Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm rau bán online của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ

Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TIÊU DÙNG CÁC SẢN PHẨM  
RAU BÁN ONLINE CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ  
Nguyễn Thuỳ Trang1, Võ Hồng Tú2,  
Lê Thanh Sơn3, Nguyễn Huỳnh Mỹ Bình4  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) và đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để tìm hiểu  
các yếu tố hưởng đến thị hiếu tiêu dùng cũng như sự sẳn lòng chi trả cho mặt hàng rau bán online có  
nguồn gốc rõ ràng và tiện lợi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố như tiết kiệm thời gian, nguồn gốc  
rõ ràng, thiện chí của người bán, bao bì bảo vệ môi trường, giao đúng sản phẩm có ảnh hưởng đến quyết  
định mua các mặt hàng rau online. Bên cạnh đó người tiêu dùng sẳn sàng chi trả cao hơn 6.173 đồng/kg,  
khoảng 61% cao hơn so với giá bán các loại sản phẩm rau cùng loại bằng kênh truyền thống. Dựa trên  
kết quả CVM, nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu người tiêu dùng là giá, tuổi, tiết  
kiệm thời gian và nguồn gốc.  
Từ khóa: Rau bán online; đánh giá ngẫu nhiên, lý thuyết hành vi tiêu dùng hoạch định.  
FACTORS AFFECTING CONSUMER BEHAVIOR TOWARDS  
ONLINE VEGETABLES IN CAN THO CITY  
Abstract  
This study employed the theory of planned behavior (TPB) and contingent valuation method (CVM) to  
investigate factors affecting consumers’ preferences as well as their willingness to pay for online  
vegetables with traceability and convenience. The research results show that factors such as time saving,  
tracebility, goodwill of the seller, environmentally friendly packaging, and on-time delivery affect the  
decision to buy online vegetables. In addition, the studied consumers are willing to pay a premium of  
6,173 VND/ kilogam, which is about 61% higher as compared to the selling price of the same vegetables  
in the traditional channels. Based on CVM, there are 4 factors that affect the consumers’ preferences:  
price, age, saving time and tracebility.  
Key words: Online vegetables; contingent valuation method; theory of planned behavior.  
JEL classification: D11, D12, Q41  
trường thương mại điện tử phát triển nhanh chóng  
(DAMMIO, 2018). Theo E-conomy SEA (2019),  
thị trường thương mại điện tử Việt Nam đầu năm  
2020 đạt 5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng lên tới 81%,  
số người tham gia mua sắm trực tuyến trên nền  
tảng thương mại điện tử tăng vọt, mô hình bán lẻ  
trực tuyến năm 2019 tại Việt Nam có tốc độ tăng  
trưởng đáng kể, tăng 11,8% so với năm 2018. Sự  
phát triển công nghệ vượt bậc thì các trang thương  
mại điện tử (Shopee, Sendo, Tiki, Lazada,...), dịch  
vụ giao hàng (Now, GrabFood,..), ứng dụng thanh  
toán chi phí (SamsungPay,..) đã xuất hiện để đáp  
ứng nhu cầu và mang lại lợi ích không nhỏ cho  
người tiêu dùng. Bên cạnh những ứng dụng phổ  
biến trên có thể cung cấp những sản phẩm và dịch  
vụ thì cũng có những mô hình kinh doanh các sản  
phẩm rau tươi, sống trên các trang web hay ứng  
dụng. Tuy nhiên mô hình này chưa thể phát triển  
mạnh và người tiêu dùng chưa thể mua được  
những mặt hàng như mong muốn do: (1) bản chất  
đây không phải là hình thức mua trực tiếp nên  
người tiêu dùng không đánh giá được chất lượng  
1. Giới thiệu  
Rau là thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng  
và chất sơ tốt cho sức khoẻ và không thể thiếu trong  
các bửa ăn hàng ngày (Nguyễn Văn Thuận & Võ  
Thành Danh, 2011; Phùng Chúc Phong, 2018;  
Bazzano, Serdula & Liu, 2003; Tohill et al., 2005;  
Bazzano et al., 2005). Theo khuyến cáo về dinh  
dưỡng của tổ chức WHO, lượng rau xanh cần cho  
người Việt Nam từ 300g – 350g/người/ngày và từ  
110 – 128 kg/người/năm để đảm bảo cung cấp đầy  
đủ dưỡng chất. Năm 2017, sản lượng rau xanh các  
loại ở Thành phố Cần Thơ (TPCT) đạt 136.024 tấn,  
trong đó lượng rau có chất lượng, nguồn gốc rõ  
ràng còn khá hạn chế (Cục thống kê thành phố Cần  
Thơ, 2018). Vì vậy, Thành phố đã nhập một số mặt  
hàng rau quả từ các địa phương khác như An  
Giang, Lâm Đồng, Vĩnh Long ...  
Công nghệ ngày càng đóng vai trò rất quan  
trọng trong cuộc sống từ công việc đến sinh hoạt  
hàng ngày. Với tổng dân số 96,5 triệu người, trong  
đó người dân thành thị chiếm khoảng 35%  
(khoảng 33,8 triệu dân) và lượng người sử dụng  
Internet của Việt Nam năm 2018 đạt 64 triệu,  
chiếm khoảng 67% dân số đã góp phần cho thị  
37  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
cũng như độ tươi ngon của sản phẩm; (2) khách  
hàng không kiểm tra được nguồn gốc, xuất xứ sản  
phẩm; (3) Do rau là mặt hàng dễ hư hỏng nên  
người tiêu dùng có thể gặp rủi ro về thời gian giao  
hàng chậm sẽ dẫn đến sản phẩm hỏng. Mặc dù  
vậy, với cuộc sống ngày càng bận rộn, người tiêu  
dùng có khuynh hướng mua sắm online để thuận  
tiện cho việc chăm sóc gia đình và cân bằng giữa  
việc nhà và công việc cơ quan.  
sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu  
đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua  
và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược  
Marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản  
phẩm, dịch vụ của mình.  
Theo Lamb, Hair & McDaniel (2015), hành  
vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách  
thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và  
loại bỏ một số sản phẩm hay dịch vụ.  
Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu về nhận  
thức và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu  
dùng các mặt hàng sản phẩm rau bán online của  
người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ là rất cần  
thiết nhằm: một là, tìm hiểu nhận thức của người  
tiêu dùng về sản phẩm rau bán online; hai là, phân  
tích thị hiếu và sự sẳn lòng chi trả cho các mặt hàng  
rau bán online có nguồn gốc, xuất sứ rõ ràng; ba là,  
đề xuất giải pháp giúp phát triển mô hình nhằm  
giúp ích cho cả người tiêu dùng và nhà sản xuất.  
2. Tổng quan tài liệu  
2.1. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng tới  
hành vi người tiêu dùng  
2.1.1 Mua sắm trực tuyến (online) và lý thuyết về  
hành vi hoạch định  
Hành vi mua sắm trực tuyến (còn được gọi là  
hành vi mua hàng qua mạng, hành vi mua sắm qua  
Internet) là quá trình mua sản phẩm dịch vụ qua  
Internet (Li & Zang, 2002).  
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử  
dụng thuyết hành vi hoạch định (TPB) được phát  
triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) của  
Fishbein (1967) để nghiên cứu hành vi của người  
tiêu dùng. Theo thuyết hành vi hoạch định của  
Ajzen (1991) được phát triển từ Ajzen & Fishbein  
(1975) thì ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh  
hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi,  
tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát  
hành vi. Chuẩn chủ quan là sự thúc đẩy theo ý  
muốn của những người ảnh hưởng. Nhận thức  
kiểm soát hành vi đề cập đến khả năng một cá  
nhân thực hiện một hành vi nhất định.  
2.1.2. Khái niệm hành vi và nhận thức của người  
tiêu dùng  
Theo Kotler & Armstrong (2001), nghiên  
cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận  
biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là  
xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua  
Theo Kotler & Armstrong (2001), nhận thức  
là tiến trình từ đó người ta chọn lọc, tổ chức và lý  
giải thông tin để hình thành một bức tranh có ý  
nghĩa về thế giới. Người ta có thể hình thành  
những nhận thức khác nhau trước những kích tác  
giống nhau do 03 tiến trình thuộc về nhận thức:  
sàng lọc, chỉnh đốn và khắc họa.  
Từ hành vi mua sắm có hoạch định, người tiêu  
dùng sẽ sẳn lòng chi trả cho sản phẩm có thuộc tính  
thoã mãn kết quả mong đợi của khách hàng. Những  
kết quả này thuộc 3 nhóm yếu tố như: nhóm tiêu  
chuẩn chủ quan (khuyến mãi, số lượng người tiêu  
dùng, hôn nhân, phiền hà …); nhóm thái độ đối với  
hành vi (tuổi, nguồn gốc xuất xứ, trình độ của  
người tiêu dùng…); và nhóm nhận thức kiểm soát  
hành vi (thu nhập của người tiêu dùng).  
2.2 Các nghiên cứu có liên quan  
Nghiên cứu về tác động của nhận thức đến ý  
định và hành vi mua của người tiêu dùng đã được  
nhiều nhà nghiên cứu thực hiện với nhiều lý  
thuyết khác nhau được ứng dụng, trong đó có 2 lý  
thuyết được sử dụng phổ biến là lý thuyết động cơ  
bảo vệ (PMT-Protection Motivation Theory) và lý  
thuyết hành vi hoạch định (TPB – theory of  
planned bahabior). Lý thuyết động cơ bảo vệ  
(PMT) được phát triển bởi tác giả Rogers (1975)  
và đến năm 1983, tác giả đã mở rộng lý thuyết ra  
lĩnh vực truyền thông ảnh hưởng lên hành vi và  
được sử dụng trong 2 dạng: (1) Dùng như một  
khung lý thuyết để đánh giá và phát triển thông tin  
liên lạc; (2) để tiên đoán hành vi sức khoẻ. Lý  
thuyết PMT đã được áp dụng thành công trong  
hoạt động nâng cao sức khỏe và nâng cao lối sống  
lành mạnh (Floyd, Prentice- Dunn, & Rogers,  
2000; Cox, Koster, & Russell, 2004; Oak-Hee  
Park et al., 2011).  
Lý thuyết về hành vi hoạch định được phát  
triển từ lý thuyết hành vi hợp lý nhằm khắc phục  
38  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
sự hạn chế của lí thuyết trước về hành vi của con  
người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí (Ajzen &  
Fishbein, 1975). Lý thuyết này cho rằng khi một  
người có thái độ tích cực về một hành vi và những  
người quan trọng của họ cũng mong đợi họ thực  
hiện hành vi thì kết quả là họ có mức độ ý định  
hành vi cao hơn, điều này đã được chứng minh  
trong nhiều nghiên cứu. Đã có nhiều công trình  
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định  
và hành vi của người tiêu dùng ở Ấn Độ,  
Malaysia, Bangladesh, Mông Cổ và một số lĩnh  
vực khác (Salehi, 2012; Mohammed, 2012; Hsu  
& Bayarsaikhan, 2012; Mihra, 1970; Johnston &  
White, 2003, McMillan & Conner, 2003;  
Armitage et al., 1999; Terry & Hogg, 1996;  
Norman & Conner, 1993, Abraham et al., 1999;  
Lee & Hoang Thi Bich Ngoc, 2010; Nguyễn Thị  
Bảo Châu & Lê Nguyễn Xuân Đào, 2014; Hà  
Ngọc Thắng & Nguyễn Thành Độ, 2016).  
Theo Cumming et al. (1980) cho rằng lý  
thuyết PMT tập trung trên đo lường nguy cơ, nhận  
thức sự nhạy cảm, mức độ nghiêm trọng, trong khi  
đó các nhà nghiên cứu như Rosenstock et al.  
(1988), Weinstein (1993), Conner et al. (1994),  
Pligt (1994) đều cho rằng lý thuyết TPB tập trung  
trên niềm tin hành vi. Vì vậy, khi nghiên cứu về  
hành vi mua sắm trực tuyến, các tác giả thường sử  
dụng lý thuyết hành vi hoạch định do các ưu điểm  
của nó phù hợp hơn lý thuyết bảo vệ động cơ.  
Nghiên cứu về thái độ đối với hành vi mua  
sắm trực tuyến được thực hiện nhiều ở ngoài nước  
(Koufaris & Hampton-Sosa, 2002a; Koufaris &  
Hampton-Sosa, 2002b, Koufaris, 2002; Pavlou,  
2003; Nagra & Gopal, 2013),... Các nghiên cứu về  
hành vi mua sắm trực tuyến tại Việt Nam còn rất  
hạn chế do đây là một hiện tượng xã hội khá phức  
tạp về kỹ thuật, hành vi và tâm lý (Ngo Tan Vu  
Khanh & Gwangyong, 2014). Hầu như các nghiên  
cứu về thị trường thương mại điện tử chỉ dừng lại  
ở mức mô tả.  
đúng, dễ dàng liên hệ người bán và giá cả phù hợp.  
Đối với các nghiên cứu về sự sẵn lòng chi trả  
của người tiêu dùng, các lý thuyết cơ bản của cách  
tiếp cận phương pháp CVM được đề xuất bởi  
Hanemann & Kanninen (1998) thường được áp  
dụng. Phương pháp này yêu cầu trả lời câu hỏi  
khép kín, cụ thể là liệu đáp viên có chấp nhận trả  
một số tiền nhất định để có được một sự thay đổi  
nhất định cho hiện trạng của họ. Cách tiếp cận này  
được sử dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu thị  
trường mặc dù cũng có một số nhược điểm nhất  
định (Gil et al., 2000; Govindasamy et al., 2006;  
Hai et al., 2013; Khai, 2015; Khai & Yabe, 2015;  
Tsakiridou et al., 2006).  
Theo Aprile et al.(2015), các thuộc tính sản  
phẩm có ảnh hưởng đến hành vi và sự lựa chọn  
hay thị hiếu của người tiêu dùng gồm: giá (price),  
mùi vị (taste), tính thiên nhiên (naturalness), giá  
trị dinh dưỡng (nutritional value), sự thuận tiện  
(convenience), sản xuất thân thiện với môi trường  
(Environmentally friendly production), bao bì  
(packing), nhãn mác (label), phương pháp sản  
xuất truyền thống (traditional production), nguồn  
gốc (origin), sự an toàn (safety) và chế độ đãi ngộ  
lao động (fair treatment of labor).  
Từ kết quả lược khảo, mặc dù có nhiều  
phương pháp và cách tiếp cận khác nhau như sử  
dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), phân  
tích nhân tố khám phá,… để phân tích các yếu tố  
ảnh hưởng đến quyết định mua sắm trực tuyến.  
Tuy nhiên, trong phạm vi của nghiên cứu này, bài  
viết sử dụng phương pháp CVM để thực hiện phân  
tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả  
của người tiêu dùng đối với sản phẩm rau bán  
online. Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng được tham  
khảo từ các mô hình lý thuyết hành vi hoạch định,  
mô hình chấp nhận kỹ thuật mới và các nghiên cứu  
có liên quan về lĩnh vực mua sắm trực tuyến.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Khung phân tích  
Theo Sudiyarto & Widayanti (2021), người  
tiêu dùng tại Surabaya khá hài lòng với hình thức  
mua rau trực tuyến, cụ thể mức độ hài lòng theo  
chỉ số CSI đạt 74.68%. Nghiên cứu cũng tiến hành  
đề xuất một số giải pháp để nâng cao mức độ hài  
lòng của người tiêu dùng đối với mua rau trực  
tuyến gồm sự an toàn trong giao dịch, giao hành  
Từ những tổng hợp về các nghiên cứu có liên  
quan tới hành vi người tiêu dùng onlie như đã trìn  
bày ở phần trên, trong nghiên cứu này tác giả lựa  
chọn theo thuyết hành vi hoạch định của Ajzen  
(1991) được phát triển từ Ajzen & Fishbein (1975)  
thì ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi  
ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn  
39  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi.  
Chuẩn chủ quan là sự thúc đẩy theo ý muốn của  
những người ảnh hưởng. Nhận thức kiểm soát  
hành vi đề cập đến khả năng một cá nhân thực hiện  
một hành vi nhất định.  
Thái độ đối  
với hành vi  
Tiêu  
chuẩn chủ  
quan  
Ý định  
hành vi  
Hành vi  
Nhận thức kiểm  
soát hành vi  
Hình 1. Mô hình lí thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)  
Nguồn: Ajzen, 1991  
bid so với mức giá ban đầu (10.000 đồng) được  
đưa ra để nghiên cứu, lần lượt là:  
- Tăng 30% so với giá truyền thống tương  
ứng với số tiền 13.000 đồng/kg;  
- Tăng 40% so với giá truyền thống tương  
ứng với số tiền 14.000 đồng/kg;  
- Tăng 50% so với giá truyền thống tương  
ứng với số tiền 15.000 đồng/kg;  
- Tăng 60% so với giá truyền thống tương  
ứng với số tiền 16.000 đồng/kg.  
Một trong năm mức giá trên được chọn ngẫu  
nhiên để tìm hiểu sự sẵn lòng chi trả của người  
được phỏng vấn.  
3.2. Phương pháp thu thập số liệu  
Cần Thơ là thành phố trực thuộc trung ương  
với tổng dân số khoảng 1,2 triệu người, trong đó  
người dân thành thị chiếm khoảng 69,66% hay  
khoảng 860 ngàn người. Thành phố Cần Thơ gồm  
5 quận và 4 huyện. Trong tổng số 5 quận, nghiên  
cứu chọn ra hai quận là Ninh Kiều và Cái Răng để  
thực hiện nghiên cứu. Bài báo sử dụng phương  
pháp chọn mẫu thuận tiện để phỏng vấn 116 người  
tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ. Tổng thể nghiên  
cứu của đề tài là những cá nhân trên 18 tuổi, đa  
dạng ngành nghề cũng như mức độ hiểu biết về  
hình thức mua bán rau online. Điều tra viên thực  
hiện phỏng vấn trực tiếp tại chợ, siêu thị, các hệ  
thống bán lẻ như VinMart+,...  
Để xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) cho  
rau bán online, một kịch bản được xây dựng như  
sau: “Giả sử, nhờ vào sự phát triển công nghệ vượt  
bậc như hiện nay thì các ứng dụng, website bán  
nông sản, rau quả online cũng được cải tiến và  
dịch vụ tốt hơn trước như có nguồn gốc, thông tin  
rõ ràng, chất lượng được kiểm chứng, tiết kiệm  
được thời gian di chuyển, dịch vụ giao hàng tận  
nơi. Bù lại giá bán có thể sẽ cao hơn so với trung  
bình các mặt hàng được kinh doanh theo kiểu  
truyền thống (chợ, siêu thị,…)”.  
3.3 Phương pháp phân tích  
Để ước lượng mức sẵn lòng chi trả của người  
tiêu dùng đối với sản phẩm rau bán online, nghiên  
cứu sử dụng phương pháp CVM. Theo  
Govindasamy, DeCongelio, & Bhuyan (2006);  
Hai, Moritaka, & Fukuda (2013); Khai (2015);  
Khai & Yabe (2015); Lopez-Feldman (2012);  
Tran, Nomura, & Yabe (2015), hàm hữu dụng của  
người tiêu dùng được mô tả bằng hàm tuyến tính  
sau: Ui (ZiUi) = Ziβ + εi  
Trong đó, 훽 là các tham số cần ước lượng và  
εi là sai số của phương trình, i là các biến độc lập  
có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của người  
tiêu dùng. Trong nghiên cứu này, các biến độc lộc  
được xem xét và đưa vào mô hình đại diện cho ba  
nhóm yếu tố về hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và  
nhận thức về kiểm soát hành vi. Cụ thể các biến  
giải thích được sử dụng trong mô hình được trình  
bày ở Bảng 1 như sau:  
Kịch bản này được giới thiệu và giải thích với  
người được phỏng vấn trước khi đưa ra các mức  
giá để tìm hiểu về sự sẵn lòng chi trả. Giả sử,  
người tiêu dùng đang tiêu dùng rau bán theo hình  
thức truyền thống với mức giá trung bình là  
10.000 đồng/kg, người tiêu dùng có sẵn sàng chi  
trả thêm để mua rau online không? Có 4 mức giá  
40  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Bảng 1: Các biến giải thích trong mô hình hồi quy nhị phân  
Nhóm  
Tên biến  
Giải thích biến  
Kỳ vọng  
Nguồn  
Biến phụ thuộc  
Y
Sự sẵn lòng chi trả  
(1= Đồng ý; 0= không đồng ý)  
Tuổi của người được phỏng vấn  
Tuổi  
Aprile et al.(2015); Khai, 2015; Khai  
& Yabe, 2015; Kotler & Armstrong  
(2001)  
-
Trình độ Số năm đi học của người được hỏi  
học vấn  
Khai, 2015; Khai & Yabe, 2015;  
Kotler & Armstrong (2001); Huỳnh  
Việt Khải và Hoàng Mai Phương  
(2020); Khai et al. (2018)  
Đây là một yếu tố khá mới được quan  
tâm trong thời gian gần đây và cần  
được xem xét trong mô hình phân tích.  
Khai, 2015; Khai & Yabe, 2015;  
Kotler & Armstrong (2001); Huỳnh  
Việt Khải và Hoàng Mai Phương  
(2020); Khai et al. (2018)  
+
+
Nhóm thái độ  
đối với hành vi  
Nguồn gốc Có quan tâm đến nguồn gốc sản  
phẩm hay không của người được  
hỏi: (1= Có; 0= Không có)  
Thu nhập  
Thu nhập của người được phỏng  
vấn  
+
-
Nhóm  
nhận  
thức kiểm soát  
hành vi  
Mức  
bid  
Phiền hà  
giá Các mức giá trị bid (đồng)  
(13.000; 14.000; 15.000; 16.000)  
Có quan tâm đến việc phiền hà của  
nhân viên như khi mua tại cửa  
hàng không: (1= Có; 0= Không có)  
Sudiyarto & Widayanti (2021);  
Khedkar et al. (2015).  
+
Số lượng Có quan tâm đến số lượng người  
người mua mua ở các Website/ ứng dụng hay  
+
+
+
sắm nhiều  
Hôn nhân  
không: (1= Có; 0= Không có)  
Tình trạng hôn nhân của người  
được phỏng vấn  
Nhóm  
chuẩn  
quan  
tiêu  
chủ  
(1= Đã lập gia đình; 0= Chưa)  
Có quan tâm đến việc tiết kiệm  
thời gian di chuyển, lựa chọn sản  
phẩm hay không  
Thời gian  
(1= Có; 0= Không có)  
Khuyến  
mãi  
Có quan tâm đến chương trình  
khuyến mãi hay không của người  
được hỏi  
-
(1= Có; 0= Không có)  
Như vậy xác suất để nhận được câu trả lời đồng  
ý ở mức giá nghiên cứu và các biến số giải thích của  
mô hình được thể hiện bằng công thức sau:  
bổ sung. Như vậy, bằngcách sử dụng mô hình Probit  
ta có thể ước lượng được hai số hệ số: một là 훼̂ =  
̂ ̂  
⁄
훽 훿 (hệ số của những biến giải thích 푧푖 trong mô  
(
| ) )  
(
Pr 푦푖 = 1 푧푖 = Pr 푈푖 ≥ 푝푖  
̂
̂
⁄
hình và 휕 = −1 훿 là hệ số của biến giá (bid values)  
mà đề tài đang nghiên cứu. Từ hai hệ số này ta có  
(
)
= Pr 푧푖훽 + 푢푖 ≥ 푝푖  
= Pr(푢푖 ≥ 푝푖 − 푧푖훽)  
Nếu như chúng ta giả định 푢푖 tuân theo phân  
phối chuẩn 푢푖~ 푁(0, 훿푖), chúng ta có được  
̂
̂
⁄
thể tính được 훽 = (−훼̂ 훿) .  
Từ đây, bằng cách sử dụng công thức trên ta  
có thể ước lượng được giá trị kỳ vọng của sự sẵn  
lòng chi trả như sau:  
푝푖 − 푧′  
푖̂ 훽  
(
| )  
Pr 푦푖 = 1 푧푖 = Pr (푣퐼 ≥  
)
퐸 푊푇푃 푧  
̂
, 훽 = 푧푖  
̂
′ (− 훼훿̂)  
(*)  
훿
(
|
)
푖
̂
푝푖 − 푧′  
푖̂ 훽  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Thông tin chung về người tiêu dùng  
= 1 − ∅(  
)
훿
1
훿
Pr 푦푖 = 1 푧푖 = ∅(푧푖  
̂
훽 − 푝푖  
)
′
(
| )  
Người trực tiếp mua rau online có cả nam  
giới (chiếm 49%) và nữ giới (chiếm 51%) và đã  
kết hôn, chiếm 68%. Độ tuổi trung bình của đáp  
viên là 40,31 tuổi (độ lệch chuẩn là 15,59). Trình  
độ học vấn ở đây được tính theo số năm đi học,  
trung bình là 14,25 năm. Thu nhập của người được  
phỏng vấn từ 5 đến 10 triệu đồng chiếm 34,48%,  
đây là khoảng thu nhập tương đối ổn định của  
훿
Trong đó, 푣퐼 tuân theo phân phối chuẩn  
푣푖~ 푁(0,1) và ∅(푥) là hàm số tích lũy chuẩn tắc.  
Từ công thức trên ta thấy rằng mô hình này rất giống  
với Probit truyền thống, chỉ khác ở chỗ là mô hình  
có thêm biến 푝푖. Như vậy, mức sẵn lòng đóng góp  
của người tiêu dùng sẽ được ước lượng bằng mô  
hình Probit và xembiến 푝푖 như là một biến giải thích  
41  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
người dân hiện đang sinh sống tại Cần Thơ. Kế  
tiếp là từ 10 đến 15 triệu đồng chiếm tỉ lệ cao với  
20,69%; thu nhập dưới 3 triệu đồng chiếm  
20,69%; khoảng thu nhập từ 3 đến 5 triệu chiếm tỉ  
lệ 15,52%. Và chỉ có 10 người tiêu dùng, chiếm  
8,62% có mức thu nhập trên 15 triệu đồng.  
Bảng 2: Thu nhập của người tiêu dùng  
Thu Nhập (triệu đồng/Tháng)  
Tần Số  
Tỷ lệ (%)  
20,69%  
15,52%  
34,48%  
20,69%  
8,62%  
< 3  
3 – 5  
>5 – 10  
>10–15  
> 15  
24  
18  
40  
24  
10  
Tổng  
116  
100%  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
Qua kết quả trên cho thấy, đa phần người tiêu  
dùng vẫn thích lựa chọn cách thức mua rau truyền  
thống hơn (đi chợ, siêu thị,…) còn cách thức mua  
rau online còn khá mới mẻ nên chưa được tin dùng  
nhiều đối với người dân.  
4.2. Cách thức mua và mức chi tiêu đối với sản  
phầm rau  
Người tiêu dùng thường mua rau ở những địa  
điểm như siêu thị, chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,4%;  
chợ truyền thống (chiếm 75,9%), chỉ khoảng  
28,4% người tiêu dùng đã từng mua rau online.  
100%  
24.100%  
27.600%  
80%  
71.560%  
60%  
40%  
20%  
0%  
75.900%  
72.400%  
28.440%  
Mua Online  
Có Không  
Mua tại chợ  
Siêu thị  
Biểu đồ 1. Cách thức người tiêu dùng mua rau  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
trên 40.000 đồng chiếm 16,4%. Điều này cho thấy  
người tiêu dùng chi một khoảng tiền nhỏ trong thu  
nhập để mua rau.  
Mức chi phí cho mua rau của người tiêu dùng  
trong một lần mua rơi vào khoảng từ 10 đến  
20.000 đồng, chiếm 38,8%; từ trên 20 đến 30.000  
đồng chiếm 18,1%; từ trên 30 đến 40.000 đồng và  
Bảng 3: Các mức chi mua rau của người tiêu dùng  
Giá Mua (VNĐ/lần mua)  
Tần Số  
Tỷ lệ (%)  
10,3%  
38,8%  
18,1%  
16,4%  
16,4%  
100%  
< 10.000 VNĐ  
12  
45  
21  
19  
19  
116  
10 – 20.000 VNĐ  
>20–30.000 VNĐ  
>30–40.000 VNĐ  
> 40.000 VNĐ  
Tổng cộng  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
người tiêu dùng không chọn hình thức mua rau  
online gờm: (1) Chưa có nhu cầu, chiếm 47% tổng  
số ý kiến khảo sát; (2) Độ tin cậy không cao,  
chiếm 21,7%; (3) Giá cao hơn so với các kênh  
truyền thống, chiếm 14,5%; (4) Sản phẩm không  
giống như quảng cáo, chiếm 13,3%; (5) Một số lý  
do khác (chiếm 3,6%) như người tiêu dùng thích  
đi chợ truyền thống hơn, không thuận tiện cho  
người lớn tuổi,…  
4.3. Nhận thức của người tiêu dùng về rau online  
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy lý do người  
tiêu dùng chọn mua rau online gồm: (1) Tiết kiệm  
thời gian, chiếm 30,3% số ý kiến khảo sát; (2) Tìm  
đúng loại rau có nhu cầu mua, chiếm 27,3%; (3)  
Giá cả phù hợp, chiếm 21,2%; (4) Giao hàng  
nhanh chóng, chiếm tỷ lệ 21,2%. Từ những kết  
quả này cho thấy người tiêu dùng quan tâm nhiều  
đến tiêu chí tiết kiệm thời gian khi lựa chọn rau  
bán online. Nghiên cứu cũng tìm hiểu các lý do  
42  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Nguồn gốc  
Thương hiệu  
4.12  
4.06  
4.06  
2.99  
3.17  
Hình ảnh  
Giá bán  
Khuyến mãi  
Cấu trúc website  
Phản hồi  
3.44  
2.88  
Tính bảo mật  
3.9  
4.05  
4
3.87  
4.02  
Giao đúng sản phẩm  
Thời gian giao hàng  
Chi phí vận chuyển  
Chất liệu bao bì  
Tính tiện lợi  
3.3  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
3.5  
4
4.5  
5
Biểu đồ 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua rau trực tuyến  
Ghi chú: Được chấm điểm theo thang đo Likert 5 mức độ: 1= hoàn toàn không chắc chắn; 2= không chắc  
chắn; 3=trung lập; 4= chắc chắn; 5= hoàn toàn chắc chắn.  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
Những yếu tố tác động đến hành vi mua sắm  
của người tiêu dùng đối với sản phẩm rau bán  
online được thể hiện qua biểu đồ 2. Kết quả  
nghiên cứu biểu đồ 2 cho thấy người tiêu dùng  
chưa đồng tình cao với các ý kiến sau: Thương  
hiệu là yếu tố khiến tôi quyết định mua rau online,  
đạt 2,99 điểm và Nếu website/ứng dụng chỉ mang  
những màu sắc đơn giản sẽ thu hút tôi hơn, đạt  
2,88 điểm. Nghiên cứu cũng cho thấy các ý kiến  
được người tiêu dùng đồng ý hay có sự chắc chắn  
cao gồm: Tôi có quan tâm đến nguồn gốc sản xuất  
các loại rau (4,12 điểm); Người bán trên các  
website, ứng dụng rất có thiện chí và sẵn sàng  
phản hồi yêu cầu của khách hàng (4,06 điểm);  
Nhận được đúng sản phẩm muốn mua khi được  
giao hàng đến tận nơi (4,05 điểm); Thời gian giao  
hàng càng ngắn, càng cẩn thận giúp tôi có ý định  
mua dùng về lâu dài (4 điểm); Tôi có quan tâm  
đến chất liệu bao bì sản phẩm bảo vệ môi trường  
(4,02 điểm); Tôi quan tâm đến giá thành sản phẩm  
rau quả được bày bán theo hình thức online, ứng  
dụng (4,06 điểm)…  
4.4 Sự sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng  
Bảng 4 cho thấy, sự sẵn lòng chi trả của  
người tiêu dùng đối với mức giá bid càng cao sẽ  
có xu hương ngày càng giảm dần, cụ thể là đối với  
mức giá 13.000 đồng/kg thì có 68,97% người  
đồng ý chi trả, giảm xuống 62,07% với mức giá  
lần lượt 14.000 đồng/kg; 15.000 đồng/kg và giảm  
đến 20,69% đối với mức giá 16.000 đồng/kg.  
Những lý do chính được người tiêu dùng đưa ra  
khi không đồng ý chi trả chủ yếu là do độ tin cậy  
không cao đối với những mô hình mua bán trên  
mạng, ngoài ra còn do giá quá cao so với mức giá  
trung bình người ta hay mua ở các chợ, siêu thị.  
Bảng 4: Thống kê mô tả về sự sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng  
Trả lời về sự sẵn lòng chi trả  
Mức giá bid  
Số quan sát  
(đồng)  
Đồng ý chi trả Không đồng ý  
Số người  
(%)  
Số người  
(%)  
13.000  
14.000  
15.000  
16.000  
29  
29  
29  
29  
116  
20  
18  
18  
6
68,97  
62,07  
62,07  
20,69  
9
31,03  
37,93  
37,93  
79,31  
11  
11  
23  
54  
Tổng cộng  
62  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
người bận rộn, dịch vụ giao hàng thuận tiện, tiết  
kiệm thời gian di chuyển, giá cả hợp lý, ủng hộ  
người bán,…. Qua đó cho thấy, hình thức mua bán  
rau online này có cơ hội duy trì và phát triển để phù  
hợp hơn với nhu cầu của người tiêu dùng.  
Lý do cho sự đồng ý chi trả thêm cho những  
sản phẩm rau bán online là (1) họ mong muốn tiêu  
dùng sản phẩm rau quả có độ an toàn cao và (2) có  
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng chiếm tỷ lệ cao nhất; (3)  
các lý do khác như tiết kiệm thời gian cho những  
43  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Bảng 5: Các biến ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng  
Nhóm biến  
Trung  
bình  
0,53  
Độ lệch  
chuẩn  
0,5  
Tên biến  
WTP  
Giải thích biến  
Biến phụ thuộc  
Sự sẵn lòng chi trả  
(1= Đồng ý; 0= không đồng ý)  
Tuổi  
Trình độ học vấn  
Nguồn gốc  
Tuổi của người được phỏng vấn  
Số năm đi học của người được hỏi  
Có quan tâm đến nguồn gốc hay không của người  
được hỏi; (1= Có; 0= Không có)  
40,31  
14,25  
0,76  
15,59  
3,02  
0,4  
Nhóm thái độ đối  
với hành vi  
Thu nhập  
Mức giá bid  
Thu nhập của người được phỏng vấn  
Các mức giá trị bid (đồng)  
(13.000; 14.000; 15.000; 16.000)  
7.706.897  
14500  
4.026.040  
1.122,88  
Nhóm nhận thức  
kiểm soát hành vi  
Phiền hà  
Có quan tâm đến việc phiền hà của nhân viên như  
khi mua tại cửa hàng không (1= Có; 0= Không có)  
Có quan tâm đến số lượng người mua ở các Website/  
ứng dụng hay không (1= Có; 0= Không có)  
Tình trạng hôn nhân của người được phỏng vấn  
(1= Đã lập gia đình; 0= Chưa)  
Có quan tâm đến việc tiết kiệm thời gian di chuyển,  
lựa chọn sản phẩm hay không (1= Có; 0= Không  
có)  
0,73  
0,32  
0,68  
0,72  
0,44  
0,47  
0,47  
0,45  
Số lượng người  
Mua sắm nhiều  
Hôn nhân  
Nhóm tiêu chuẩn  
chủ quan  
Thời gian  
Khuyến mãi  
Có quan tâm đến chương trình khuyến mãi hay  
không của người được hỏi (1= Có; 0= Không có)  
0,46  
0,5  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
được mua sắm nhiều, khuyến mãi thuộc 3 nhân tố  
là tiêu chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành  
vi và thái độ đối với hành vi.  
Nghiên cứu đã kiểm tra hiện tượng đa cộng  
tuyến, kết quả cho thấy hệ số VIF giữa các biến  
độc lập là rất nhỏ, vì thế ta có thể kết luận rằng  
không có hiện tượng đa cộng tuyến. Phần trăm dự  
báo đúng mô hình là 64,28% cho thấy các biến  
trong mô hình giải thích được đến 64,28% sự biến  
động của sự sẳn lòng chi trả.  
Để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến  
sự sẵn lòng chi trả cho các sản phẩm rau được bán  
theo hình thức online, đề tài sử dụng phương pháp  
hồi quy probit, trong đó:  
- Biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy là sẵn  
lòng hay không sẵn lòng chi trả ở mức giá được  
khảo sát.  
- Biến độc lập của mô hình là các biến như:  
giá, tuổi, hôn nhân, học vấn, thu nhập, nguồn gốc,  
tiết kiệm thời gian, sự phiền hà của nhân viên,  
Bảng 6: Kết quả mô hình hồi quy probit  
Tên biến  
Giá  
Hôn nhân  
Tuổi  
Học vấn  
Phiền hà  
Hệ số góc  
- 0,0011***  
- 0,5575  
- 0,1566***  
- 0,0853  
- 0,7379  
0,1260  
S.E.  
Giá trị z  
-4,01  
-0,75  
-5,07  
-1,22  
-1,51  
0,31  
1,77  
-0,70  
1,98  
Hệ số P  
0,000  
0,455  
0,000  
0,223  
0,130  
0,756  
0,076  
0,482  
0,048  
0,212  
0,000  
0,0002  
0,7457  
0,0309  
0,0700  
0,4879  
0,4057  
0,4835  
0,3964  
0,9851  
0,6e-07  
5,3179  
Mua sắm nhiều  
Tiết kiệm thời gian  
Khuyến mãi  
Nguồn gốc  
Thu nhập  
0,8574*  
- 0,2786  
1,9507**  
0.75e-08  
22,7868  
1,25  
4,28  
Hệ số tự do  
Log-likelihood  
Pseudo R2  
LR 휒2  
-28,62  
64,28  
103,01  
0,000  
Prob > 휒2  
Ghi chú (*); (**); (***) các biến có ý nghĩa lần lượt ở mức 10%; 5%; 1%. S.E là sai số chuẩn.  
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2019, n = 116  
Từ kết quả nghiên cứu trên có thể ước lượng  
mức giá trung bình mà người tiêu dùng sẵn lòng  
chi trả cho sản phẩm rau được bán theo hình thức  
online theo công thức (*) như sau:  
Bảng 6 cho thấy có 4 biến ảnh hưởng có ý  
nghĩa thống kê đến sự sẳn lòng chi trả của người  
tiêu dùng. Trong đó, có 2 biến ảnh hưởng tỷ lệ  
thuận là nguồn gốc, xuất xứ và tiết kiệm thời gian  
và 02 biến ảnh hưởng tỷ lệ nghịch là giá và tuổi.  
WTPTrung bình ≈ 16.173 đồng  
44  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Kết quả ước lượng cho thấy giá trị WTP  
trung bình cho mức sẵn lòng chi trả cho các loại  
sản phẩm rau bán online khá cao, ước tính là  
16.173 đồng, cao hơn 6.173 đồng so với các loại  
sản phẩm rau nói chung được bán theo kênh  
truyền thống. Việc quyết định dùng thử và chấp  
nhận chi trả cho các sản phẩm rau bán online phụ  
thuộc vào các yếu tố như an toàn, có nguồn gốc,  
chất lượng đảm bảo, tiết kiệm thời gian, dịch vụ  
giao hàng thuận tiện, giá cả phù hợp. Về định  
lượng, kết quả phân tích mô hình hồi quy probit  
cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng  
chi trả cho các sản phẩm rau bán online WTP là  
mức giá, số tuổi của người tiêu dùng, việc tiết  
kiệm thời gian khi mua sắm rau online và nguồn  
gốc của các sản phẩm rau bán online.  
thấy có 64,28 % số người đồng ý chi trả thêm cho  
mặt hàng rau được bán theo hình thức online và  
mức giá trung bình mà người tiêu dùng sẵn sàng  
chi trả cho mặt hàng rau bán online là 16.173  
đồng/kg. Người tiêu dùng sẵn lòng chi trả thêm cho  
sản phẩm rau được bán online do tính thuận tiện  
khi mua hàng, tiết kiệm thời gian và đa dạng về sự  
lựa chọn sản phẩm. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự  
sẵn lòng chi trả của người được phỏng vấn là giá,  
tuổi, tiết kiệm thời gian và nguồn gốc. Những yếu  
tố trên sẽ là cơ sở để sản xuất, kinh doanh các loại  
rau phù hợp với nhu cầu thị trường và nhu cầu của  
người tiêu dùng trong tương lai.  
Từ kết phân tích trên nghiên cứu đã đề xuất  
một số giải pháp để nâng cao mức sẳn lòng chi trả  
cho sản phẩm rau online như (1) nguồn gốc xuất  
xứ và chất lượng của các sản phẩm rau được bán  
online phải rõ ràng, có kiểm định về chất lượng,  
(2) Do thu nhập trung bình của đáp viên đạt gần  
7,7 triệu đồng/tháng nên doanh nghiệp/đơn vị  
kinh doanh cần cân nhắc giá tiền cho từng loại mặt  
hàng rau. (3) Chất lượng dịch vụ thì nhanh chóng,  
đơn giản, có sự hướng dẫn rõ ràng cụ thể, hỗ trợ  
khách hàng lưu lại các thông tin khi thực hiện giao  
dịch, (4) thực hiện tốt chiến dịch tuyên truyền,  
quảng cáo, đặc biệt cho nhóm người cao tuổi vì họ  
theo truyền thống và không quan tâm nhiều đến  
nguồn gốc xuất xứ.  
5. Kết luận và khuyến nghị  
Từ kết quả điều tra 116 người tiêu dùng rau ở  
TPCT về nhận thức cũng như các nhân tố ảnh  
hưởng đến hành vi tiêu dùng rau online và mức sẵn  
lòng chi trả thêm cho sản phẩm rau được bán theo  
hình thức online. Kết quả nghiên cứu về nhận thức  
cho thấy đa phần người tiêu dùng biết về loại hình  
kinh doanh online nhưng chỉ có khoảng 28% trong  
tổng số người được phỏng vấn là đã từng mua rau  
qua hình thức bán online. Bằng phương pháp đánh  
giá ngẫu nhiên (CVM) để ước tính mức sẵn lòng  
chi trả của người tiêu dùng, kết quả nghiên cứu cho  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Abraham, S., & Lovell, N. (1999). Research and clinical assessment of eating and exercise behaviour.  
Hospital Medicine, 60(7), 481-485.  
[2]. Ajen, I. and Fishbein, M., (1975). Belief, attitude, intention and behavior: An introductiion to theory  
and research. Addison-Wesley.  
[3]. Ajzen, I., 1991. The theory of planned behaviour. Organizational Behaviour and Human Decision  
Processes, 50 (2): 179-211  
[4]. Armitage, C. J., Armitage, C. J., Conner, M., Loach, J., & Willetts, D. (1999). Different perceptions  
of control: Applying an extended theory of planned behavior to legal and illegal drug use. Basic and  
applied social psychology, 21(4), 301-316.  
[5]. Bazzano, L. A., Joint, F. A. O., & World Health Organization. (2005). Dietary intake of fruit and  
vegetables and risk of diabetes mellitus and cardiovascular diseases [electronic resource]. World Health  
Organization.  
[6]. Bazzano, L. A., Serdula, M. K., & Liu, S. (2003). Dietary intake of fruits and vegetables and risk of  
cardiovascular disease. Current atherosclerosis reports, 5(6), 492-499.  
[7]. Conner, M., Norman, P. (1994), Predicting Health Behaviour: Research and Practice with Social  
Cognition ꢀModels. Open University Press.  
[8]. Cox, D. N., Koster, A., & Russell, C. G. (2004). Predicting intentions to consume functional foods  
and supplements to offset memory loss using an adaptation of protection motivation theory. Appetite,  
43(1), 55-64.  
[9]. Cục Thống kê Thành Phố Cần Thơ (2018). Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 12 năm 2018. Truy cập  
ngày 26/08/2019.  
[10]. Cummings, M.K., Becker, M.H., & Maile, M.C. (1980). Bringing Models together: An Empirical  
Approachto Combining Variables to Explain Health Action, Journal of Behavioral Medicine, 3(2), p. 123-  
145.  
[11]. Dammio (2018). Các số liệu thống kê Internet Việt Nam năm 2018. truy cập ngày 22/08/2019. Truy  
45  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
[12]. Fishbein, M. (Ed.). (1967). Readings in attitude theory and measurement. Wiley.  
[13]. Floyd, D. L., Prentice‐Dunn, S., & Rogers, R. W. (2000). A meta‐analysis of research on protection  
motivation theory. Journal of applied social psychology, 30(2), 407-429.  
[14]. Hà Ngọc Thắng & Nguyễn Thành Độ (2016). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến  
của người tiêu dùng Việt Nam: Nghiên cứu mở rộng thuyết hành vi có hoạch định. Tạp chí khoa học Đại  
học quốc gia Hà Nội, kinh tế và kinh doanh, Tập 32; Số 4 Tr 21-28.  
[15]. Hsu, S. H., & Bayarsaikhan, B. E. (2012). Factors influencing on online shopping attitude and  
intention of Mongolian consumers. The Journal of International Management Studies, 7(2), 167-176.  
[16]. Huỳnh Việt Khải & Hoàng Mai Phương. (2020). Mức sẵn lòng chi trả của người dân địa phương ở  
xã Khánh An đối với dự án bảo tồn rừng U Minh Hạ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 178-  
184.  
[17]. Johnston, K. L., & White, K. M. (2003). Binge-drinking: A test of the role of group norms in the  
theory of planned behaviour. Psychology and Health, 18(1), 63-77.  
[18]. Khai, H. V., Duyen, T. T. T., & Xuan, H. T. D. (2018). The Demand of Urban Consumers for Safe  
Pork in the Vietnamese Mekong Delta. Journal of Social and Development Sciences, 9(3), 47-54.  
[19]. Khanh, N. T. V., & Gim, G. (2014). Factors affecting the online shopping behavior: An empirical  
investigation in vietnam. International Journal of Engineering Research and Applications, 4(2), 388-392.  
[20]. Khedkar, E. B., Phule, S., & Patil, D. (2015). Analysis of Customer Satisfaction during Online  
Purchase. International Journal of Research in Finance and Marketing, 5(5), 1-7.  
[21]. Kotler, P., & Armstrong, G. (2004). Principles of marketing. 14th. Boston: Pearson Prentice  
Hall, 24(613), 97.  
[22]. Koufaris, M. (2002). Applying the technology acceptance model and flow theory to online consumer  
behavior. Information systems research, 13(2), 205-223.  
[23]. Koufaris, M., & Hampton-Sosa, W. (2002a). Customer trust online: examining the role of the  
experience with the Web-site. Department of Statistics and Computer Information Systems Working Paper  
Series, Zicklin School of Business, Baruch College, New York.  
[24]. Koufaris, M., & Hampton-Sosa, W. (2002b). Initial perceptions of company trustworthiness online:  
A comprehensive model and empirical test. In CIS Working Paper Series. Zicklin School of Business.  
[25]. Lamb, C. W., Hair, J. F., & McDaniel, C. (2015). MKTG 9. Cengage Learning.  
[26]. Lee, S. H., & Ngoc, H. T. B. (2010). Investigating the on-line shopping intentions of Vietnamese  
students: an extension of the theory of planned behaviour. World Transactions on Engineering and  
Technology Education, 8(4), 471-476.  
[27]. Li, N., & Zhang, P. (2002). Consumer online shopping attitudes and behavior: An assessment of  
research. AMCIS 2002 proceedings, 74.  
[28]. McMillan, B., & Conner, M. (2003). Using the theory of planned behaviour to understand alcohol  
and tobacco use in students. Psychology, Health & Medicine, 8(3), 317-328.  
[29]. Mishra, S. (1970). Adoption of m-commerce in India: Applying theory of planned behaviour model.  
The Journal of Internet Banking and Commerce, 19(1), 1-17.  
[30]. Mohammed, A. A. (2012). A Critique of Descartes' Mind-Body Dualism. Kritike: An Online Journal  
of Philosophy, 6(1).  
[31]. Murgraff, V., White, D., & Phillips, K. (1999). An application of protection motivation theory to  
riskier single-occasion drinking. Psychology and Health, 14(2), 339-350.  
[32]. Nagra, G., & Gopal, R. (2013). A study of factors affecting on online shopping behavior of  
consumers. International Journal of Scientific and Research Publications, 3(6), 1-4.  
[33]. Nguyễn Thị Bảo Châu & Lê Nguyễn Xuân Đào (2014). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành  
vimua sắm trực tuyến của người tiêu dùng thành phố cần thơ. Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ.  
30 (2014): 8-14.  
[34]. Nguyễn Văn Thuận và Võ Thành Danh. (2011). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người  
tiêu dùng rau an toàn tại Thành Phố Cần Thơ. Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ. 17b: 113-119.  
[35]. Norman, P., & Conner, M. (1993). The role of social cognition models in predicting attendance at  
health checks. Psychology and Health, 8(6), 447-462.  
46  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
[36]. Park, O. H., Hoover, L., Dodd, T., Huffman, L., & Feng, D. (2011). The effectiveness of the modified  
expanded rational expectations model to explore adult consumers’ functional foods consumption  
behavior. Texas Tech University.  
[37]. Pavlou, P. A. (2003). Consumer acceptance of electronic commerce: Integrating trust and risk with  
the technology acceptance model. International Journal of Electronic Commerce, 7(3), 101-134.  
[38]. Phùng Chúc Phong. (2018). Vai trò quan trọng của rau tươi trong dinh dưỡng. Truy cập ngày  
cua-rau-tuoi-trong-dinh-duong.html  
[39]. Rogers, R. W. (1975). A protection motivation theory of fear appeals and attitude change1. The  
journal of psychology, 91(1), 93-114.  
[40]. Rosenstock, I. M., Strecher, V. J., & Becker, M. H. (1988). Social learning theory and the health  
belief model. Health education quarterly, 15(2), 175-183.  
[41]. Salehi, M. (2012). Consumer buying behavior towards online shopping stores in Malaysia.  
International Journal of Academic Research in Business and Social Sciences, 2(1), 393-403.  
[42]. Sudiyarto, I. T. A., & Widayanti, S. (2021). Analysis of customer satisfaction in purchasing online  
vegetable products in Surabaya. Asian Journal of Management Sciences & Education.  
[43]. Terry, D. J., & Hogg, M. A. (1996). Group norms and the attitude-behavior relationship: A role for  
group identification. Personality and social psychology bulletin, 22(8), 776-793.  
[44]. Tohill, B. C., & Joint, F. A. O. (2005). Dietary intake of fruit and vegetables and management of  
body weight [electronic resource]. World Health Organization.  
[45]. Van Der Pligt, J. (1994). Risk appraisal and health behaviour. In D. R. Rutter & L. Quine (Eds.),  
Social psychology and health: European perspectives (p. 131–151)  
[46]. Weinstein, W.D. (1993), Testing Four Competing Theories of Health-Protective Behavior, Health  
Psychology, 12, p. 324-333.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 07/05/2021  
Ngày nhận bản sửa: 26/05/2021  
Ngày duyệt đăng: 30/05/2021  
1. Nguyễn Thùy Trang  
- Đơn vị công tác: Khoa Phát triển Nông thôn, Đại học Cần Thơ  
- Địa chỉ email: [email protected].vn  
2. Vũ Hồng Tú  
- Đơn vị công tác: Khoa Phát triển Nông thôn, Đại học Cần Thơ  
- Địa chỉ email: [email protected].vn  
3. Lê Thanh Sơn  
- Đơn vị công tác: Khoa Phát triển Nông thôn, Đại học Cần Thơ  
4. Nguyễn Huỳnh Mỹ Bình  
47  
pdf 11 trang Thùy Anh 21920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm rau bán online của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_tieu_dung_cac_sa.pdf