Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua gạo lúa mùa của người tiêu dùng đồng bằng sông Cửu Long

Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA GẠO LÚA MÙA CỦA  
NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
Nguyễn Thị Diễm Hằng1, Huỳnh Phước Linh2  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này xem xét tác động của các yếu tố đến ý định mua gạo lúa mùa của người tiêu dùng bằng  
việc khảo sát 320 người dân tại Đồng bằng sông Cửu Long. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được sử  
dụng có điều chỉnh để đề xuất mô hình hồi quy. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích độ tin cậy  
Cronbachs Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội, với phương tiện SPSS 20,0  
nhằm phân tích dữ liệu. Kết quả xử lý hồi quy bội cho thấy, có 04 yếu tố tác động đến ý định mua gạo lúa  
mùa của người dân, sắp theo thứ tự độ mạnh giảm dần: Sự quan tâm đến sức khoẻ và chất lượng (β =  
0,32), Nhận thức về giá trị và chuẩn chủ quan (β = 0,283), Sự quan tâm đến môi trường (β = 0,247), và  
nhận thức về sự sẵn có (β = 0,197). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số chiến lược kinh doanh đối với các  
doanh nghiệp kinh doanh gạo lúa mùa cũng như nhà sản xuất nhằm nâng cao năng lực bán hàng.  
Từ khóa: Gạo lúa mùa, sức khỏe, môi trường, Đồng bằng sông Cửu Long, ý định mua  
FACTORS AFFECTING THE CUSTOMERS’ INTENTION TO  
BUY SEASONAL RICE AT MEKONG DETA  
Abstract  
This study examines the impacts of factors affecting consumers' intention to buy seasonal rice by surveying  
320 people in Mekong Deta. The theory of planned behaviour (TPB) is used with adjustment to propose  
regression models. The study uses Cronbach’s Alpha test for reliability, exploratory factor analysis (EFA)  
and multiple regression analysis, using SPSS 20 to analyze data. The results of multiple regression  
analysis show that there are 04 factors that impact people's intention to buy seasonal rice, in descending  
order of strength: concern for health and quality (β = 0.32), Perception of subjective values and standards  
(β = 0.283), Attention to the environment (β = 0.247), and awareness of availability (β = 0.197).  
Accordingly, the study proposes some administrative implications for rice businesses as well as producers  
in order to improve sales capacity.  
Keywords: seasonal rice, health, environment, Mekong Delta, intention to buy.  
JEL classification: P, P23, P25.  
BVTV và chỉ số GI thấp (Phan Thị Dứt và cộng sự,  
2014). Tuy nhiên thời gian gần đây, người tiêu  
dùng quan tâm và lựa chọn sản phẩm gạo an toàn  
và tốt cho sức khoẻ (Trịnh Phước Nguyên và cộng  
sự, 2020). Tuy nhiên, đối với sản phẩm gạo lúa mùa  
mặc dù là sản phẩm gạo an toàn tuy nhiên các  
nghiên cứu về ý định mua sản phẩn chưa được  
nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện.  
Do vậy, việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến  
ý định mua gạo lúa mùa là cần thiết, do đó nhóm  
nghiên cứu tiến hành nghiên cứu “Các yếu tố ảnh  
hưởng đến ý định mua gạo lúa mùa của người dân  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.  
Nghiên cứu này sẽ giúp các doanh nghiệp  
kinh doanh lương thực xác định được các yếu tố  
ảnh hưởng đến ý định mua gạo lúa mùa. Từ kết  
quả nghiên cứu này, các giải pháp hỗ trợ được  
đưa ra để các doanh nghiệp định vị thương hiệu  
của mình trên thị trường, thực hiện các giải pháp  
sản xuất, phân phối và tiếp thị để cải thiện hiệu  
quả kinh doanh, tăng doanh số. Nghiên cứu sẽ  
chỉ ra các yếu tố tác động lên ý định mua gạo  
lúa mùa trong hoạt động kinh doanh gạo an toàn  
tại Việt Nam.  
1. Đặt vấn đề  
Trước những lo ngại về vấn đề thực phẩm bẩn  
và gạo kém chất lượng hay tẩm ướp hương liệu  
cùng với việc mức sống của người dân Việt Nam  
ngày càng tăng đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng  
những sản phẩm sạch, đảm bảo an toàn cho sức  
khỏe. Xu hướng tiêu dùng mới này đã giúp thị  
trường thực phẩm hữu cơ tăng trưởng và phát triển  
(Lê Thị Thùy Dung, 2017). Gạo Lúa mùa chúng  
không chỉ đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng an toàn mà  
còn góp phần bảo vệ môi trường, cụ thể là ở Đồng  
bằng sông Cửu Long đang được Chính phủ quan  
tâm thông qua Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển  
bền vững Đồng bằng sông Cửu Long nhằm thích  
ứng với biến đổi khí hậu, lúa mùa có những đặc  
tính phù hợp với việc canh tác thuận theo tự nhiên  
do vậy, đây là tiềm năng cây lúa mùa có thể giải  
quyết được bài toán khó cho vùng trồng lúa 3 vụ,  
giúp phục hồi đất đai, hệ sinh thái, đa dạng sinh học  
và thích ứng với biến đổi khí hậu (Lê Thanh Phong,  
2019). Hiện nay, thị trường gạo lúa mùa không  
những thơm ngon, được nhiều gia đình Việt Nam  
ưa thích mà còn có công dụng giúp phục hồi đất và  
đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và đặc biệt là  
sản phẩm an toàn, không sử dụng hoá chất thuốc  
23  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
càng mạnh thì khả năng thực hiện hành vi càng  
cao”. Rezvan và cộng sự (2012) thì định nghĩa “ý  
định là động lực của con người trong chính ý nghĩ  
thực hiện hành vi của họ”.  
2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1. Gạo lúa mùa  
Theo ông Lê Thanh Phong (2019): “Lúa mùa  
là loại cây sinh trưởng và phát triển theo mùa với  
thời gian canh tác khoảng 6 tháng cho một vụ. Đây  
là loại lương thực chủ yếu của Đồng bằng sông  
Cửu Long cho đến khi có sự xuất hiện của loại lúa  
cao sản vào thập niên 1960”. Cây lúa mùa có 2  
nhóm chính là cây lúa mùa nổi và cây lúa mùa  
nước sâu. Cây lúa mùa nổi có đặc tính vượt theo  
nước, nghĩa là cây sẽ phát triển cao hơn so với  
mực nước lũ. Còn cây lúa mùa nước sâu có đặc  
tính là cây vẫn phát triển bình thường dưới mặt  
nước trong điều kiện ngập nước không quá  
100cm. Lúa mùa có hàng trăm loại giống khác  
nhau điển hình như Tây đùm, Chật cụt, Nàng chi,  
Nàng pha… Hiện nay, diện tích canh tác cây lúa  
mùa còn rất hạn chế, chủ yếu phục vụ cho công  
tác nghiên cứu và bảo tồn giống lúa. Hầu hết tập  
trung ở Tri Tôn (An Giang), Mỹ An (Đồng Tháp),  
Thanh Bình (Đồng Tháp).  
Lý thuyết hành vi hợp lý được Fishbein và  
Azjen (1975) khẳng định rằng ý định hành vi là nhân  
tố dự đoán chính xác nhất về hành vi tiêu dùng của  
một cá nhân. Đồng thời cho rằng ý định là nhân tố  
chính dẫn đến hành vi, nó là chỉ báo cho việc con  
người sẽ cố gắng đến mức nào, hay dự định sẽ dành  
bao nhiêu nỗ lực vào việc thực hiện một hành vi cụ  
thể. Như vậy, trong học thuyết mới này tác giả cho  
rằng ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi ba  
nhân tố: (1) thái độ đối với hành vi, (2) chuẩn chủ  
quan, (3) nhận thức kiểm soát hành vi.  
Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) đã được  
Ajzen tiếp tục nghiên cứu để khắc phục những  
nhược điểm của lý thuyết này. Đến năm 1985,  
Ajzen đã cho ra đời Lý thuyết hành vi có kế hoạch  
(TPB). Đây được xem như là phần mở rộng của lý  
thuyết hành vi hợp lý.  
Lý thuyết TPB vẫn cho rằng hành vi của  
người tiêu dùng là kết quả của ý định thực hiện  
hành vi đó. Tức là ý định hành vi càng cao thì khả  
năng thực hiện hành vi đó càng cao. Nhưng Ajzen  
cũng đã bổ sung thêm nhận thức kiểm soát hành  
vi (PBC) vào mô hình TRA để gia tăng khả năng  
dự báo hành vi của mô hình.  
Lúa mùa có những đặc tính ưu việt hơn các  
giống lúa cao sản như khả năng phát triển sinh  
khối, sự chống chịu với điều kiện bất lợi, đặc biệt  
là thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu (Lê  
Thanh Phong, 2019).  
Gạo lúa mùa có các màu như đen, đỏ, nâu và  
trắng với các đặc tính dinh dưỡng khác nhau tùy  
theo mỗi loại. Gạo lúa mùa có màu nâu, đen và đỏ  
có hàm lượng chất chống oxi hóa cao giúp làm  
chậm quá trình oxi hóa trong cơ thể. Ngoài ra, gạo  
lúa mùa còn chứa một số loại khoáng chất và  
vitamin như B, D, E có lợi cho sức khỏe (Hồ  
Thanh Bình, 2020). Do đó, đa phần những người  
sử dụng gạo lúa mùa là những người có tiền sử  
bệnh tiểu đường hay các loại bệnh cần hàm lượng  
dinh dưỡng cao.  
Do diện tích trồng cây lúa mùa đang rất hạn  
chế nên lượng gạo lưu thông trên thị trường không  
nhiều. Bên cạnh đó, đa phần người dân hiện nay  
vẫn không biết cây lúa mùa nổi vẫn còn tồn tại nên  
sản lượng tiêu thụ gạo vẫn chưa cao. Các sản  
phẩm gạo lúa mùa lưu thông trên thị trường hiện  
nay chủ yếu do các công ty thu mua từ nông dân,  
qua quy trình sản xuất và sàn lọc kỹ lưỡng cho ra  
các sản phẩm có giá bán cao và không phù hợp  
với đa số người tiêu dùng  
Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) đề cập đến  
việc dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện  
hành vi do nó phản ánh những kinh nghiệm trong  
quá khứ hay những trở ngại dự kiến sẽ gặp phải  
trong quá trình thực hiện hành vi (Ajzen, 1991).  
Niềm tin có được dựa trên các kinh nghiệm trong  
quá khứ hoặc các thông tin cũ về hành vi từ những  
tài liệu mà người tiêu dùng có được sẽ góp phần  
ảnh hưởng đến việc có thực hiện hay không thực  
hiện hành vi. Cũng theo TPB, càng có nhiều nguồn  
lực và cơ hội thì cá nhân tin rằng họ có thể thực  
hiện và ít gặp trở ngại trong việc thực hiện hành vi.  
Ngoài ra, Ajzen cũng cho rằng nhân tố nhận thức  
kiểm soát hành vi (PBC) cũng có thể ảnh hưởng  
trực tiếp đến hành vi của cá nhân nếu họ chính xác  
trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình.  
Shaharudin, Pani, Mansor, và Elias (2010) đã  
kết luận yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm  
hữu cơ của người tiêu dùng là giá trị cảm nhận và  
ý thức sức khỏe. Người tiêu dùng càng quan đến  
sức khoẻ của mình thì ý định mua thực phẩm hữu  
cơ, an toàn ngày càng nhiều. Nghiên cứu này phù  
hợp với các nghiên cứu của Effendi (2015),  
Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2019), Lê Thị Thùy  
Dung (2017), Alamsyah (2015), Trịnh Phước  
Nguyên và cộng sự (2020), Nguyễn Thanh Hoà  
Bình và cộng sự (2017).  
2.1.2. Ý định mua  
Theo Ajzen (1991) cho rằng ý định được giả  
định để nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng  
đến một hành vi, chúng là những dấu hiệu cho  
thấy con người sẵn sàng cố gắng như thế nào để  
thực hiện hành vi. Ngoài ra, Azjen (1991) cũng bổ  
sung thêm rằng “ý định tham gia vào một hành vi  
24  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Ngoài ra, chuẩn chủ quan là áp lực mà xã hội  
đặt lên mỗi người khi cân nhắc có thực hiện hay  
không thực hiện một hành vi. Trong các nghiên  
cứu của Wang và cộng sự (2019), Nguyễn Phong  
Tuấn (2011); Lê Thuỳ Hương (2014), Hồ Thị  
Diệp Quỳnh Châu (2015), Effendi (2015);  
Mingyan Yang (2014) cũng đã khẳng định nó có  
ảnh hưởng thuận chiều giữa chuẩn chủ quan và ý  
định mua thực phẩm hữu cơ cũng như mua sản  
phẩn an toàn.  
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh Chất lượng  
sản phẩm luôn được người tiêu dùng quan tâm khi  
mua sản phẩm. Yếu tố này đóng vai trò quan trọng  
trong việc hình thành ý định mua sản phẩm của  
người tiêu dùng. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã đưa  
yếu tố này vào kiểm định sự ảnh hưởng của nó đến  
ý định mua thực phẩm hữu cơ và rau an toàn  
(Nguyen Thi Ngoc Dieu & Trinh Phuoc Nguyen,  
2019), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015), Nguyễn  
Văn Thuận (2011), Nguyễn Thanh Hoà Bình và  
cộng sự (2017) đều khẳng định có tác động tích  
cực đến ý định mua hàng.  
cao hơn giá thực phẩm thông thường. Các nghiên  
cứu của Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015), Nguyễn  
Văn Thuận (2011), Lê Thị Thùy Dung (2017)  
cũng chỉ ra rằng yếu tố nhận thức về giá có ảnh  
hưởng tích cực đến ý định thực phẩm hữu cơ, an  
toàn nghĩa là người tiêu dùng cho rằng giá phù  
hợp với chất lượng thì sẽ làm tăng ý định mua  
Theo Lê Thùy Hương (2014) cho rằng sự quan  
tâm tới môi trường là niềm tin, thái độ quan điểm  
và mức độ bận tâm của cá nhân với môi trường.  
Các nghiên cứu về ý định mua các sản phẩm thân  
thiện môi trường của người tiêu dùng thì sự quan  
tâm đến môi trường cũng có tác động đến ý định  
của họ như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc  
Diệu (2019), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015).  
Một sản phẩm khi không được phân phối  
rộng rãi sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tiếp cận  
của khách hàng đối với sản phẩm đó. Vì thế, trong  
các nghiên cứu trước thì yếu tố nhận thức về sự  
sẵn có luôn xuất hiện trong mô hình như là một  
yếu tố gây cản trở ý định mua thực phẩm hữu cơ.  
Hơn nữa, thực phẩm hữu cơ càng có mặt ở nhiều  
nơi thì người tiêu dùng càng có nhiều ý định mua  
chúng (Lê Thùy Hương, 2014), Hồ Thị Diệp  
Quỳnh Châu (2015).  
Giá là số tiền người mua phải trả để có được  
sản phẩm hay dịch vụ (Philip Kotler, 2017), người  
tiêu dùng thường nhận thức giá thực phẩm hữu cơ  
Bảng 1: Thang đo nháp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua gạo lúa mùa  
của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Cửu Long  
Tên biến  
Nguồn  
Kỳ vọng  
Sự quan tâm đến sức khoẻ  
Effendi và cộng sự (2002) Nguyễn Thị Ngọc  
Diệu (2019), Lê Thị Thùy Dung (2017), Alamsyah  
(2015) Trịnh Phước Nguyên và cộng sự (2020), Khan  
(2012), Nguyễn Thanh Hoà Bình và cộng sự (2017).  
Wang và cộng sự (2019), Nguyễn Phong Tuấn (2011);  
Lê Thuỳ Hương (2014), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu  
(2015), Effendi (2015); Mingyan Yang (2014)  
Woese K, Lange D, Boess C, Bogl KW (1997) trích  
dẫn bởi Lê Thuỳ Hương (2014), Mingyan Yang và  
cộng sự (2014)  
+
SK  
Chuẩn chủ quan  
+
+
CQ  
CL  
Nhận thức về chất lượng  
Nhận thức về giá  
Nguyễn Văn Thuận (2011), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu  
(2015), Lê Thị Thùy Dung (2017)  
Lê Thùy Hương (2014), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu  
(2015), Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2019)  
Lê Thùy Hương (2014), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu  
(2015), Trịnh Phước Nguyên (2020)  
Dickieson & Arkus (2009), Mingyan Yang (2014)  
+
+
+
GQ  
MT  
Sự quan tâm đến môi trường  
Nhận thức về sự sẵn có  
Ý định mua  
SC  
YD  
H2: Chuẩn mực chủ quan có tác động thuận  
chiều đến ý định mua gạo lúa mùa  
2.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu  
Dựa vào lý thuyết hành vi có kế hoạch của  
Ajzen (1991)] và các công trình, nghiên cứu trước  
đây, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu có dạng:  
Ý định mua gạo lúa mùa = f(Sự quan tâm đến  
sức khoẻ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức về chất  
lượng, Nhận thức về giá, Sự quan tâm đến môi  
trường, Nhận thức về sự sẵn có) cùng với các giả  
thuyết nghiên cứu:  
H3: Người tiêu dùng càng quan tâm đế chất  
lượng gạo lúa mùa thì càng có ý định mua gạo lúa  
mùa. H4: Nhận thức về giá gạo lúa mùa cao ảnh  
hưởng thuận chiều đến ý định mua gạo lúa mùa.  
H5: Người tiêu dùng càng quan tâm đến môi  
trường thì càng có ý định mua gạo lúa mùa.  
H6: Người tiêu dùng càng nhận thức rằng  
gạo lúa mùa sẵn có trên thị trường thì họ càng có  
ý định mua gạo lúa mùa.  
H1: Người tiêu dùng càng quan tâm đến sức  
khoẻ thì càng có ý định mua gạo lúa mùa  
25  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
H1+  
Sự quan tâm đến sức khỏe  
H2+  
Chuẩn chủ quan  
H3
+  
Nhận thức về chất lượng  
Ý định mua  
H4+  
gạo lúa mùa  
Nhận thức về giá  
H5+  
Sự quan tâm đến môi trường  
Nhận thức về sự sẵn có  
H6+  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Các phương pháp phân tích được sử dụng  
trong việc giải quyết các mục tiêu, kiểm định  
các giả thuyết nghiên cứu của đề tài, cụ thể  
gồm: phương pháp thống kê mô tả, phân tích  
nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy  
tuyến tính bội.  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Phân tích độ tin cậy của thang đo thông  
qua hệ số Cronbach’alpha  
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng  
Ngọc (2008), hệ số Cronbach’s Alpha có mức  
giá trị từ 0,8 đến gần bằng 1 biểu thị thang đo  
lường rất tốt: từ 0,7 đến gần bằng 0,8 biểu thị  
thang đo lường sử dụng được và Cronbach’s  
Alpha có giá trị từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng  
được trong trường hợp khái niệm đang đo lường  
là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối  
cảnh nghiên cứu.  
3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu  
Đơn vị mẫu: người tiêu dùng gạo lúa mùa tại  
13 tỉnh ĐBSCL.  
Cở mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp  
phân tích nhân tố khám phá (EFA), theo Hair và  
ctv (2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước  
mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ  
quan sát / biến đo lường từ 5:1. Vì vậy, với 24 biến  
quan sát, để tiến hành EFA cỡ mẫu tối thiểu phải  
là: n = 24 x 5 = 120 quan sát. Tuy nhiên, tác giả  
chọn cỡ mẫu là 320 quan sát để tăng độ tin cậy.  
Phương pháp chọn mẫu: Nhóm tác giả sử  
dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện những  
người tiêu dùng gạo lúa mùa với tiêu thức phân  
tầng theo vùng địa lý bằng bảng hỏi soạn sẵn cụ  
thể: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp mỗi tỉnh  
30 mẫu (đây là những vùng trồng gạo lúa mùa  
và người tiêu dùng sử dụng nhiều); các tỉnh còn  
lại 23 mẫu.  
Bảng 2: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha lần cuối  
Trung bình thang đo Phương sai thang đo  
nếu loại biến nếu loại biến  
Tương quan  
biến tổng  
Cronbach’s Alpha nếu  
loại biến  
Biến quan sát  
Sự quan tâm đến sức khoẻ Cronbach’s Alpha tổng = 0,879  
SK1  
SK2  
SK3  
7,81  
7,92  
8,03  
2,636  
2,388  
2,52  
0,77  
0,795  
0,739  
0,828  
0,804  
0,855  
Chuẩn chủ quan Cronbach’s Alpha tổng = 0,891  
CQ1  
CQ2  
CQ3  
6,57  
6,59  
6,50  
2,904  
3,095  
2,997  
0,805  
0,777  
0,777  
0,828  
0,853  
0,853  
Nhận thức về chất lượng Cronbach’s Alpha tổng = 0,858  
CL1  
CL2  
CL3  
7,60  
7,71  
7,83  
2,473  
2,208  
2,383  
0,74  
0,771  
0,692  
0,798  
0,764  
0,841  
Nhận thức giá Cronbach’s Alpha tổng = 0,857  
GQ1  
GQ2  
GQ3  
6,62  
6,66  
6,63  
2,688  
2,866  
2,679  
0,745  
0,713  
0,734  
0,786  
0,816  
0,797  
Sự quan tâm đến môi trường Cronbach’s Alpha tổng = 0,825  
MT1  
MT2  
7,94  
8,45  
2,066  
2,518  
0,791  
0,472  
0,65  
0,821  
26  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Bảng 2: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha lần cuối (tiếp)  
MT3  
8,02  
1,953  
0,819  
0,615  
Nhận thức sự sẵn có Cronbach’s Alpha tổng = 0,899  
SC1  
SC2  
SC3  
SC4  
9,69  
9,74  
9,72  
6,157  
5,722  
6,057  
5,957  
0,758  
0,838  
0,771  
0,734  
0,876  
0,846  
0,871  
0,885  
9,6094  
Ý định mua gạo lúa mùa Cronbach’s Alpha tổng = 0,853  
YD1  
YD2  
YD3  
YD4  
YD5  
14,03  
14,43  
14,45  
14,27  
14,58  
7,993  
7,594  
7,558  
7,52  
0,603  
0,634  
0,693  
0,701  
0,699  
0,839  
0,831  
0,816  
0,814  
0,814  
7,26  
Bảng trên cho chúng ta thấy hệ số Cronbach’s  
Alpha tổng luôn lớn hơn 0,6 nên các thang đo đạt  
yêu cầu thống kê. Ngoài ra, hệ số tương quan biến  
tổng đều lớn hơn 0,3 trong các nhóm yếu tố nên các  
biến này đều được chấp nhận và có độ tin cậy.  
4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
4.2.1. Các biến độc lập  
Kết quả kiểm định sự tương quan giữa các nhân  
tố, ta có KMO = 0,714 > 0,5; Sig, kiểm định của  
Bartlett’s Test = 0,000 < 0,05. Ngoài ra, các biến có  
tương quan với nhau và hoàn toàn phù hợp với phân  
tích nhân tố khám phá. Tiếp theo là kết quả ma trận  
nhân tố thực hiện với phép xoay Varimax được thể  
hiện trong bảng sau:  
Bảng 3: Kết quả ma trận nhân tố đã xoay (hiệu chỉnh lần cuối)  
Nhóm nhân tố  
Nhân tố  
1
2
3
4
CQ1 (Người thân khuyên tôi nên dùng gạo lúa mùa)  
CQ2 (Bạn bè, đồng nghiệp giới thiệu tôi nên mua gạo lúa mùa)  
CQ3 (Các thành viên trong gia đình mong muốn tôi sẽ mua gạo lúa  
mùa cho gia đình)  
0,867  
0,860  
0,852  
GQ1 (Giá của gạo lúa mùa phù hợp với lợi ích của nó)  
GQ2 (Giá gạo lúa mùa là quan trọng đối với tôi)  
GQ3 (Tôi nghĩ gạo lúa mùa không đắt hơn gạo thông thường)  
SK2 (Tôi quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng trong gạo dùng hàng  
ngày)  
0,828  
0,823  
0,805  
0,896  
CL2 (Tôi nghĩ gạo lúa mùa có chất lượng cao hơn gạo thông thường)  
SK1 (Tôi nghĩ sức khỏe rất quan trọng trong cuộc sống)  
SK3 (Tôi thường chọn loại có lợi cho sức khoẻ)  
CL1 (Tôi nghĩ gạo lúa mùa là loại gạo có chất lượng tốt)  
CL3 (Tôi nghĩ tiêu dùng gạo lúa mùa sẽ nâng cao chất lượng cuộc  
sống)  
0,846  
0,839  
0,829  
0,797  
0,766  
SC2 (Có nhiều cửa hàng bán gạo lúa mùa)  
SC3 (Các cửa hàng bán gạo lúa mùa thuận tiện cho việc đi lại)  
SC4 (Gạo lúa mùa dễ tìm thấy ở các cửa hàng, siêu thị, chợ và khu  
phố)  
SC1 (Gạo lúa mùa luôn có sẵn trên thị trường)  
MT3 (Tôi tin rằng gạo lúa mùa thân thiện với môi trường)  
MT1 (Tôi có biết các vấn đề về môi trường: ô nhiễm môi trường  
nước và không khí, biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn, sự  
suy thoái đất và diện tích canh tác…)  
0,890  
0,847  
0,843  
0,826  
0,936  
0,907  
MT2 (Tôi luôn quan tâm đến khía cạnh môi trường khi lựa chọn  
gạo)  
0,657  
Eiginvalue  
7,389  
3,205  
2,195  
1,771  
Cumulative (%)  
38,887  
55,757  
67,312  
76,633  
Bảng kết quả phân tích nhân tố cho thấy có  
tất cả 19/19 biến đạt yêu cầu trong EFA, nếu xét  
theo tiêu chuẩn Eiginvalue trong phân tích là  
1,771> 1 thì 19/19 biến quan sát được rút lại thành  
4 nhân tố. Trong bảng này ta cũng thấy được  
phương sai cộng dồn Comulative bằng 76,633%  
>50% nên 4 nhân tố được rút ra giải thích được  
gần 77% biến thiên của dữ liệu. Hệ số tải nhân tố  
của tất cả các biến đều lớn hơn 0,5 và đáp ứng đầy  
đủ điều kiện nghiên cứu này yêu cầu.  
Trong bảng này ta thấy, trên cơ sở sở 6 nhóm  
biến độc lập, chúng ta đưa vào mô hình thì được  
nhóm thành 4 nhóm nhân tố, có sự nhập vào của 02  
nhóm biến là: các nhóm biến thuộc Chuẩn chủ quan  
27  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
và Nhận thức về giá được nhóm cùng vào. Do hiện  
nay, gạo lúa mùa đang được phục hồi dần, sản lượng  
chưa nhiều, sự quảng bá về sản phẩm chưa lớn. Do  
đó, nhóm nghiên cứu đã nhóm này thành nhân tố  
Nhận thức về giá trị và chuẩn chủ quan  
Nhóm biến thứ hai nhập vào là nhóm biến  
Nhận thức về sức khoẻ và Nhận thức về chất lượng  
nhóm vào cùng một nhóm do đó nhóm nghiên cứu  
đã nhóm này thành nâhn số Sự quan tâm đến sức  
khoẻ và chất lượng gạo  
4.2.2 Biến phụ thuộc  
Ta có kết quả kiểm định hệ số KMO = 0,848>  
0,5; Sig, kiểm định Bartlett’s Test = 0,000< 0,05, do  
vậy các biến có tương quan với nhau và hoàn toàn  
phù hợp với phân tích nhân tố khám phá.  
Bảng 4: Kết quả ma trận nhân tố  
Nhóm nhân tố  
1
Biến quan sát  
YD5 (Tôi chắc chắn mua gạo lúa mùa trong lần mua gạo tiếp theo)  
YD4 (Tôi dự định mua gạo lúa mùa trong thời gian sắp tới)  
YD3 (Tôi có kế hoạch tăng lượng gạo lúa mùa trong tổng lượng gạo tôi mua)  
YD2 (Tôi có kế hoạch bắt đầu mua gạo lúa mùa)  
0.822  
0.821  
0.815  
0.768  
YD1 (Tôi sẽ tìm hiểu về gạo lúa mùa)  
0.742  
Từ bảng kết quả ma trận nhân tố trên, có thể  
thấy cả ba biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn  
hơn 0,5 và đạt yêu cầu trong phân tích nhân tố.  
Mô hình nghiên cứu được xây dựng lại như  
sau:  
H1+  
Sự quan tâm đến sức khỏe và chất lượng  
H2+  
H3+  
Ý định mua  
gạo lúa mùa  
Nhận thức về giá trị và chuẩn chủ quan  
Sự quan tâm đến môi trường  
Nhận thức về sự sẵn có  
H4+  
Hình 2: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh  
Các giả thuyết nghiên cứu được điều chỉnh 4.2.3 phân tích hồi quy tuyến tính bội  
như sau:  
Kết quả tổng hợp cho thấy, hệ số xác định R2  
= 0,530 và hệ số R2 hiệu chỉnh trong mô hình là  
0,524. Bên cạnh đó, kiểm định F thấy mức ý nghĩa  
Sig = 0,000 điều này cho thấy rằng độ thích hợp  
của mô hình là 52,4% hay nói cách khác các biến  
độc lập giải thích được 52,4% phương sai của biến  
phụ thuộc. Ngoài ra kiểm định Durbin-Watson là  
2,114 chứng tỏ không có tự tương quan. Hệ số  
phóng đại phương sai VIF < 2 cho thấy các biến  
độc lập không có quan hệ chặt chẽ với nhau nên  
không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.  
H1: Người tiêu dùng càng quan tâm đến sức  
khoẻ và chất lượng thì càng có ý định mua gạo lúa  
mùa.  
H2: Nhận thức về giá trị và chuẩn mực chủ  
quan có tác động thuận chiều đến ý định mua gạo  
lúa mùa.  
H3: Người tiêu dùng càng quan tâm đến môi  
trường thì càng có ý định mua gạo lúa mùa.  
H4: Người tiêu dùng càng nhận thức rằng  
gạo lúa mùa sẵn có trên thị trường thì họ càng có  
ý định mua gạo lúa mùa.  
Bảng 5: Bảng ANOVA của mô hình  
Tổng bình phương  
df  
4
315  
319  
Trung bình bình phương  
19,326  
0,218  
F
Sig.  
Hồi quy  
Còn lại  
Total  
77,302  
68,568  
145,870  
88,781  
,000b  
Bảng 5 cho thấy Sig. = 0,00 nhỏ hơn 0,05 nên  
mô hình hồi quy tuyến tính được xây dựng phù hợp  
với tổng thể.  
Để xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân  
tố đến biến phụ thuộc ý định mua ta xem xét bảng  
trọng số hồi quy sau:  
28  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Bảng 6: Bảng trọng số hồi quy (Coefficientsa)  
Hệ số hồi  
quy chuẩn  
hóa  
Hệ số hồi quy chưa chuẩn  
Đa cộng tuyến  
hóa  
Model  
T
Sig,  
B
Std, Error  
0,192  
0,038  
0,036  
0,040  
Beta  
T
VIF  
Constant  
CQGQ  
SC  
MT  
SKCL  
0,147  
0,238  
0,166  
0,236  
0,297  
0,764  
6,321  
4,673  
5,915  
7,186  
0,764  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,283  
0,197  
0,247  
0,320  
0,746  
0,839  
0,858  
0,751  
1,341  
1,191  
1,165  
1,332  
0,041  
Từ kết quả hồi quy trên, ta có hàmhồi quy được  
viết lại như sau: YĐMH = 0,320*SKCL +  
0,283*CQGQ + 0,247*MT + 0,197*SC  
Xem xét bảng trọng số hồi quy chúng ta thấy  
có bốn nhân tố là SKCL, CQGQ, MT và SC có tác  
động cùng chiều vào biến phụ thuộc YĐMH vì  
trọng số hồi quy Beta của bốn nhân tố này có ý  
nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Nếu xem xét mức độ tác động của bốn nhân  
tố này lên biến phụ thuộc YĐMH, chúng ta có lần  
lượt thứ tự tác động từ cao đến thấp của từng nhân  
tố tương ứng với mức beta chuẩn hóa như sau:  
SKCL (β = 0,320), CQGQ (β = 0,283), MT (β =  
0,247) và SC (β = 0,197).  
Như vậy với các giả thuyết nghiên cứu ở mô  
hình hiệu chỉnh chúng ta nhận thấy 4 yếu tố đều  
có tác động cùng chiều phù hợp với giả thuyết  
nghiên cứu đề ra.  
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự quan tâm đến  
sức khoẻ và chất lượng sản phẩm có tác động cùng  
chiều và mạnh nhất đế ý định mua gạo của người  
tiêu dùng, điều này phù hợp với các nghiên cứu  
trước đây của của Effendi và cộng sự (2002),  
Mingyan Yang và cộng sự (2014), Alamsyah  
(2015), Lê Thị Thùy Dung (2017), Nguyễn Thanh  
Hoà Bình và cộng sự (2017), Nguyễn Thị Ngọc  
Diệu (2019), Trịnh Phước Nguyên và cộng sự  
(2020) do nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, đời  
sống người dân ngày càng nâng lên thì nhu cầu  
bảo vệ sức khoẻ để duy trì chất lượng cuộc sống  
được người dân quan tâm rất nhiều, họ chú trọng  
nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm vì gạo là mặt  
hàng được tiêu dùng hàng ngày.  
Nhân tố chuẩn chủ quan và giá sản phẩm có  
tác động cùng chiều đến ý định mua gạo với mức  
độ tác động lớn thứ 2, kết quả này phù hợp với các  
nghiên cứu trước đây của các tác giả Mingyan  
Yang (2014), Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015),  
Effendi (2015); Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015),  
Lê Thị Thùy Dung (2017), Wang và cộng sự  
(2019) điều này cho thấy người tiêu dùng có  
chuẩn chủ quan của mình về gạo và nhận thức về  
giá sản phẩm càng nhiều thì ý định mua gạo của  
họ càng cao.  
sản phẩm gạo lúa mùa bởi người tiêu dùng đánh  
giá sản phẩm này thân thiện với môi trường và  
kênh phân phối phù hợp với người tiêu dùng. Các  
nghiên cứu trước đây của Lê Thùy Hương (2014),  
Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu (2015), Trịnh Phước  
Nguyên (2020) cũng có cùng nhận định. Với kết  
quả nghiên cứu này cho chúng ta thấy được rằng,  
ý thức tiếp cận sản phẩm thân thiện môi trường  
được người tiêu dùng rất quan tâm để cân nhắc  
mua sản phẩm nhiều hơn đồng thời sự thuận tiện  
trong các kênh phân phối cũng giúp họ tiếp cận  
sản phẩm và sử dụng sản phẩm nhiều hơn.  
5. Kết luận và các khuyến nghị  
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước:  
định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu định  
lượng với kích thước mẫu hợp lệ là 320 đã cho  
thấy các thang đo đã đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị  
cho phép và 06 giả thuyết nghiên cứu sau khi phân  
tích EFA đã nhóm lại thành 4 giả thuyết nghiên  
cứu được cấp nhận đưa vào mô hình. Kết quả phân  
tích hồi quy tuyến tính bộ cho thấy 04 giả thuyết  
tác động cùng chiều đến Ý định mua gạo lúa mùa  
của người tiêu dùng, xếp theo mức tác động giảm  
dần: Sự quan tâm đến sức khoẻ và chất lượng (β  
= 0,320), Nhận thức về giá và chuẩn chủ quan (β  
= 0,283), Sự quan tâm đến môi trường (β = 0,247),  
và nhận thức về sự sẵn có (β = 0,197).  
Nghiên cứu đã chỉ ra sự quan tâm đến sức  
khoẻ và chất lượng tác động mạnh nhất và cùng  
chiều với ý định mua gạo lúa mùa do người tiêu  
dùng. do đời sống nâng cao, người tiêu dùng quan  
tâm đến sức khoẻ và chất lượng sản phẩm nhiều  
hơn đặc biệt là chú trọng đến những sản phẩm an  
toàn và bổ dưỡng.  
Ngoài ra, Nhận thức về giá và chuẩn chủ  
quan sản phẩm là nhân tố có ảnh hưởng đến ý định  
mua gạo lúa mùa của người dân. Hơn thế nữa,  
nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố tác động nữa đó  
chính sự quan tâm môi trường của người tiêu dùng  
càng lớn thì ý định mua gạo lúa mùa càng cao.  
Đồng thời, nhận thức về sự sẵn có, tiện lợi là yếu  
tố tác động đến ý định mua hàng của người dân  
đối với sản phẩm gạo lúa mùa này.  
Do vậy các doanh nghiệp kinh doanh gạo lúa  
mùa quan tâm đến các đến đối tượng sử dụng gạo  
lúa mùa là những người có quan tâm đến sức khỏe  
Nhân tố sự quan tâm đến môi trường và nhận  
thức sự sẵn có tác động cùng chiều với ý định mua  
29  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
của bản thân, gia đình, chất lượng sản phẩm đồng  
thời họ quan tâm giá sản phẩm tốt và đến yếu tố  
môi trường trong hành vi mua sắm của mình.  
Ngoài ra, họ quan tâm đến như hệ thống phân  
phối thuận tiện cho việc mua sắm của họ. Chính  
vì thế, khi doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh  
doanh chú ý đến các yếu tố trên nhằm định hình  
nhóm khách hàng và kế hoạch quảng bá sao cho  
phù hợp. Vì thế, doanh nghiệp cần tìm cách để sản  
phẩm gạo lúa mùa có thể đến tay người tiêu dùng  
một cách dễ dàng hơn. Nên mở rộng kênh phân  
phối đến các siêu thị, cửa hàng tiện lợi và các chợ.  
Càng gia tăng mật độ phân phối thì doanh nghiệp  
càng dễ tiếp cận đến nhiều đối tượng khách hàng  
khác nhau giúp gia tăng khả năng mua hàng của  
người tiêu dùng. Đồng thời có thể kết hợp các  
thêm các chương trình tư vấn dinh dưỡng kèm bán  
hàng nhằm nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng  
về sức khỏe đồng thời nhấn mạnh những lợi ích  
về sức khỏe mà gạo lúa mùa mang lại. Về vấn đề  
môi trường, các doanh nghiệp nên thực hiện các  
chương trình nhằm nâng cao nhận thức của người  
tiêu dùng về vấn đề ô nhiễm môi trường. Từ đó  
giới thiệu lợi ích của gạo lúa mùa góp phần giúp  
phục hồi đất và biến đổi khí hậu, giảm ô nhiễm  
môi trường nước và xâm nhập mặn… Sử dụng gạo  
lúa mùa không chỉ tốt cho bản thân mà còn tốt cho  
môi trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Ajzen I. (1991). The theory of planned behaviour. Organizational behaviour and human decision  
processes, 50, 179–211.  
[2]. Alamsyah, D. P., & Angliawati, R. Y. (2015). Buying Behavior Of Organic Vegetables Product: The  
Effects Of Perceptions Of Quality And Risk. International Journal of Scientific and Technology Reseach,  
4(12), 28–35.  
[3]. Dickieson, J., Arkus, V., & Wiertz, C. (2009). Factors that influence the purchase of organic food: A  
study of consumer behaviour in the UK [Msc in Management (Hornor)]. Cass Business School.  
[4]. Fishbein, M., & Ajzen I. (1975). Belief, attitude, intention and behavior. An introduction to theory  
and research reading.  
[5]. Hồ Thanh Bình. (2020). Chất lượng và phát triển sản phẩm giá trị gia tăng từ gạo lúa mùa nổi (Oryza  
sativa sp). Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ.  
[6]. Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người  
tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH Mở TP.Hồ Chí Minh.  
[7]. Lê Thị Thùy Dung. (2017). Các nhân tố tác động đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn Thạc sĩ. Đại học Kinh tế Đà Nẵng.  
[8]. Ihsan Effendi. (2015). Analysis of Consumer Behavior of Organic Food in North. Sumatra Province,  
Indonesia, Journal of Business and Management, 4(1), 44–58.  
[9]. Lê Thùy Hương. (2014). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm an toàn của  
cư dân đô thị—Lấy ví dụ tại Thành Phố Hà Nội [Luận án Tiến Sĩ]. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.  
[10]. Hoàng Trọng, & Chu Nguyễn Mộng Ngọc. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất  
bản Hồng Đức.  
[11]. Lê Thanh Phong. (2019, April 13). Cây lúa mùa, bài toán nông nghiệp ĐBSCL. Thời Báo Kinh Tế  
[12]. Mingyan Yang. (2014). Consumer Attitude and Purchase Intention towards Organic Food A  
quantitative study of China. Linnӕus University.  
[13]. Nguyen, P. T. (2011). A comparative Study of the intention to buy organic food between consumers  
in northern and sourthern of Vietnam. AU-GSB e-JOURNAL, 4(2), 100–111.  
[14]. Nguyễn Thanh Hoà Bình, Trần Trọng Nghĩa, & Trương Minh Hùng. (2017). Các nhân tố tác động  
đến ý định lựa chọn mua gạo thương hiệu của người tiêu dùng miền Đông Nam Bộ. Tạp Chí Khoa Học  
Lạc Hồng, 11/2017, 18–23.  
[15]. Nguyen Thi Ngoc Dieu, & Trinh Phuoc Nguyen. (2019). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua rau  
an toàn của người dân An Giang. Tạp Chí Kinh Tế Châu A Thái Bình Dương, 5(2019), 25–27.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 24/04/2021  
Ngày nhận bản sửa: 13/05/2021  
Ngày duyệt đăng: 30/05/2021  
1. Nguyễn Thị Diễm Hằng  
- Đơn vị công tác: Khoa Kinh tế -QTKD - Trường ĐH An Giang ,VNU-HCM  
- Địa chỉ email: [email protected].vn  
2. Huỳnh Phước Linh  
- Đơn vị công tác: Khoa Kinh tế -QTKD - Trường ĐH An Giang ,VNU-HCM  
30  
pdf 8 trang Thùy Anh 23180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua gạo lúa mùa của người tiêu dùng đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_y_dinh_mua_gao_lua_mua_cua_nguoi_ti.pdf