Sản phẩm xanh và tiếp thị xanh, trường hợp của đồ chơi trẻ em bằng nhựa

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Hoàng Mai  
SẢN PHẨM XANH VÀ TIẾP THỊ XANH,  
TRƯỜNG HỢP CỦA ĐỒ CHƠI TRẺ EM BẰNG NHỰA  
GREEN PRODUCTS AND GREEN MARKETING,  
THE CASE OF CHILDREN'S PLASTIC TOYS  
NGUYỄN HOÀNG MAI  
TÓM TẮT: Các nghiên cứu ở Việt Nam về rác thải nhựa gần đây hầu như chỉ tập trung vào túi  
nhựa và ống hút nhựa. Những sản phẩm nhựa khác cũng đang tạo ra một lượng chất thải rất lớn  
mỗi năm như đồ chơi trẻ em lại không nhận được sự quan tâm đúng mức. Ngoài ra, nhu cầu về các  
sản phẩm xanh cho đồ chơi trẻ em là rất cần thiết. Vì đồ chơi bằng nhựa đã được chứng minh có  
chứa kim loại nặng, có nguy cơ gây nguy hiểm cho sức khỏe trẻ em. Bài viết đề cập đến việc nghiên  
cứu tầm quan trọng của đồ chơi trẻ em thân thiện với môi trường, cụ thể tại Thành phố Hồ Chí  
Minh, Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng thái độ của người tiêu dùng đối với với các sản  
phẩm xanh và mức độ quan tâm của họ đến tình hình môi trường hiện nay là rất tích cực, đặc biệt  
là với các sản phẩm đồ chơi trẻ em thân thiện với môi trường.  
Từ khóa: đồ chơi trẻ em bằng nhựa; sản phẩm xanh; tiếp thị xanh; tiêu chí lựa chọn đồ chơi trẻ em.  
ABSTRACT: The literature on plastic watse recently focuses upon products such as plastic bag  
and plastic straw in Vietnam. There are products that create a very huge amount of waste every  
year such as plastic children's toys, have not received proper attention. Also, the need of green  
products for children's toys is essential since plastic children's toys were proved that contain heavy  
metals which are potential sources risk to children’s health. Therefore, this research aims at  
pioneering in doing research about the importance of green products for children's toys in Ho Chi  
Minh City, Vietnam. Based on the rationale and survey results, the research conclude that  
consumers’ attitudes towards green products and their level of interest in the current  
environmental situation are very positive. And there are statistics prove the high consumer  
awareness of environmentally friendly children toys.  
Key words: plastic children's toys; green products; green marketing; children's toy selection criteria.  
nhiên, mọi người lại không chú ý đến các sản  
phẩm đang hằng ngày âm thầm tạo ra một  
lượng rác thải nhựa khổng lồ, điển hình như đồ  
chơi trẻ em bằng nhựa. Có thể dễ dàng tìm thấy  
trong tất cả các hộ gia đình Việt Nam có trẻ em  
hàng tá đồ chơi bằng nhựa với đủ hình dạng,  
kích cỡ và màu sắc. Chúng tôi khi khảo sát  
quanh các trung tâm mua sắm và cửa hàng đồ  
chơi trẻ em phải thừa nhận rằng hơn 90% đồ  
chơi trẻ em được làm bằng nhựa. Vấn đề ở đây  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Với sự phát triển kinh tế nhanh chóng  
trong những năm gần đây, các vấn đề môi  
trường ở Việt Nam được chính phủ, các tổ chức  
và công dân của các thành phố lớn đề cập đến  
như một vấn đề toàn cầu cấp bách. Người tiêu  
dùng được kêu gọi giảm tiêu thụ đối với các  
sản phẩm nhựa bằng cách nói không với túi  
nhựa, ống hút nhựa; vốn được coi là nguyên  
nhân chính gây ra vấn nạn chất thải nhựa. Tuy  
 ThS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected], Mã số: TCKH23-05-2020  
134  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
là hầu hết những đồ chơi bằng nhựa này không  
được tái chế. Có rất nhiều câu hỏi và thách thức  
gia tăng hiện nay: Tại sao việc tái chế đồ chơi  
bằng nhựa lại khó khăn đến vậy? Làm thế nào  
chúng ta có thể thay đổi được điều này? Có thể  
cải thiện quá trình tái chế với công nghệ ngày  
nay?... Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự nóng  
lên toàn cầu, hiệu ứng nhà kính, xâm nhập mặn  
cũng như sự gia tăng mức độ tiêu thụ cho các  
sản phẩm như túi nhựa, ống hút nhựa. Do đó,  
cần có những nghiên cứu liên quan đến tiếp thị  
xanh cho đồ chơi trẻ em để thúc đẩy ý định và  
tiêu dùng xanh với sản phẩm này. Bên cạnh đó,  
sự cần thiết và nhu cầu cho sản phẩm đồ chơi  
trẻ em sạch dựa trên các đánh giá về đồ chơi  
hiện tại trên thị trường là rất cao.  
ích cho thế hệ tương lai [9]. Mặc dù việc đáp  
ứng nhu cầu tiện lợi vẫn là trọng tâm đối với  
hành vi của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường  
cũng đã dần trở thành mối quan tâm hàng đầu  
của họ [4]. Duy trì sự bền vững, cân bằng hệ  
sinh thái (sinh thái), tạo ra lợi nhuận (kinh tế)  
và con người (xã hội) là mối quan tâm cốt lõi  
[14]. Nhận thức và sự quan tâm tăng lên đối với  
tiêu dùng bền vững này dự kiến sẽ ảnh hưởng  
đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng  
[6]. Hơn nữa, tiêu dùng bền vững đã thu hút sự  
chú ý nhiều hơn từ các nhà ra quyết định của  
công ty do quy định môi trường chặt chẽ hơn và  
các quy định của các bên liên quan ngày càng  
tăng tập trung vào việc giữ gìn môi trường [8].  
2.1.1. Sản phẩm xanh  
Mục đích của bài viết là 1) điều tra kiến  
thức về sản phẩm xanh và 2) thái độ của người  
tiêu dùng đối với đồ chơi trẻ em bằng nhựa và  
đồ chơi trẻ em thân thiện với môi trường. Qua  
đó; 3) đề xuất các hoạt động tiếp thị xanh cho  
các công ty đồ chơi trẻ em. Để hoàn thành mục  
tiêu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp  
nghiên cứu bao gồm khảo sát, thống kê và phân  
loại. Cụ thể, một bảng câu hỏi đã được sử dụng  
để thu thập dữ liệu với số lượng 200 người  
được phỏng vấn tại Thành phố Hồ Chí Minh  
vào tháng 12 năm 2019 cho nghiên cứu này.  
Sử dụng kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích, tập  
trung vào các đối tượng có lối sống xanh và có  
kinh nghiệm mua sản phẩm xanh. Sau đó, dựa  
trên các kết quả khảo sát đưa ra các phân tích  
và so sánh. Cuối cùng là kết luận và kiến nghị,  
đặc biệt với các công ty sản xuất sản phẩm đồ  
chơi trẻ em.  
Thuật ngữ sản phẩm xanh được định nghĩa  
là các sản phẩm sẽ không gây ô nhiễm môi  
trường hoặc làm mất tài nguyên thiên nhiên và  
có thể được tái chế hoặc bảo tồn [10]. Các sản  
phẩm xanh là sản phẩm phù hợp với môi  
trường, được thiết kế và xử lý theo cách giảm  
tác động có thể gây ô nhiễm môi trường, cho  
dù trong sản xuất, phân phối và tiêu thụ [11].  
2.1.2. Tiếp thị xanh  
Định nghĩa tiếp thị xanh được cho là đã  
tích hợp các vấn đề môi trường vào các quy  
trình tiếp thị chiến lược [3]. Ba phương pháp  
tiếp thị xanh khác biệt: Làm hài lòng người tiêu  
dùng xanh với các sản phẩm xanh; Điều chỉnh  
hỗn hợp tiếp thị (Marketing Mix); Đạt được lợi  
thế cạnh tranh bằng cách áp dụng các giá trị và  
lợi ích xanh bằng cách chiếm lĩnh thị trường,  
quản lý nhu cầu về các sản phẩm bền vững  
trong quá trình sử dụng và sau khi sử dụng, và  
áp dụng các quy trình giải quyết các vấn đề ưu  
tiên cho môi trường [10]. Để ủng hộ các sản  
phẩm xanh, các nhà tiếp thị phải tập trung vào  
sở thích của người tiêu dùng và quá trình ra  
quyết định của họ.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Cơ sở lý luận  
Trong hai thập kỷ qua, “sống xanh” đã  
phản ánh sự ủng hộ của người dân đối với tiêu  
dùng bền vững [8]. Khi người tiêu dùng nhận  
thức được các vấn đề môi trường liên quan đến  
hành vi tiêu dùng của họ, họ tìm mua các sản  
phẩm thân thiện với môi trường để mang lại lợi  
2.1.3. Đồ chơi trẻ em bằng nhựa  
Điều tra, nghiên cứu cho biết, đồ chơi trẻ  
em bằng nhựa sản xuất tại Trung Quốc có chứa  
135  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Hoàng Mai  
kim loại nặng ở các nồng độ khác nhau. Với  
17% mẫu đồ chơi cho thấy nồng độ chì,  
cadmium, crom và các kim loại khác được xác  
định cao. Điều này đặt ra một mối đe dọa cho  
trẻ em khi tiếp xúc với đồ chơi [11]. Từ kết quả  
cho thấy đồ chơi bằng nhựa có nguy cơ tiềm ẩn  
ảnh hưởng lớn tới sức khỏe trẻ em. Một số liệu  
khác cũng khẳng định đồ chơi bằng nhựa có  
chứa nồng độ kim loại nặng cao hơn mức cho  
phép tối đa [2]. Các nhà vận động môi trường  
đã đề xuất các hành động cấp bách, cụ thể là áp  
dụng các chính sách để bảo vệ và giáo dục người  
tiêu dùng về những rủi ro do đồ chơi làm bằng  
nhựa gây ra. Ngoài ra, việc nói không với sản  
phẩm đồ chơi trẻ em làm bằng nhựa sẽ làm giảm  
lượng polime kim loại nặng được giải phóng ra  
môi trường vào cuối dòng đời của sản phẩm.  
2.1.4. Thái độ tiêu dùng  
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch giả định  
bao gồm ba yếu tố quyết định sâu sắc về mặt  
khái niệm của ý định đó là chuẩn mực chủ  
quan, kiểm soát hành vi nhận thức và thái độ  
đối với hành vi [1]. Trong đó yếu tố thái độ đối  
với hành vi đề cập đến mức độ mà một người  
có đánh giá hoặc đánh giá thuận lợi hoặc không  
đáng tin cậy về hành vi được đề cập. Cụ thể,  
trong bài viết này chúng tôi đi sâu vào khái  
niệm thái độ của người tiêu dùng đối với môi  
trường. Thái độ này được coi là sự đánh giá của  
một cá nhân đối với việc bảo vệ môi trường.  
Tiếp thị xanh phụ thuộc vào thái độ của người  
tiêu dùng đối với môi trường. Nếu không có  
nhu cầu mạnh mẽ về sự thay đổi thái độ của  
người tiêu dùng, các doanh nghiệp sẽ không nỗ  
lực nhiều hơn để tiến tới giới thiệu các sản  
phẩm và dịch vụ xanh [4].  
cuộc khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh vào  
tháng 12 năm 2019 với số lượng 200 người  
được phỏng vấn. Kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích  
đã được sử dụng, tập trung vào các đối tượng  
có lối sống xanh và có kinh nghiệm mua sản  
phẩm xanh. Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu  
này được tính toán dựa trên khuyến nghị [7].  
Áp dụng lấy mẫu thuận tiện với sai số 5% (độ  
tin cậy 95%), cỡ mẫu được chọn là 250. Việc  
sàng lọc và làm sạch dữ liệu được thực hiện để  
đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được có thể được  
sử dụng. Kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích đã được  
sử dụng, tập trung vào các đối tượng có lối  
sống xanh và có kinh nghiệm mua sản phẩm  
xanh. Sau khi sửa đổi, 200 bảng trả lời hợp lệ đã  
được thu thập và phân tích để có kết quả nghiên  
cứu thêm. Khảo sát này có mức ý nghĩa 0,05  
nghĩa là có 5% nguy cơ kết luận rằng có sự khác  
biệt tồn tại khi không có sự khác biệt thực sự.  
Sau khi tiến hành khảo sát, phần lớn số người  
được hỏi là nữ, đã kết hôn, có học thức, sinh  
sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với quy mô  
hộ gia đình từ ba đến năm người, có thu nhập  
hằng tháng cao hơn 25 triệu, hầu hết rơi vào  
nhóm tuổi 25-40.  
Để đánh giá thái độ của người tiêu dùng  
đối với các sản phẩm xanh và mức độ quan tâm  
của họ đến tình hình môi trường hiện nay,  
chúng tôi đã hỏi người được phỏng vấn một  
loạt câu hỏi theo thang đánh giá Likert, 40%  
người được phỏng vấn cho thấy họ cực kỳ quan  
tâm đến các vấn đề về môi trường; 33% người  
được phỏng vấn thể hiện sự quan tâm đến chiến  
dịch toàn cầu kêu gọi “Hạn chế sử dụng sản  
phẩm nhựa” và quan trọng nhất là 52% người  
được phỏng vấn thực sự quan tâm đến vấn đề  
“tái chế”. Tuy nhiên, vẫn còn 10% người được  
phỏng vấn không quan tâm đến tình hình môi  
trường hiện tại và 3% trong số họ không quan  
tâm đến vấn đề “tái chế”. Chi tiết được đưa ra  
trong bảng 1.  
2.2. Khảo sát  
Để đánh giá thái độ của người tiêu dùng  
đối với với các sản phẩm xanh và mức độ quan  
tâm của họ đến tình hình môi trường hiện nay  
cũng như thái độ của người tiêu dùng đối với  
các sản phẩm xanh và đặc biệt là các sản phẩm  
dành cho trẻ em, chúng tôi đã thực hiện một  
136  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
Bảng 1. Thái độ của người tiêu dùng đối với môi trường  
được hỏi đã từng tham gia vào các chương trình  
hoặc tổ chức bảo vệ môi trường.  
Cực kỳ quan tâm -------  
Không quan tâm (%)  
Trong phần tiếp theo, chúng tôi tập trung  
vào các câu hỏi điều tra ảnh hưởng của kiến thức  
về sản phẩm xanh đến thái độ của người tiêu  
dùng đối với đồ chơi trẻ em thân thiện với môi  
trường. Đầu tiên, chúng tôi hỏi những người được  
hỏi liệu họ có sẵn sàng tham gia các chiến dịch  
bảo vệ môi trường với con cái không, 73% trong  
số họ nói rằng, họ chắc chắn muốn tham gia. Tuy  
nhiên, 22% trong số họ vẫn không chắc chắn và  
có 5% người được hỏi nói rằng họ không muốn  
tham gia. Và khi được hỏi về tiêu chí chọn lựa đồ  
chơi cho trẻ em, bên cạnh hai tiêu chí quan trọng  
nhất mà người được phỏng vấn đề cập đến là thiết  
kế an toàn (75.6%) và chất liệu an toàn (77.3%)  
thì yếu tố thân thiện với trẻ nhỏ và môi trường  
cũng được những người được hỏi đánh giá rất cao  
(71.3%). Chi tiết được đưa ra trong bảng 2.  
Mức độ quan tâm đến tình hình  
40  
33  
52  
73  
30  
27  
41  
12  
20  
20  
4
10  
20  
3
môi trường hiện nay  
Mức độ quan tâm đến chiến  
dịch Toàn cầu kêu gọi “Hạn  
chế sử dụng đồ nhựa”  
Mức độ quan tâm về vấn đề  
“tái chế”  
Mức độ sẵn lòng cùng trẻ nhỏ  
tham gia hưởng ứng các chiến  
dịch bảo vệ môi trường.  
10  
5
Ngoài ra, 62,4% người được phỏng vấn sử  
dụng ly hay bình nước riêng khi đi mua nước;  
68.5% người được phỏng vấn thể hiện sự ủng hộ  
cho các cửa hàng sử dụng ống hút làm từ thép  
không rỉ, làm từ gạo hoặc ống hút giấy thay vì  
ống hút nhựa; 59.6% người được phỏng vấn sử  
dụng túi giấy thay vì túi nhựa và 30.5% số người  
Bảng 2. Tiêu chí chọn lựa đồ chơi cho trẻ em  
Tiêu chí chọn lựa đồ chơi cho trẻ em  
Khác  
Các mặt hàng cao cấp (thương hiệu cao cấp)  
Xuất xứ từ các quốc gia lớn (hàng ngoại nhập từ…  
Thân thiện với trẻ nhỏ, với môi trường  
Yếu tố thẩm mỹ  
2,5  
31,1  
40,3  
41,2  
71,4  
Chất liệu an toàn (có giấy kiểm định từ Bộ y tế)  
77,3  
75,6  
0,0 10,0 20,0 30,0 40,0 50,0 60,0 70,0 80,0 90,0  
Thiết kế an toàn (các góc cạnh của đồ vật được…  
Tiêu chí chọn lựa đồ chơi cho trẻ em  
nhựa” và quan trọng nhất là họ thực sự quan  
tâm đến vấn đề “tái chế”. Tiếp theo, để có được  
đánh giá về kiến thức cũng như ý định mua sản  
phẩm xanh của người được phỏng vấn, tiếp tục  
phỏng vấn về các chương trình tái chế nhựa nổi  
tiếng. 70,9% số người được hỏi biết rằng  
Adidas sử dụng nhựa tái chế để sản xuất giày  
thời trang, 47,8% số người được hỏi biết rằng  
2.3. Thảo luận  
Những thông tin trên cho thấy thái độ của  
người tiêu dùng đối với các sản phẩm xanh và  
mức độ quan tâm của họ đến tình hình môi  
trường hiện nay là rất tích cực. Những người  
được phỏng vấn cho thấy họ cực kỳ quan tâm  
đến các vấn đề về môi trường như chiến dịch  
toàn cầu kêu gọi “Hạn chế sử dụng sản phẩm  
137  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Hoàng Mai  
Nhật Bản biến rác thành quần áo và làm vật  
liệu để xây dựng đường sá. Khoảng 20% trong  
số họ có thông tin về công viên tái chế ở  
Rotterdam, Hà Lan; và Nga đã áp dụng công  
nghệ biến chất thải thành xăng và sản phẩm  
nhựa tái chế PET của Áo. Chúng tôi có thể kết  
luận rằng người được phỏng vấn không chỉ trả  
lời rằng họ quan tâm đến môi trường một cách  
chung chung mà họ còn hiểu về khái niệm “sản  
phẩm xanh” một cách chi tiết và cụ thể.  
dùng đối với đồ chơi trẻ em bằng nhựa và đồ  
chơi trẻ em thân thiện với môi trường. Vì vậy,  
chúng tôi đề xuất các hoạt động tiếp thị xanh  
cho các công ty đồ chơi trẻ em với mục tiêu  
này truyền năng lượng tích cực về vấn đề bảo  
vệ môi trường cho trẻ em thông qua câu chuyện  
về vòng đời của một sản phẩm đồ chơi trẻ em  
sản xuất bằng nhựa tái chế. Việc cần thiết nhất  
là truyền tải thông điệp, giá trị giáo dục, năng  
lượng tích cực về bảo vệ môi trường cho trẻ em  
thông qua một câu chuyện về vòng đời của sản  
phẩm đồ chơi nhựa tái chế mang nhãn hiệu trẻ  
em; làm hài lòng người tiêu dùng xanh với các  
sản phẩm xanh và đạt được lợi thế cạnh tranh  
bằng cách áp dụng các giá trị và lợi ích xanh  
bằng cách chiếm lĩnh thị trường, quản lý nhu  
cầu về các sản phẩm bền vững trong quá trình  
sử dụng và sau khi sử dụng, và áp dụng các quy  
trình giải quyết các vấn đề ưu tiên cho môi  
trường. Về chiến lược dài hạn, công ty có thể  
phát triển chiến lược kinh doanh quốc tế, mở  
rộng thị trường đa quốc gia về đồ chơi trẻ em  
bằng nhựa và thiết lập hệ thống phân phối và  
tiếp thị tại Việt Nam. Về ngắn hạn và trung  
hạn, công ty cần tiếp cận khách hàng mục tiêu,  
nâng cao nhận thức về thương hiệu cho đồ chơi  
trẻ em là dòng sản phẩm cao cấp sử dụng vật  
liệu nhựa tái chế 100% cho công dân Việt  
Nam. Định vị thương hiệu này trong lòng  
khách hàng mục tiêu và trở thành thương hiệu  
được nhận biết hàng đầu trong dòng sản phẩm  
đồ chơi trẻ em thân thiện với môi trường,  
không chứa kim loại độc hại.  
Tiếp theo, để đánh giá thái độ của người  
tiêu dùng đối với đồ chơi trẻ em bằng nhựa và  
đồ chơi trẻ em thân thiện với môi trường. Bên  
cạnh hai tiêu chí quan trọng nhất mà người  
được phỏng vấn đề cập đến là thiết kế an toàn  
và chất liệu an toàn, yếu tố thân thiện với trẻ  
nhỏ và môi trường cũng được những người  
được hỏi đánh giá rất cao. Những người được  
phỏng vấn cũng thể hiện mức độ sẵn lòng cùng  
trẻ nhỏ tham gia hưởng ứng các chiến dịch bảo  
vệ môi trường. Họ đã đề xuất những hành động  
thực tế hằng ngày để giáo dục trẻ em có ý thức  
và có trách nhiệm với môi trường. Chẳng hạn,  
giáo dục trẻ em thông qua hình ảnh, video  
clip… về các hoạt động bảo vệ môi trường, dạy  
trẻ về phân loại rác, giúp trẻ học về tầm quan  
trọng của việc tái chế. Và quan trọng nhất, hơn  
70% số người được hỏi cho rằng, chúng ta có  
thể tạo cho trẻ có thói quen sử dụng đồ vật thân  
thiện với môi trường, như sử dụng ống hút  
bằng thép không rỉ, hoặc làm từ giấy hoặc gạo  
thay vì ống hút nhựa; và dạy trẻ vứt rác ở  
những nơi quy định. Điều này có thể thấy rằng,  
mọi người đã bắt đầu có thái độ tích cực đối  
với các sản phẩm thân thiện với môi trường,  
đặc biệt là các sản phẩm dành cho trẻ em.  
Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định từ  
cấu trúc, quy mô mẫu khảo sát, cũng như một  
vài hạn chế vì nghiên cứu này vẫn đang trong  
giai đoạn khám phá, nên cần phải có các nghiên  
cứu thử nghiệm sâu hơn để tìm ra mô hình cho  
sản phẩm đồ chơi trẻ em và cải thiện nó. Tuy  
nhiên, nghiên cứu này có thể ứng dụng trong  
việc đánh giá tầm quan trọng của đồ chơi trẻ  
em thân thiện với môi trường tại Thành phố Hồ  
Chí Minh, Việt Nam. Nghiên cứu trong tương  
3. KẾT LUẬN  
Dựa trên cơ sở lý luận, kết quả khảo sát và  
phần thảo luận ở trên đây, chúng tôi kết luận  
rằng thái độ của người tiêu dùng đối với các  
sản phẩm xanh và mức độ quan tâm của họ đến  
tình hình môi trường hiện nay là rất tích cực.  
Quan trọng nhất là sự nhận biết của người tiêu  
138  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
lai có thể tìm hiểu thêm để tìm ra những yếu tố  
ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng  
xanh kết hợp mối quan tâm về môi trường.  
Điều này cho phép phân tích chuyên sâu, và  
quan trọng nhất là thay vì chỉ đơn giản là báo  
cáo những thành tựu trong quá khứ, những hiểu  
biết hướng tới tương lai có thể tạo ra tiềm năng  
cho các hoạt động tiếp thị xanh của các công ty  
đồ chơi trẻ em.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ajzen, I., 1991, The theory of planned behavior, Organizational behavior and human decision  
processes, 50(2).  
[2] Al-Qutob, M., Asafra, A., Nashashibi, T. and Qutob, A.A., (2014), Determination of different trace heavy  
metals in children’s plastic toys imported to the West Bank/Palestine by ICP/MS-environmental  
and health aspects, Journal of Environmental Protection, 5(12).  
[3] Chan, K.M., Guerry, A.D., Balvanera, P., Klain, S., Satterfield, T., Basurto, X., Bostrom, A.,  
Chuenpagdee, R., Gould, R., Halpern, B.S. and Hannahs, N., (2012), Where are cultural and  
social in ecosystem services? A framework for constructive engagement, BioScience, 62(8).  
[4] Cherian, J. and Jacob, J., (2012), Green marketing: A study of consumers' attitude towards  
environment friendly products, Asían social science, 8(12).  
[5] Cherrier, H., Black, I.R. and Lee, M., (2011), Intentional non-consumption for sustainability:  
consumer resistance and/or anti-consumption?. European Journal of Marketing, 45(11/12).  
[6] De Moura, A., Cunha, L., Castro‐Cunha, M., Lima, C., (2012), A comparative evaluation of  
women's perceptions and importance of sustainability in fish consumption: an exploratory study  
among light consumers with different education levels, Manag. Environ. Qual.: Int. J. 23 (4).  
[7] Hair, J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., & Black, W. C. (1998), Multivariate data analysis  
5th ed, New Jersey, NJ: Printice-Hall.  
[8] Han, H., Hsu, L., Lee, J., (2009), Empirical investigation of the roles of attitudes toward green  
behaviors, overall image, gender, and age in hotel customers’ eco-friendly decision-making  
process. Int. J. Hosp. Manag.  
[9] Kilbourne, W.E., Dorsch, M.J., McDonagh, P., Urien, B., Prothero, A., Grꢀnhagen, M., et al.,  
(2009), The institutional foundations of materialism in Western societies: a conceptualization  
and empirical test, J. Macromark. 29.  
[10] Liu, S., Kasturiratne, D. and Moizer, J., (2012), A hub-and-spoke model for multi-dimensional integration of  
greenmarketingandsustainablesupplychainmanagement,IndustrialMarketingManagement,41(4).  
[11] Omolaoye, J.A., Uzairu, A. and Gimba, C.E., (2010), Heavy metal assessment of some soft  
plastic toys imported into Nigeria from China, Journal of Environmental chemistry and  
Ecotoxicology, 2(8).  
[12] Shamdasani, P., Chon-Lin, G., Richmond, D., (1993), Exploring green consumers in an  
oriental culture: role of personal and marketing mix, Adv. Consum. Res. 20.  
[13] Shidiq, Aang & Widodo, Arry. (2018), Green Product Purchase Intention, Journal of  
Secretary and Business Administration, 2. 60. 10.31104/jsab.v2i2.68.  
[14] Vermeir, I., Verbeke, W., (2008), Sustainable food consumption among young adults in Belgium:  
theory of planned behaviour and the role of confidence and values, Ecol. Econ. 64 (3).  
Ngày nhận bài: 10-4-2020. Ngày biên tập xong: 22-8-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020  
139  
pdf 6 trang Thùy Anh 15780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sản phẩm xanh và tiếp thị xanh, trường hợp của đồ chơi trẻ em bằng nhựa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsan_pham_xanh_va_tiep_thi_xanh_truong_hop_cua_do_choi_tre_em.pdf