Đo lường nổi về ấn tượng ban đầu trong nhận thức về sản phẩm mới

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
ĐO LƯỜNG NỔI VỀ ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU TRONG NHẬN THỨC VỀ  
SẢN PHẨM MỚI  
EXPLICIT MEASURE OF FIRST IMPRESSION IN THE PERCEPTION OF NEW  
PRODUCTS  
TS. Ngô Thị Khuê Thư  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Khái niệm về ấn tượng ban đầu thường xuyên được sử dụng trong tâm sinh lý xã hội nhưng chưa thật sự  
được khai thác mạnh mẽ trong Marketing. Ngay cả khi ấn tượng ban đầu xuất hiện hàng ngày trong thế giới  
thương mại, nhưng quả thật không dễ để đo lường khái niệm này. Phương pháp đo lường nổi cho phép  
chúng ta khẳng định rằng ấn tượng ban đầu về sản phẩm mới được hình thành ngay từ những giây đầu tiên  
và mang đến cho chúng ta một nhận thức tối thiểu về sản phẩm mới. Việc xây dựng tiến trình thực nghiệm đã  
được thực hiện một cách nghiêm túc trên những chiếc xe ô tô mới đang trên đường thương mại hóa tại Việt  
Nam.  
Từ khóa: ấn tượng ban đầu, hiệu ứng đầu tiên, phản ứng cảm xúc, phương pháp trực tiếp, đo lường nổi.  
ABSTRACT  
The concept of first impression is frequently used in social psychology, but it hasn’t been forcefully  
exploited in Marketing. Even though this notion appears daily in the business world, it is not always easily  
measured. Explicit mesure allows us to affirm that the first impression of the new products is formed during the  
first seconds and then, it provides us minimal perception of product. The process of the experiment was  
seriously carried out among new cars being commercialized in Vietnam.  
Keywords: first impression, primary effects, affective reaction, direct method, explicit measure.  
hướng nhớ về những ấn tượng ban đầu của họ  
tốt hơn là những chỉnh sửa về sau  
(Bernstein,2006). Nhìn chung, bản chất của  
khái niệm này là ấn tượng ban đầu được hình  
thành một cách nhanh chóng, tức thời từ một ý  
nghĩ ban đầu về người hay vật vào thời điểm  
quan sát, với một nỗ lực nhận thức tối thiểu  
nhưng lại có thể để lại dài lâu.  
1. Đặt vấn đề  
Ấn tượng ban đầu được đề cập đến như  
một chủ đề nóng trong marketing ngày nay.  
Nhiều nhà nghiên cứu đã khai thác khái niệm  
này trong những lịch vực khác nhau, không chỉ  
trong tâm sinh lý học mà còn trong những lĩnh  
vực khác như nguồn nhân lực, giáo dục, thiết  
kế mạng, quảng cáo,… Ambady (2008) đã  
định nghĩa ấn tượng ban đầu như là sự nhận  
thức và hình thành ý tưởng ban đầu trên vật thể  
hay người khác. Và chủ thể hình thành những  
ấn tượng ban đầu một cách tức thời với nỗ lực  
nhận thức tối thiểu. (Ambady,2008). Điều đó  
có nghĩa là những đánh giá trên người khác  
thường được hình thành rất nhanh chóng và đột  
ngột nhưng lại có thể tồn tại bền vững theo thời  
gian. Berstein cũng đồng ý rằng ấn tượng ban  
đầu được hình thành một cách nhanh chóng và  
khó mà thay đổi bởi những thông tin mới  
thường được nhắm đến những diễn dịch đầu  
tiên trên người hay vật. Con người có xu  
Những đặc điểm về ấn tượng ban đầu này  
cũng đã khá đủ để hiểu rõ rằng chỉ cần một cái  
nhìn chớp nhoáng, chúng ta đã có thể để lại  
một ấn tượng bền vững về đối tượng, nếu  
không có bất kì một sự thay đổi quan trọng nào  
xảy đến. Quả vậy, từ lâu ấn tượng ban đầu trên  
người đã tồn tại, thế nhưng các cuộc nghiên  
cứu trước chỉ dừng lại ở việc xem xét ấn tượng  
ban đầu hình thành trên các khuôn mặt người  
“lạ” mà chưa quan tâm thật sự đến sự hình  
thành của ấn tượng ban đầu trên vật thể…Vậy  
thì, những câu hỏi được đặt ra ở đây là có tồn  
159  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tại một ấn tượng ban đầu của người tiêu dùng  
chuẩn “vàng” để xác định sự chính xác của ấn  
tượng ban đầu.  
Estes (1938) đã có một nghiên cứu đầu tiên  
trên một sản phẩm “lạ” hay không? Nếu có thì  
chúng ta hình thành ấn tượng ban đầu đó như  
thế nào? Nói một cách khác, ở mức thời gian  
nào thì người tham gia có một ấn tượng ban  
đầu về sản phẩm mới? đó là một ấn tượng tích  
cực hay tiêu cực?  
về vấn đề này. Ông ta đã so sánh các ấn tượng  
về sự cá thể hóa của người tham gia với những  
đánh giá tự bạch của đối tượng. Kết quả đã cho  
thấy rằng, sau khi xem xong 1 đoạn video 2  
phút, ấn tượng ban đầu của người tham gia  
được xác định với các đặc điểm xúc cảm, ức  
chế hay thờ ơ (Estes,1938). Kruglanski (1989)  
đã chỉ ra rằng có ít nhất 3 cách để xác định tính  
chính xác của ấn tượng ban đầu về đối tượng  
bằng việc sử dụng kỹ thuật này. Đầu tiên,  
chúng ta có thể tiến đến xác định mức độ tương  
thích giữa một nhận xét của người tham gia  
(như ấn tượng về tính cá thể hóa của đối tượng)  
và một tiêu chuẩn (tự đánh giá về tính cá thể  
hóa của đối tượng). Thứ hai, chúng ta có thể  
tiến đến xác định sự hội tụ liên cá nhân: là viêc  
đo lường trong đó các cá nhân nhận xét độc lập  
nhau nhưng đều đi đến cùng một kết luận liên  
quan đến tính cá thể hóa của một đối tượng.  
Một công cụ thứ 3 liên hệ đến đo lường tính  
hữu dụng của một đánh giá, chẳng hạn như  
một đánh giá về tính cá thể hóa mô tả một cách  
chính xác hành vi của một đối tượng trong tình  
huống cụ thể (Kruglanski,1989).  
Để giải quyết những câu hỏi này, chúng ta  
sử dụng một phương pháp thường được sử  
dụng trong tâm sinh lý học để đo lường những  
phản ứng trên gương mặt người. Đó là phương  
pháp đo lường trực tiếp (đo lường nổi) bằng  
thực nghiệm. Chúng ta sử dụng phương pháp  
này để đo lường nhận thức ban đầu của người  
tiêu dùng về sản phẩm mới. Chúng ta đề nghị  
một chuỗi thời gian kích thích từ 10s, 20s, 30s,  
45s, 60s và 80s trong thực nghiệm.  
2. Phương pháp nổi hay còn gọi là đặt câu  
hỏi trực tiếp:  
2.1. Lý thuyết về đo lường nổi:  
Fazio và Olson (2003) đã giải thích rằng  
những đo lường nổi sử dụng một cách thức thu  
thập dữ liệu tập trung trực tiếp trên đối tượng  
điều tra. (Fazio và Olson,2003). Trendel (2006)  
đã định nghĩa “một đo lường nổi như là một đo  
lường đạt được bằng việc đặt các câu hỏi trực  
tiếp lên chủ thể”. (Trendel, 2006). Theo  
Corneille, những thái độ “rõ ràng” đến từ một  
cách luyện tập có ý thức và gắn liền với phản  
ứng của người trả lời. Những đánh giá nổi  
thường duy trì một cách có ý thức trong bộ nhớ  
và xác định hành vi của chúng ta  
(Corneille,2010).  
Hiển nhiên rằng những câu hỏi tự báo cáo  
mang đến nhiều lợi thế khác nhau. Đầu tiên,  
các câu hỏi này cho phép người tham gia mô tả  
những kinh nghiệm riêng của họ. Thêm vào đó,  
chúng có thể yêu cầu người ta tiết lộ hành vi và  
cảm xúc của họ được gợi lên trong những tình  
huống thực tế.  
Và nghiên cứu tự báo cáo (tự bạch) thường  
được sử dụng như một phương tiện để đạt được  
những phản ứng của người tham gia trong  
nghiên cứu quan sát và thực nghiệm. Russell  
(2010) đã xác định rằng phương pháp này được  
sử dụng để đạt đến những thông tin trực tiếp  
của người tham gia về đối tượng từ những suy  
nghĩ và cảm xúc của họ (Russell,2010). Nhiều  
tác giả về tâm lý học cũng đã xem “tự đánh  
giá” như là tiêu chuẩn duy nhất hay là tiêu  
Tự đánh giá có thể được sử dụng như một  
kỹ thuật nghiên cứu để đo lường các biến và  
bản câu hỏi được xem là một loại phương pháp  
tự đánh giá, bao gồm một chuỗi các câu hỏi  
dưới hình thức được cấu trúc hóa. Bản câu hỏi  
sẽ bao gồm những câu hỏi mở (đòi hỏi khả  
năng tự bạch cao ở người tham gia) và những  
câu hỏi đóng (một lượng giới hạn những câu  
trả lời có thể) cho phép đạt được mục tiêu  
người nghiên cứu.  
160  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
mươi máy tính được đề nghị với phần mềm  
2.2. Thực nghiệm tại hiện trường:  
2.2.1. Mục tiêu của thực nghiệm:  
Inquisit được thiết lập trên máy tính để đo  
lường tốc độ phản ứng của người tham gia.  
Những điều kiện thực nghiệm được kiểm soát  
chặt chẽ cho mỗi nhóm 20 người. Những  
hướng dẫn cụ thể được đưa ra trước khi bắt đầu  
thực nghiệm từ nhóm này đến nhóm khác ở các  
lớp học trước khi đến phòng máy tính và ngay  
trên mỗi máy tính được thiết lập. Tiếp theo,  
mỗi nhóm gồm 20 người được mời di chuyển  
đến phòng máy tính để làm bài thực nghiệm đã  
được cài đặt sẵn trên máy. Người tham gia dựa  
vào các hướng dẫn cụ thể trên màn hình để đi  
đến cùng bài thực nghiệm. Mỗi đội ngũ gồm 5  
giám sát viên được thành lập để giúp đỡ những  
người tham gia khi cần thiết và để giảm thiểu  
hóa các giao tiếp giữa những người tham gia  
trong quá trình thực hiện bài thực nghiệm.  
Mục tiêu của chúng ta ở đây là xác định  
thời gian tối ưu để có một cấu trúc vững chắc  
về ấn tượng ban đầu. Thêm nữa, chúng ta  
khẳng định rằng ấn tượng ban đầu có thể cho ra  
những nhận thức tối thiểu về sản phẩm, là tích  
cực hoặc tiêu cực bằng việc quan sát diện mạo  
sản phẩm mới.  
2.2.2. Kế hoạch thực nghiệm:  
Chúng ta chọn ra 600 người tham gia trong  
đó khoảng 300 người thường xuyên và 300  
người không thường xuyên, tất cả họ đều được  
lựa chọn ngẫu nhiên và ở độ tuổi từ 25 đến 60  
tuổi. Thời gian trình chiếu diện mạo sản phẩm  
từ 10s, 20s, 30s, 45s, 60s, và 80s. Tương ứng  
với từng mốc thời gian là từng nhóm 100  
người tham gia vào thực nghiệm (50 người  
thường xuyên sử dụng xe ô tô và 50 người  
không thường xuyên). Việc thu thập dữ liệu  
được triển khai chủ yếu ở thành phố Đà Nẵng,  
Việt Nam. Để tìm ra những người tiêu dùng  
đáp ứng được tiêu chuẩn về việc sử dụng  
thường xuyên xe ô tô, chúng ta phải làm thực  
nghiệm tại “Trung tâm kiểm định ô tô cơ giới  
tại thành phố Đà Nẵng” nơi mà người tiêu  
dùng thường phải đến kiểm định chất lượng xe  
ô tô của họ cứ mỗi 3 tháng, 6 tháng hoặc 1  
năm/lần. Chúng ta thiết lập bản câu hỏi trên 4  
máy tính cá nhân trong phòng chờ để mà người  
tiêu dùng có thể trả lời. Mỗi người tiêu dùng  
chỉ làm bài thực nghiệm một lần duy nhất khi  
nhìn thấy những chiếc ô tô mới xuất hiện trên  
màn hình máy tính. Những hướng dẫn cụ thể  
được chỉ ra trên màn hình và giống nhau cho  
từng nhóm người tham gia. Chúng ta đo thời  
gian tốc độ phản ứng của mỗi người nhờ vào  
phần mềm Inquisit mà chúng ta đã thiết lập  
trong máy tính cá nhân.  
a) Tiêu chuẩn lựa chọn “các hình  
ảnh sản phẩm ô tô”:  
Để thuận tiện cho việc hình thành ấn tượng  
ban đầu, chúng ta cần phải chọn những chiếc  
xe ô tô mới chưa xuất hiện hoặc không xuất  
hiện trên thị trường Việt Nam tại thời điểm làm  
thực nghiệm, hơn nữa tên nhãn hiệu của chúng  
hiếm hoặc không được biết đến tại Việt Nam.  
Chúng ta đã lựa chọn những chiếc ô tô châu  
Âu từ tạp chí chuyên về ô tô của Pháp và  
chúng ta chọn ra cho thực nghiệm ba mẫu xe  
mới đang được thương mại hóa ở thị trường  
châu Âu. Đó là một xe Citroen DS4, một xe  
Land Rover Évoque và một xe Saab 9.5.  
Số lượng mẫu xe được giới thiệu trong  
thực nghiệm được giới hạn ở 3 chiếc nhằm hạn  
chế thời gian quá dài của thực nghiệm. Chúng  
ta áp dụng những tiêu chuẩn xây dựng những  
tấm hình ô tô như sau:  
-Giữ nguyên diện mạo thực tế của  
chiếc xe hơi, màu sắc là giống nhau trên cả ba  
mẫu xe.  
Đối với người tham gia không sử dụng  
thường xuyên xe ô tô, chúng ta mời các sinh  
viên bằng hai và từ xa hoặc Master tại Đại Học  
Đà Nẵng để tham gia vào thực nghiệm. Hai  
-Mỗi tấm hình được chụp trên cùng  
các chiều giống nhau với phông nền chung  
màu trắng và được trình chiếu trên màn hình  
161  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
máy tính với cùng một kích cỡ. (chiều dài của  
hình ảnh là 1200 x 900 pixels), với logo của xe  
hơi cũng xuất hiện trong tấm hình.  
Về sản phẩm mới, theo Odou (2005),  
người tiêu dùng có thể chỉ tiến đến một sự  
đánh giá tổng thể về sản phẩm, và tiến trình  
đánh giá đó cho phép họ bộc lộ ra sự hình  
thành một ấn tượng ban đầu về sản phẩm  
(Odou, 2005). Chúng ta chọn những chiếc xe ô  
tô đời mới với diện mạo bên ngoài khác nhau  
và chưa xuất hiện hoặc không xuất hiện trên thị  
trường Việt Nam. Chúng ta cũng cần thiết thực  
hiện một đo lường tiền thực nghiệm để xác  
định cách tốt nhất để giới thiệu những chiếc xe  
hơi đến người tiêu dùng. Chúng ta đã kiểm  
nghiệm một chuỗi 12 người với các khả năng  
xuất hiện diện mạo ô tô khác nhau: mặt trước ô  
tô, mặt sau ô tô, và thân ô tô. Cuối cùng chúng  
ta đã kết luận rằng cách thức tốt nhất là một sự  
xuất hiện tổng thể gồm 3 khía cạnh ô tô trên  
cùng một hình ảnh như hình sau:  
b) Thang đo lường:  
Bản chất của ấn tượng ban đầu là hình  
thành rất nhanh chóng, tức thời và với một nỗ  
lực nhận thức thấp nhất. Điều đó có nghĩa là để  
đo lường nhận thức ban đầu của người tiêu  
dùng về sản phẩm mới, chúng ta sử dụng  
những thang đo về “phản ứng cảm xúc” hơn là  
những thang đo về “nhận thức” và thực tế các  
nhà nghiên cứu trước đã sử dụng thang đo về  
cảm xúc, đặc tính cá thể đã tồn tại trong lý  
thuyết để đo lường trên khuôn mặt người  
(Willis and Todorov,2006) (Nayor,2007)…  
Chúng ta nghiên cứu và ứng dụng thang đo  
“cảm xúc” trong bối cảnh Việt Nam theo tiến  
trình sau:  
Bảng 1: Ứng dụng thang đo có sẵn vào bối cảnh văn hóa Việt  
Chúng ta sử dụng thang đo cảm xúc trong  
môi trường đa văn hóa của Russell năm 1983  
để đo lường cảm xúc người tham gia đối mặt  
với hình ảnh ô tô mới. Chúng ta nhận thấy  
162  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
không có một ứng dụng nào về thang đo phản  
trong thang đo mới đạt được, trên cơ sở sự  
thông hiểu về nội dung thực nghiệm. Những  
cuộc phỏng vấn chuyên sâu được triển khai  
riêng biệt giữa các chuyên gia. Những từ  
(items) không phù hợp (thiếu sự logic) cũng  
được loại bỏ để có một bộ thang đo phù hợp  
trong bối cảnh Việt Nam. Thang đo cuối cùng  
đạt được. Với một mẫu gồm 111 người trả lời,  
chúng ta sử dụng phâp tích “Fréquence” trên  
phần mềm SPSS để sàng lọc các từ. Chúng ta  
sử dụng chỉ số trung bình (“Median”) là chỉ số  
không bị nhảy cảm với những giá trị tuyệt đối.  
Chỉ những từ đạt được một đánh giá trung bình  
về khả năng áp dụng từ 4 trở lên trên một thang  
đo 5 bậc là được lựa chọn. Một danh sách cuối  
cùng bao gồm 16 từ được xem xét và áp dụng  
trong bản câu hỏi tiếng Việt:  
ứng cảm xúc trong bối cảnh Việt Nam. Vậy thì,  
chúng ta cần đánh giá tính ứng dụng của thang  
đo bằng kỹ thuật dịch phản hồi (rétro-  
traduction). Từ thang đo của Russell (1983),  
chúng ta mời hai chuyên gia về tiếng Anh thực  
hiện một sự diễn dịch thang đo sang tiếng việt  
một cách độc lập nhau. Tiếp theo, từ thang đo  
mới được hình thành, hai chuyên gia ngôn ngữ  
khác sẽ diễn dịch ngược lại từ thang đo tiếng  
Việt sang thang đo tiếng anh một cách độc lập.  
Cuối cùng, những khác biệt cá nhân về diễn  
dịch thang đo được giải quyết bằng sự gặp mặt  
trao đổi giữa bốn chuyên gia. Thang đo mới  
bằng tiếng Việt được tạo ra và được đệ trình  
đến 3 chuyên gia người việt, là những nhà  
nghiên cứu chuyên sâu về hành vi người tiêu  
dùng, để xin ý kiến của họ về sự sáng tỏ nghĩa  
N
Tính từ tiếng Anh  
Tính từ tiếng Việt  
1
2
At ease  
Relaxed  
Pleased  
Aroused  
Satisfied  
Excited  
Thoải mái  
Thư giãn  
3
Vui mừng  
4
Kích thích (khơi dậy cảm hứng)  
Mãn nguyện  
5
6
Phấn khích  
7
Astonished  
Content  
Happy  
Ngạc nhiên  
8
Vừa ý  
9
Hạnh phúc sung sướng  
Hãnh diện  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Proud  
Fascinate  
Interested  
Noble  
Say mê  
Thú vị  
Sang trọng  
Valorous  
Reassured  
Desire  
Tôn vinh (Giá trị bản thân được nâng cao)  
An toàn, được đảm bảo  
Khát khao, thèm thuồng  
Chúng ta giới thiệu những hình ảnh xe ô tô  
mới lạ trên màn hình máy tính trong khoảng  
thời gian rất ngắn. Người tham gia tiếp theo  
được mời để đánh giá tính cuốn hút của xe hơi  
mà họ xem trên màn hình. Dẫu rằng khoảng  
thời gian xuất hiện diện mạo xe là rất ngắn,  
người tham gia có thể phát ra một nhìn nhận  
chính xác về sức cuốn hút của xe hơi mà họ chỉ  
thấy qua vẻ bề ngoài của xe. Chúng ta cũng đã  
đặt ra những câu hỏi mở để thu thập thông tin  
163  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
trên những lý do về việc hình thành các phản  
3. Kết quả đạt được  
ứng tức thời của người tham gia, chỉ bằng việc  
quan sát hình ảnh ô tô. Những phản ứng của  
người quan sát được ghi lại bằng phần mềm  
Inquisit trên máy tính.  
3.1. Ấn tượng ban đầu trên sản phẩm mới  
3.1.1. Trường hợp Citroën :  
Chú thích:  
1: Hoàn toàn không đồng ý  
2 : Không đồng ý  
3 : Không ý kiến  
4 : Đồng ý  
5 : Hoàn toàn đồng ý  
Để xác định thời gian tối ưu cho việc hình  
thành ấn tượng ban đầu, chúng ta xem xét hình  
dạng của những đánh giá có thay đổi theo thời  
gian. Chúng ta trình chiếu những hình ảnh xe  
hơi mới theo ba góc cạnh khác nhau của chiếc  
ô tô ( mặt trước, mặt sau và bên sườn xe) cho  
các mốc thời gian trình diễn khác nhau : 10s,  
20s, 30s, 45s, 60s và 80s. Tương ứng với từng  
mốc thời gian sẽ là các mẫu (100 người/ mẫu )  
phân biệt và độc lập nhau.  
Cuối cùng, chúng ta đã tìm ra rằng hình  
dạng đánh giá được hình thành và ổn định ngay  
164  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
từ 10s, và ấn tượng của người tham gia dần dần  
Cấu trúc về ấn tượng của những người  
tham gia là giống nhau và tịnh tiến theo thời  
gian trên tập hợp các yếu tố cấu thành. Những  
kết quả đạt được là trên những mẫu tách biệt,  
độc lập giữa các mốc thời gian.  
tăng lên một cách tích cực hay tiêu cực theo  
thời gian cho đến 80s nhưng việc kéo dài thời  
gian trình chiếu không kéo theo một sự thay  
đổi về hình dạng đánh giá. Chẳng hạn, trong  
trường hợp của Citroen, ấn tượng ban đầu của  
người tham gia về sản phẩm là tích cực dần lên  
cho đến 80s.  
3.1.2. Trường hợp Land Rover:  
Chú thích:  
1: Hoàn toàn không đồng ý  
2 : Không đồng ý  
3 : Không ý kiến  
4 : Đồng ý  
5 : Hoàn toàn đồng ý  
Chúng ta cũng tìm thấy rằng ấn tượng về xe  
Land Rover tăng dần lên một cách tích cực và  
tịnh tiến theo thời gian từ 10s đến 80s trên tập  
hơn các yếu tố cấu thành. Hình dạng của ấn  
tượng hình thành ngay từ 10s. Đánh giá của  
người tham gia càng tốt hơn khi thời gian trình  
165  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
chiếu càng tăng lên đến 80s.  
3.1.3. Trường hợp Saab:  
Chú thích:  
1: Hoàn toàn không đồng ý  
2 : Không đồng ý  
3 : Không ý kiến  
4 : Đồng ý  
5 : Hoàn toàn đồng ý  
Ngược với hai trường hợp Citroën và Land  
Rover, ở trường hợp này ấn tượng của người  
tham gia giảm dần theo thời gian và đạt được  
thấp nhất ở 80s. Điều đáng chú ý rằng sự giảm  
sút này cũng tịnh tiến theo thời gian và chúng  
ta rút ra kết luận rằng thời gian hình thành ấn  
tượng ban đầu là ngay từ 10s đầu tiên.  
Land Rover và Saab về thời gian hình thành ấn  
tượng ban đầu, còn về chiều hướng ấn tượng  
ban đầu thì trường hợp Saab có xu hướng tiêu  
cực dần cho đến 80s.  
Chúng ta cũng tìm thấy rằng đánh giá càng  
lúc càng sâu hơn khi mà thời gian trình chiếu  
càng lâu. Hình dạng ấn tượng của người tham  
gia tốt nhất ở 80s, bởi vì chúng ta càng cho  
nhiều thời gian cho người tham gia để đánh giá  
Tóm lại, chúng ta đạt được cùng một kết  
luận đối với cả ba trường hợp là xe Citroën,  
166  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
xe ô tô, thì những nhận xét của họ càng sâu  
lời của họ, có nghĩa là họ đã trả lời một cách  
tức thời với một nhận thức tối thiểu.  
hơn. Trong khi thời gian trung bình về phản  
ứng của khách hàng nhìn chung là rất ngắn, từ  
2s đến 5s. Chứng tỏ người tham gia không bị  
mất khá nhiều thời gian để suy nghĩ về câu trả  
3.2. Nhận thức ban đầu của người tiêu dùng  
về xe hơi  
3.2.1. Trường hợp Citroën :  
Các đặc tính của CITROEN  
10s  
80s  
Xếp loại  
Sang trọng và lịch lãm  
Mạnh mẽ, chắc chắn  
40  
13  
11  
45  
23  
17  
Nhận thức thứ 1  
Nhận thức thứ 2  
Nhận thức thứ 3  
Nhận thức thứ 4  
Nhận thức thứ 5  
Mang phong cách cá nhân hóa  
Hiện đại  
Nữ tính  
8
3
4
5
9
7
4
4
Tính thể thao  
Tính thời trang  
Nhận thức thứ 6  
Bảng 2: Các đặc tính nổi trội của Citroën  
Liên quan đến các câu hỏi mở về những  
đặc tính xe hơi gợi lên bởi người tham gia bằng  
việc quan sát diện mạo xe, chúng ta nhận được  
câu trả lời ngay từ 10s trình chiếu rằng Citroen  
là một xe ô tô rất sang trọng và lịch lãm, mạnh  
mẽ, cá thể hóa, hiện đại, thời trang và có phần  
nữ tính. Một điều còn khá thú vị là chúng ta rút  
ra cùng một kết quả về đặc tính xe hơi ở 80s.  
Điều này một lần nữa khẳng định rằng ấn  
tượng ban đầu của người tiêu dùng trên sản  
phẩm mới được hình thành ngay từ 10s.  
Hơn nữa, những người tham gia bị ấn  
tượng bởi những khía cạnh sau của xe hơi:  
Người tham gia bị ấn tượng bởi những khía cạnh  
sau của xe ô tô CITROEN  
10s  
80s  
Xếp loại  
Hình dáng của ô tô  
Vẻ bề ngoài của ô tô  
Lốp và vành bánh xe  
Mặt trước của xe  
Trần xe  
22  
10  
9
27  
30  
15  
11  
11  
11  
5
Nhận thức thứ 1  
Nhận thức thứ 2  
Nhận thức thứ 3  
7
5
Nhận thức thứ 4  
Hệ thống đèn  
4
Kiến trúc của xe  
Thùng xe  
7
Nhận thức thứ 5  
Nhận thức thứ 6  
5
4
Không có ấn tượng gì  
15  
2
Bảng 3: Người tham gia bị ấn tượng bởi những khía cạnh của xe ô tô Citroën  
167  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Nhìn chung, người tham gia bị ấn tượng  
càng trở nên tích cực hơn một khi thời gian  
trình chiếu hình ảnh xe hơi càng tăng lên dần  
dần.  
bởi các khía cạnh nổi bật của xe hơi như vóc  
dáng xe, hình ảnh tổng thể của xe, lốp và vành  
xe. Những ấn tượng của người tham gia ngày  
3.2.2. Trường hợp Land Rover  
Các đặc tính của LAND ROVER  
10s  
80s  
Xếp loại  
Nhận thức thứ 1  
Nhận thức thứ 2  
Nhận thức thứ 3  
Nhận thức thứ 4  
Nhận thức thứ 5  
Mạnh mẽ, chắc chắn  
Mang phong cách thể thao  
Sang trọng, lịch lãm  
38  
20  
19  
5
59  
14  
10  
31  
10  
Nam tính  
Mang phong cách cá nhân hóa  
9
Nhìn chung, xe Land Rover được người  
tiêu dùng cảm nhận là một loại xe hơi rất  
mạnh mẽ, chắc chắn và mang dáng dấp thể  
thao. Đây cũng được đánh giá là loại xe sang  
trọng và lịch lãm, nam tính và thể hiện phong  
cách cá nhân. Kết quả thực nghiệm cũng cho  
thấy các khía cạnh nổi bật của xe đã để ấn  
tượng mạnh nơi khách hàng, bao gồm hình  
dáng xe, các vành và lốp xe, khung gầm xe.  
Tất cả các đặc điểm này hình thành nên  
những nét nổi bật, đặc trưng của xe Land  
Rover, chỉ đơn giản bằng việc nhìn vẻ bề  
ngoài của xe trong khoảng thời gian trình  
chiếu ngắn từ 10s đến 80s.  
3.2.3. Trường hợp Saab :  
Các đặc tính của SAAB  
Xếp loại  
10s  
25  
19  
6
80s  
30  
27  
14  
8
Nhận thức thứ 1  
Nhận thức thứ 2  
Nhận thức thứ 3  
Nhận thức thứ 4  
Nhận thức thứ 5  
Sang trọng, lịch lãm  
Nữ tính  
Tầm thường  
Mang phong cách cá nhân hóa  
Đơn giản  
7
9
4
Đặc tính nổi trội nhất ở xe ô tô này là sang  
trọng và lịch lãm. Theo đánh giá của người  
tham gia, chiếc xe này dành cho phái nữ và  
mang phong cách cá nhân hóa. Đối với một số  
người tham gia khác, đây là một chiếc xe khá  
tầm thường và giản đơn. Một số những khía  
cạnh của xe được người tiêu dùng chú ý đến là  
vành và lốp bánh xe, kiểu dáng và hệ thống  
đèn xe.  
chúng ta thu được ở câu hỏi về những phản  
ứng cảm xúc của người tham gia đối mặt với  
diện mạo xe hơi. Chúng ta có thể khẳng định  
rằng ấn tượng ban đầu của người tham gia trên  
hình ảnh xe ô tô hình thành ngay từ 10s đầu  
tiên.  
4. Kết luận và thảo luận  
Những kết quả then chốt liên quan đến thời  
gian hình thành ấn tượng ban đầu và những  
thành tố tạo nên ấn tượng ban đầu của người  
Tóm lại, kết quả đạt được từ câu hỏi mở  
này là trùng khớp với kết luận cuối cùng mà  
168  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tham gia trên hình ảnh sản phẩm là đạt được  
tượng ban đầu hiện diện như là giai đoạn khám  
phá sản phẩm. Những món hàng, những bản  
thông báo, những buổi giới thiệu sản phẩm, các  
hoạt động khuếch trương sản phẩm, các thực  
đơn trong nhà hàng,… tất cả những mức độ  
tiếp xúc đầu tiên này đều có thể để lại một ấn  
tượng ban đầu trên một sản phẩm hay dịch vụ.  
Đặc biệt ngày nay, người tiêu dùng bị áp lực  
ngày càng tăng về thời gian, họ sẵn sàng vứt bỏ  
ngay lập tức những tờ quảng cáo, ngay cả  
không nhìn chúng…  
bằng phương pháp đo lường trực tiếp (đo  
lường nổi). Người tham gia được mời đánh giá  
trực tiếp sức hấp dẫn, sự lôi cuốn của ba mẫu ô  
tô mới xuất hiện trên màn hình máy tính.  
Chúng ta đã trình chiếu lần lượt những chiếc ô  
tô này theo ba chiều khác biệt (mặt trước, mặt  
sau và thân xe) cho những khoảng thời gian  
khác nhau : 10s, 20s, 30s, 45s, 60s và 80s.  
Bằng việc đo lường ở các mốc thời gian khác  
nhau, kết quả thu được là hội tụ giữa các nhóm  
người tham gia khác nhau, từ đó cho phép  
chúng ta kết luận rằng ấn tượng ban đầu của  
người tiêu dùng được hình thành ngay từ 10s  
đầu tiên và tạo ra cho chúng ta một nhận thức  
tối thiểu về sản phẩm mới. Hơn nữa, phương  
pháp này cung cấp nhiều thông tin nhận thức  
về sản phẩm mới và cho phép người tiêu dùng  
có một cái nhìn ban đầu về sản phẩm.  
Ấn tượng ban đầu nhắm đến hội tụ giữa  
nhận thức về sản phẩm mới của người tiêu  
dùng và nhà sản xuất, làm dễ dàng cho quá  
trình thâm nhập vào thị trường sản phẩm mới.  
Hơn nữa, dù ấn tượng ban đầu hình thành rất  
nhanh chóng, nhưng có thể để lại một ấn tượng  
dài lâu trong tâm trí khách hàng. Người tiêu  
dùng có thể tin vào « một mối nguy hiểm trong  
quá khứ » chỉ với một lần mua hàng đã qua.  
Những ấn tượng này có thể kéo theo điều chỉnh  
những nhận thức về sau của người tiêu dùng,  
chẳng hạn, nếu ấn tượng ban đầu là tiêu cực,  
thì tất cả những nhận thức sau đó về sản phẩm  
hay dịch vụ cũng sẽ được nhận thức một cách  
tiêu cực hơn…Chính vì vậy, các nhà quản trị  
cần quan tâm và quản trị ấn tượng ban đầu để  
tạo hình ảnh tốt trong tâm trí khách hàng, mang  
lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp./.  
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định rằng  
phương pháp nổi (phương pháp trực tiếp) xuất  
hiện như là phương pháp đo lường hiệu quả và  
thích đáng về ấn tượng ban đầu trên sản phẩm  
mới, đặc biệt đối với trường hợp chúng ta cần  
những ý tưởng của người tiêu dùng trên những  
khía cạnh về sản phẩm mới.  
Ở góc độ quản trị, nghiên cứu về ấn tượng  
ban đầu cho phép chúng ta có được những ứng  
dụng cụ thể gắn liền với khái niệm này trong  
marketing của các doanh nghiệp, và cung cấp  
cho các nhà quản trị những đề xuất chiến lược  
ngắn hạn và dài hạn cho doanh nghiệp. Ấn  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ambady N. (2008). In: First impressions. New York: The Guilford Press.  
[2] Bernstein DA, editor. (2006). Psychology 6th Edition: Wadsworth Publishing Company  
[3] Corneille O. 2010. Nos préférences sous influences. Belgique: Margada.  
[4] Estes SG. (1938) Judging personality from expressive behavior. Journal of Abnormal &  
Social Psychology 33:217-236  
[5] Fazio RH, Olson MA. (2003) Implicit measures in social cognition research: their meaning  
and use. Annual Review of Psychology 54:297-327  
[6] Kruglanski AW. (1989). The psychology of being "right": The problem of accuracy in social  
perception and cognition. Psychological Bulletin 106:395-409  
169  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
[7] Nayor RW. 2007. Nonverbal cues-based first impressions: Impression formation through  
exposure to static images. Marketing Letters 18:165-179  
[8] Russell JA. (1983). Pancultural aspects of the human conceptual organization of emotions.  
Journal of Personality and Social Psychology 45:1281-1288  
[9] Russell J, Lawton J-M. 2010. Researche Methods in Psychology. In: Exploring Psychology:  
AS Revision Guide for AS Level AQA "A". New York: Oxford University Press.  
[10] Trendel O. 2006. Impact de la congruence sur l'efficacité du parrainage: une reévaluation par  
les mesures implicites. In: Centre d'Etudes et de Recherche Appliqués à la Gestion (CERAG  
Grenoble UMR 5820 du CNRS). École doctorale de Sciences de Gestion E.D.275: Université  
Pierre Mendès France Grenoble 2.  
[11] Willis J, Todorov A. 2006. First Impressions: Making Up Your Mind After a 100-Ms  
Exposure to a Face. Psychological Science 17:592-598  
170  
pdf 12 trang Thùy Anh 16300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đo lường nổi về ấn tượng ban đầu trong nhận thức về sản phẩm mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_luong_noi_ve_an_tuong_ban_dau_trong_nhan_thuc_ve_san_pham.pdf