, với phương
châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến: “Mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, đánh liên
tục nắm chắc thời cơ thọc sâu phát triển nhanh”, Quân đoàn 3 đã phối hợp chặt
chẽ với các lực lượng vũ trang địa phương, các cánh quân tiến công Sài Gòn từ
các hướng, lần lượt đánh chiếm và làm chủ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Đồng Dù,
Hóc Môn, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng
Tham mưu quân đội chế độ cũ… hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp
phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, Quân đoàn 3 được lệnh nhanh chóng
cơ động lực lượng lên Tây Ninh đánh địch. Với phương châm vừa chiến đấu, vừa
xây dựng củng cố, quân đoàn đã mở nhiều chiến dịch và các đợt hoạt động, đánh
18
bại quân địch; đồng thời với tinh thần quốc tế cao cả, Quân đoàn 3 đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ giúp đỡ lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, giúp nhân
dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Tháng 7/1979, Quân đoàn 3 cơ
động toàn bộ lực lượng từ Campuchia về nước làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu, xây dựng chính quy, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận
chiến tranh nhân dân trên địa bàn chiến lược xung yếu.
+ Ngày truyền thống: 26/3/1975
Với những chiến công hiển hách trong chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN và làm nghĩa vụ quốc tế, Quân đoàn 3 đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên
dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (ngày 20/12/1979) và được nhà
nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Ăngco (năm 1979).
- Quân đoàn 4
Là quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành
lập ngày 20/7/1974. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân đoàn 4 là các đồng chí
Hoàng Cầm, Hoàng Thế Thiện. Quân đoàn 4 hiện nay có Tư lệnh và các Phó Tư
lệnh, Chính uỷ, Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác
tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc khác.
Tư lệnh Quân đoàn 4 hiện nay: Thiếu tướng Võ Trọng Hệ
Chính ủy: Thiếu tướng Hoàng Văn Nghĩa
+ Quá trình hình thành và phát triển
Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương
Đảng về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng 10/1973 Quân uỷ
Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập các quân đoàn chủ
lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Nam bộ và Cực Nam Trung Bộ, từ đầu
năm 1974 Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã chỉ đạo lập phương
án tổ chức biên chế, dự thảo chức năng nhiệm vụ của một quân đoàn chủ lực trên
chiến trường.
Sau khi thông qua kế hoạch tổ chức biên chế, ngày 20/7/1974, đồng chí
Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục chính thức công bố
quyết định thành lập Quân đoàn 4 tại chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông
Nam Bộ. Với chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động của Bộ ở
chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là tiêu diệt quân địch, giải phóng
nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang 3 thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc
cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến
lược, một khu vực chiến trường, mục tiêu cuối cùng là giải phóng Sài Gòn.
Sau khi thành lập, căn cứ vào kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976 và
nhiệm vụ chiến đấu trước mắt trong mùa khô 1974 - 1975, Quân uỷ, Bộ Tư lệnh
Miền giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 4 mở chiến dịch ở Đường số 14 - Phước
Long, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một đoạn đường số
14; tiếp đó đánh bại quân địch nếu chúng phản kích, giữ vững vùng giải phóng.
19
Bằng cách đánh linh hoạt, mưu trí sáng tạo và dũng cảm Quân đoàn đã giành
thắng lợi trong chiến dịch Đường số 14 - Phước Long, phối hợp với Chiến dịch
Tây Nguyên và Chiến dịch Huế - Đà Nẵng theo kế hoạch tác chiến chiến lược,
vừa tạo địa bàn đứng chân, tập kết lực lượng và mở các hướng tiến công quan trọng
cho các lực lượng bạn đánh vào Sài Gòn. Đây là thắng lợi có ý nghĩa như một đoàn
trinhsát chiến lược giúpBộ Chính trị đưa ra quyết định chính xác quyết tâmgiải phóng
hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước trong năm 1975.
Ngày 02/4/1975, tại căn cứ Vĩnh An, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó Tư
lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 4
triển khai lực lượng trên hai hướng tiến công chiến lược là Đông và Tây Nam Sài
Gòn. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và để tạo điều kiện chiến
lược cho Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn với phương châm tác chiến “Đánh thắng,
tiến chắc”, ngày 09/4/1975 các lực lượng của Quân đoàn bắt đầu nổ súng tiến
công phòng tuyến Xuân Lộc của quân địch.
Sau nhiều lần tiến công quyết liệt, ngày 21/4/1975, Quân đoàn đã đập tan
phòng tuyến Xuân Lộc, giải phóng thị xã Xuân Lộc và toàn bộ tỉnh Long Khánh.
Với đội hình chiến đấu mạnh, cách đánh linh hoạt, các mũi tiến công của Quân
đoàn lần lượt đánh chiếm Trảng Bom, tuyến phòng thủ Hố Nai, khu vực phòng
thủ Biên Hoà của địch, phát triển tiến công vào nội thành Sài gòn, cùng với các
cánh quân khác kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sau năm 1975 Quân đoàn ngoài làm nhiệm vụ quân quản ở thành phố Sài
Gòn - Gia Định, tham gia vào bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, làm
tốt nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của
chế độ Pôn Pốt - Yêngxari; đồng thời, quân đoàn còn giúp xây dựng, huấn luyện
lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, xây dựng và củng cố chính quyền mới,
góp phần củng cố và thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị truyền thống giữa
nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia anh em.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
Quân đoàn 4 đang tập trung huấn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp và trình độ
sẵn sàng chiến đấu, đảm bảo cho Quân đoàn có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ
trước mắt và lâu dài. Xây dựng quân đoàn chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh toàn diện, đảm bảo tốt công tác hậu
cần, kỹ thuật, chăm lo cho đời sống bộ đội và tích cực xây dựng cơ sở chính trị ở
địa phương vững mạnh, xứng đáng là quân đoàn cơ động, chủ lực của Bộ đóng ở
phía Nam của Tổ quốc, phát huy truyền thống “Trung thành, đoàn kết, anh dũng,
sáng tạo, tự lực, quyết thắng”.
+ Ngày truyền thống: 20/7/1974
Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc,
Quân đoàn 4 vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân (1980).
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hiểu biết chung về quân binh chủng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_hieu_biet_chung_ve_quan_binh_chung.pdf

