Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
Original Article  
Information Technology Application Policies  
in the Development of Science and Technology Information  
Products and Services in Vietnam  
Tran Minh Tam1,, Tran Van Hong2  
1Sai Gon University, 273 An Duong Vuong, District 5, Ho Chi Minh City, Vietnam  
2Culture Center, District 6, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Received 22 December 2020  
Revised 03 March 2021; Accepted 04 March 2021  
Abstract: Scientific and technological information products and services are one of the important  
factors that create the scientific and technological information potential of each country. In the  
context of the Fourth Industrial Revolution having a strong impact on all aspects of socio-economic  
life, the policy of applying information technology to the development of information science and  
technology products and services needs improving to promote the provision of scientific and  
technological information products and services to organizations, individuals and businesses. On the  
basis of systematization and assessment of current regulations on information technology  
application policies in the development of information science and technology products and  
services, the study proposes some orientations to improve the current policy.  
Keywords: Scientific and technological information, information science and technology policies,  
products and services, information technology application.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
55  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
56  
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam  
Trần Minh Tâm1,, Trần Văn Hồng2  
1Trường Đại học Sài Gòn, 273 An Dương Vương, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
2Trung tâm Văn hóa, Quận 6, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Nhận ngày 22 tháng 12 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 03 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là một trong những yếu tố quan  
trọng tạo ra tiềm lực thông tin khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cách mạng  
công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, chính sách ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ cần  
được hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ phục vụ tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống hóa và đánh giá thực trạng quy  
định hiện hành về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ, nghiên cứu đề xuất một số định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện  
chính sách.  
Từ khóa: Thông tin khoa học và công nghệ, chính sách, sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin.  
1. Dẫn nhập  
sản phẩm và dịch vụ thông tin cho người sử  
dụng. Xuất phát từ yêu cầu này, đặt ra yêu cầu  
trong việc xây dựng chính sách ứng dụng công  
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ, chính sách  
này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của 02  
chính sách cơ bản: đó là chính sách thông tin  
khoa học và công nghệ (với nội dung chủ đạo  
liên quan đến phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ) và chính sách  
ứng dụng công nghệ thông tin (với nội dung chủ  
đạo liên quan đến cung cấp cơ sở hạ tầng, công  
nghệ thông tin, hệ thống phần mềm, trang thiết  
bị) cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ. Với sự giao  
thoa này, chủ thể ban hành chính sách, các nội  
dung về chính sách là hết sức đa dạng, và có tác  
Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức là một  
trong những xu thế chủ đạo trong sự phát triển  
kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia hiện nay. Trong  
xã hội này, vai trò của thông tin khoa học và công  
nghệ ngày một quan trọng, và là động lực cho sự  
phát triển, từ đó đặt ra nhiệm vụ cho các tổ chức  
cung ứng thông tin khoa học và công nghệ, sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
phải không ngừng đổi mới, cải tiến về quy trình  
xây dựng, chất lượng đầu ra của sản phẩm và  
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng,  
trong đó ứng dụng thành tựu của khoa học và  
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là một  
trong những giải pháp hữu hiệu góp phần đổi  
mới khả năng cung ứng và khả năng tiếp cận đến  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
57  
động đến nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ trong đó  
có hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ.  
tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông,  
có tổ chức và được trả công”[1].  
Xuất phát từ phân tích nội hàm khái niệm sản  
phẩm và dịch vụ nói chung, trong tiếp cận của  
nghiên cứu có thể đưa ra những nhận diện về sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
như sau:  
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích  
nội dung chính sách ứng dụng công nghệ thông  
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ, và nhận diện một số tác  
động của chính sách đến hoạt động xây dựng và  
phát triển sản phẩm thông tin khoa học và công  
nghệ và mức độ khai thác sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ của tổ chức, cá  
nhân; nhóm tác giả nhận diện những điểm mạnh  
và điểm yếu của chính sách, từ đó đề xuất những  
giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách, tạo cơ  
sở cho việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam.  
- Sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ  
là kết quả của quá trình phân tích, xử lý thông tin  
khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân thực  
hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu thông tin  
chuyên sâu của người sử dụng.  
Từ khái niệm này có thể nhận diện nội hàm  
của sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ  
đó là kết quả của quá trình lao động, ở đây là quá  
trình phân tích, xử lý thông tin khoa học và công  
nghệ.  
- Các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ: trên cơ sở tiếp cận  
theo kết quả của quá xử lý thông tin, có thể xác  
định, sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ bao gồm: (1) cơ sở dữ liệu (bao gồm:  
cơ sở dữ liệu thư mục và cơ sở dữ liệu dữ kiện);  
(2) tóm tắt khoa học; (3) chỉ dẫn, trích dẫn khoa  
học; (3) tổng quan, tổng luận khoa học; (4) Mục  
lục tra cứu (bao gồm mục lục truyền thống và  
mục lục điện tử); (5) trang thông tin điện tử ; (6)  
2. Cơ sở lý luận về chính sách ứng dụng công  
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
Để nhận diện nội hàm khái niệm chính sách  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ, trước tiên cần làm rõ nội hàm của 02 khái  
niệm: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ” và “phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ”.  
các bản phân tích thông tin theo nhu cầu…. [2].  
- Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ:  
là một loại hình dịch vụ khoa học và công nghệ,  
là công việc, hoạt động, quy trình hay phương  
thức cung cấp thông tin khoa học và công nghệ  
nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử  
dụng.  
2.1. Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ  
Theo C.Mác, “sản phẩm là kết quả của quá  
trình lao động để phục vụ cho việc thỏa mãn nhu  
cầu của con người”. Sản phẩm trong nền kinh thế  
thị trường được xác định đó là bất kỳ cái gì đó có  
thể đáp ứng và tạo ra lợi nhuận.  
- Các loại hình dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ: tùy thuộc vào mức độ chuyên sâu  
trong sử dụng thông tin khoa học và công nghệ  
của người sử dụng, dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ bao gồm các loại hình như: (1) dịch  
vụ cung cấp và phổ biến thông tin có chọn lọc;  
(2) dịch vụ mượn liên thư viện; (3) dịch vụ tư  
vấn thông tin; (4) tổ chức hội nghị, hội thảo, triển  
lãm khoa học và công nghệ, chợ công nghệ; (5)  
đào tạo kiến thức thông tin; (6) các dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ khác.  
Về nội hàm khái niệm dịch vụ, trong nền kinh  
tế quốc dân, dịch vụ là một đối tượng rất đa dạng  
và phong phú, có thể là các dịch vụ phục vụ cho  
cuộc sống hàng ngày như: ăn, mặc, ở, đi lại, có  
thể là các dịch vụ công, có thể là dịch vụ hỗ trợ  
sản xuất, kinh doanh… Có nhiều định nghĩa khác  
nhau liên quan đến khái niệm này. Theo từ điển  
Tiếng Việt “dịch vụ là công việc phục vụ trực  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
58  
2.2. Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ  
động sản xuất, kinh doanh, quản lý và các hoạt  
động trong đời sống của con người.  
Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ được xác định là việc chủ thể thực  
hiện các biện pháp khác nhau tác động lên hoạt  
động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ thông qua việc ứng dụng  
dụng công nghệ thông tin. Các biện pháp về ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
bao gồm 03 nhóm cơ bản đó là: (1) nghiên cứu,  
lựa chọn phần mềm, các sản phẩm công nghệ  
thông tin; (2) vận hành hạ tầng công nghệ thông  
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ và (3) bảo đảm các nguồn  
lực cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ.  
Trong tiếp cận của nghiên cứu, phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ là việc chủ thể cung ứng sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
thực hiện các biện pháp nhằm phát triển về mặt  
số lượng, chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ nhằm phục vụ các nhu  
cầu khác nhau của người sử dụng.  
Như vậy, quá trình phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ gắn với  
quá trình phân tích, xử lý thông tin, cũng như  
triển khai cung ứng thông tin khoa học và công  
nghệ và các sản phẩm tạo ra từ qua trình này đến  
với người sử dụng. Phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ được xem là  
công việc thường ngày, quan trọng, chủ chốt của  
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ của  
mỗi tổ chức.  
2.4. Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ  
Các biện pháp phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ được các tổ  
chức thông tin khoa học và công nghệ hướng tới  
bao gồm: chuẩn hóa quy trình xử lý thông tin bao  
gồm: (1) quy trình xử lý, tiêu chuẩn xử lý, công  
cụ xử lý và chất lướng sản phẩm đầu ra; (2)  
chuẩn hóa phương thức cung ứng dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ; (3) tăng cường cơ sở  
vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin; tạo nền  
tảng cho phát triển sản phẩm và dịch vụ thông  
tin; (4) thực hiện liên thông, liên kết giữa các tổ  
chức trong việc phát triển và cung ứng dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ.  
Thực tế hiện nay, chính sách ứng dụng công  
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ không được  
công bố ở một văn bản riêng biệt mà nó được  
chuyển tải nội dung ở nhiều văn bản khác nhau,  
có sự liên kết, bổ sung cho nhau. Trong đó có 02  
hệ thống văn bản tạo nên chính sách này đó là:  
hệ thống văn bản chung liên quan đến hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin, và hệ thống văn  
bản chuyên ngành liên quan đến hoạt động thông  
tin khoa học và công nghệ. Hai hệ thống văn bản  
này chứa đựng những nội dung khác nhau liên  
quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong tạo  
lập, xử lý, hoàn thiện và phân phối sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ đến  
người sử dụng. Như vậy, trong tiếp cận của  
nghiên cứu, có thể định nghĩa chính sách ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phá triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
như sau:  
2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ  
Ứng dụng công nghệ thông tin (Information  
Technology Applications) là một trong những  
thuật ngữ phổ biến trong thời đại công nghệ  
thông tin hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin  
được hiểu là việc sử dụng các thành tựu của công  
nghệ thông tin hiện đại phục vụ cho các hoạt  
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ là tập hợp các biện pháp  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
59  
được thể chế hóa mà chủ thể quyền lực hoặc chủ  
thể quản lý đưa ra, tạo ra sự ưu đãi trong hoạt  
động ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ  
chức thông tin khoa học và công nghệ nhằm  
phục vụ cho hoạt động phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ phục vụ  
nhu cầu sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân  
và doanh nghiệp [3-6].  
thông tin và hệ thống văn bản về hoạt động thông  
tin khoa học và công nghệ. Trong đó, hệ thống  
văn bản về ứng dụng công nghệ thông tin giữ vai  
trò trong việc tạo ra nền tảng, và cơ sở chung cho  
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi  
ngành, lĩnh vực; hệ thống văn bản về hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ giữ vai trò điều  
chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình  
áp dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ; quá trình ứng dụng này được xem xét ở cả  
03 giai đoạn: hình thành quy trình; tạo lập sản  
phẩm và dịch vụ và thực hiện cung ứng đến  
người sử dụng.  
Từ định nghĩa này có thể nhận diện nội hàm  
của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ theo những điểm sau:  
- Về chủ thể, đối tượng ban hành chính sách:  
đó là cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm  
chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý nhà nước.  
3.1. Hệ thống quy định chung về ứng dụng công  
- Về mục tiêu của chính sách đó là: phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin khoa học  
và công nghệ của tổ chức, cá nhân và doanh  
nghiệp.  
nghệ thông tin  
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đặc  
biệt là công nghệ thông tin trong nhiều thập niên  
trở lại đây, đã tác động đến việc hoàn thiện các  
chính sách của Nhà nước về ứng dụng công nghệ  
thông tin nhằm nâng cao năng lực sản xuất cho  
toàn xã hội. Chính sách ứng dụng công nghệ  
thông tin nói chung đã được cụ thể hóa rõ nét tại  
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất đó là Luật  
Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29  
tháng 6 năm 2006 (sau đây gọi tắt là Luật Công  
nghệ thông tin). Luật công nghệ thông tin đã điều  
chỉnh các hoạt động ứng dụng công nghệ thông  
tin, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát  
triển công nghệ thông tin, quyền, nghĩa vụ của  
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng  
dụng công nghệ thông tin. Tại Luật này, Nhà  
nước đã quy định các chính sách về ứng dụng và  
phát triển công nghệ thông tin, theo đó: Nhà  
nước ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin  
trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và sự  
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng  
dụng và phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng  
yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp  
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; tạo điện  
kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng  
công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển  
kinh tế-xã hội, đối ngoại quốc phòng, an ninh;  
thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát  
triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng  
- Phương tiện để thực hiện chính sách đó là  
các biện pháp nhằm tạo ra những ưu đãi nhất  
định cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông  
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ của các tổ chức, cá nhân  
và doanh nghiệp trong đó hướng đến các biện  
pháp như: vấn đề kiện toàn, củng cố mạng lưới  
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ, tạo sự  
liên kết trong ứng dụng công nghệ thông tin; vấn  
đề về đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin,  
thiết lập các mạng nghiên cứu và đào tạo; vấn đề  
về bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động ứng  
dụng công nghệ thông tin bao gồm: nguồn nhân  
lực, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin  
và tài chính cho hoạt động ứng dụng công nghệ  
thông tin.  
3. Hiện trạng chính sách ứng dụng công nghệ  
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam  
Như đã phân tích, chính sách ứng dụng công  
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ được công  
bố tại 02 hệ thống văn bản mang chính sách đó  
là liên quan đến văn bản về ứng dụng công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
60  
nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu; Khuyến  
thông tin (với các loại hình công nghiệp công  
nghệ thông tin, thị trường công nghiệp công nghệ  
thông tin, xác định các sản phẩm công nghệ  
thông tin trọng điểm)… Đồng thời quy định các  
biện pháp bảo đảm ứng dụng công nghệ thông  
tin như: cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đầu  
tư cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong đó chú trọng đến các vấn đề như: phổ cập  
ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ các dự án  
công nghệ thông tin có hiệu quả, phát triển thông  
tin số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia,cơ sở dữ  
liệu của bộ, ngành, địa phương, cơ sở hạ tầng  
thông tin phục vụ công ích và cơ quan nhà  
nước,,.. hợp tác quốc tế về ứng dụng công nghệ  
thông tin,...  
khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin;  
Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để  
ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh  
vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp công nghệ  
thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ  
thông tin; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ  
sở hạ tầng thông tin quốc gia; các chính sách ưu  
đãi để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và  
phát triển công nghệ thông tin đối với nông  
nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên  
giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn  
tật, người có điều kiện kinh tế khó khăn; bảo đảm  
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân  
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; tăng  
cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích  
hợp tác với tổ chức cá nhân, Việt Nam và nước  
ngoài trong ứng dụng công nghệ thông tin.  
Trong bối cảnh công nghệ thông tin đã và  
đang trở thành một xu thế chủ đạo, có vai trò  
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội,  
ngoài Luật công nghệ thông tin và các văn bản  
hướng dẫn thi hành, một loạt các văn bản khác  
có liên quan cũng được ban hành định hướng chỉ  
đạo hoạt động phát triển ứng dụng công nghệ  
thông tin, trong đó phải kể đến Chỉ thị 07/CT-  
BBCVT ngày 07 tháng 7 năm 2007 của Bộ  
trưởng Bộ Bưu chính viễn thông về định hướng  
phát triển công nghệ thông tin và truyền thông  
Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (còn được gọi là  
“chiến lực cất cánh”) trong đó xác định từ năm  
2011 đến 2020 bám sát 02 phương châm đó là:  
lấy phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông  
tin và truyền thông có trình độ và chất lượng cao  
làm khâu đột phá; lầy việc nhanh chóng làm chủ  
thị trường trong nước để từng bước vững chắc,  
mở rộng thị trường sang khu vực toàn cầu là  
khâu quyết định; tại thời điểm đó, văn kiện này  
đã xác định, đến năm 2020: công nghệ thông tin  
và truyền thông Việt Nam trở thành một ngành  
quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng  
GDP,...  
Tại Điều 24 của Luật công nghệ thông tin đã  
quy định về nguyên tắc ứng dụng công nghệ  
thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước,  
theo đó: (1) việc ứng dụng công nghệ thông tin  
trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được  
ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm  
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan nhà  
nước; tạo điều kiện để người dân thực hiện tốt  
quyền và nghĩa vụ của công dân; (2) việc ứng  
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ  
quan nhà nước phải thúc đẩy chương trình đổi  
mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương  
trình cải cách hành chính; (3) việc cung cấp trao  
đổi thông tin phải đảm bảo chính xác và phù hợp  
với mục đích sử dụng; (4) Quy trình thủ tục hoạt  
động phải công khai, minh bạch; (5) Sử dụng  
thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích  
về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin  
của cơ quan nhà nước; (6) Bảo đảm an ninh, an  
toàn, tiết kiệm và có hiệu quả; (7) người đứng  
đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về  
ứng dụng công nghệ thông tin thuộc thẩm quyền  
quản lý của mình.  
Ngoài các văn kiện kể trên, trong một số năm  
trở lại đây, dưới tác động của cách mạng công  
nghiệp 4.0, Đảng và Nhà nước đã có nhiều định  
hướng quan trọng về ứng dụng công nghệ thông  
tin nhằm nắm bắt các xu thế và tận dụng những  
thành tựu của cuộc cách mạng này có liên quan  
đến công nghệ thông tin. Có thể kể đến một số  
văn kiện chứa đựng chính sách ứng dụng công  
Ngoài ra, Luật công nghệ thông tin đã quy  
định các nội dung về phát triển công nghệ thông  
tin, phát triển các sản phẩm công nghệ thông tin,  
trang thiết bị, cơ sở vật chất cho ứng dụng công  
nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công  
nghệ thông tin, phát triển công nghiệp công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
61  
nghệ thông tin như: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày  
04 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ  
về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng  
công nghiệp lần thứ 4 trong đó, một trong những  
nhóm giải pháp ưu tiên số 1 được đặt ra đó là  
“tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực  
sự về tạ tầng, ứng dụng và công nghệ thông tin-  
truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo  
đảm an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện cho  
người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng  
trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số.  
3.2.1. Thiết lập nguyên tắc của hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ  
Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ được hình thành trong quá trình hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ, vì vậy,  
việc thiết lập nguyên tắc trong hoạt động thông  
tin khoa học và công nghệ giữ vai trò căn bản  
trong quá trình xây dựng sản phẩm và dịch vụ.  
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 11, hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ đã quy  
định những nguyên tắc trong hoạt động thông tin  
khoa học và công nghệ bao gồm: (1) chính xác,  
khách quan, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu  
của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng  
sản phẩm dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ; (2) hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng  
và quản lý thông tin khoa học và công nghệ phục  
vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội,  
bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc  
tế của đất nước; (3) bảo đảm quyền của tổ chức,  
cá nhân được tiếp cận thông tin khoa học và công  
nghệ phù hợp với quy định của pháp luật; (4)  
tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật  
thông tin khoa học và công nghệ; (5) kết hợp chặt  
chẽ hoạt động thông tin khoa học và công nghệ  
với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống  
kê, truyền thông khoa học và công nghệ. Việc  
thiết lập mang lại nền tảng cơ bản, quan trọng  
đối với hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ; thông qua quy  
định này, hoạt động ứng dụng công nghệ thông  
tin với việc xây dựng quy trình, tạo lập và cung  
ứng được triển khai theo một nguyên tắc nhất  
định, bảo đảm sự thống nhất trong các tổ chức  
thông tin khoa học và công nghệ.  
Ngoài ra để thiết lập nền tảng cho hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn  
hiện nay, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy  
định quan trọng về an ninh, an toàn thông tin  
như: Luật An toàn thông tin mạng, Luật an ninh  
thông tin…Các văn bản này tạo nền tảng cơ bản  
quan trọng cho hoạt động ứng dụng công nghệ  
thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội  
của đất nước nói chung và trong hoạt động thông  
tin khoa học và công nghệ nói riêng.  
3.2. Hệ thống quy định chuyên ngành về hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ  
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ nói chung  
được triển khai từ rất sớm thông qua quá trình tin  
học hóa trong hoạt động của các tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ. Tuy vậy, phải đến khi  
Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31 tháng 8  
năm 2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin  
khoa học và công nghệ (Sau đây gọi tắt là Nghị  
định 159) thì vấn đề ứng dụng công nghệ thông  
tin trong hoạt động thông tin khoa học và công  
nghệ nói chung và trong phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ mới  
thực sự được thể chế hóa. Và cho đến nay, vấn  
đề ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ nói chung được  
quy định cụ thể tại Nghị định 11/2014/NĐ-CP  
ngày 18 tháng 02 năm 2014 (sau đây gọi tắt là  
Nghị định 11) thay thế cho Nghị định 159, với  
những nội dung quy định cụ thể, rõ ràng và thiết  
lập hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ; được thể hiện ở các điểm:  
3.2.2. Thiết lập quy trình tạo lập và cung  
ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ  
Đây là một trong những nội dung cơ bản nhất  
trong chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ; việc thiết lập quy trình  
tạo lập và cung ứng dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ được quy định tại Điều 5 của Nghị  
định 11, theo đó, văn bản này đã xác định các lọi  
hình hoạt động thông tin khoa học và công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
62  
bao gồm: (1) Thu thập, cập nhật và xử lý các dữ  
khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà  
nước (Điều 7), Đăng ký và lưu giữ kết quả thực  
hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử  
dụng ngân sách nhà nước (Điều 8) và Thu thập,  
xử lý, công bố thông tin về sử dụng kết quả thực  
hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (Điều 9)  
và thu thập các công bố khoa học và công nghệ  
(Điều 10).  
liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và  
phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ; (2)  
nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin khoa  
học và công nghệ phục vụ cho dự báo, hoạch  
định chính sách, lãnh đạo quản lý, nghiên cứu  
khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh  
doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác; (3)  
phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng cơ sở dữ  
liệu, các trang thông tin, cổng thông tin điện tử  
khoa học và công nghệ; thiết lập triển khai các  
mạng thông tin khoa học và công nghệ; ứng dụng  
công nghệ thông tin và truyền thông, phương tiện  
kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin khoa  
học và công nghệ; xây dựng thư viện điện tử,  
thư viện số; tìm kiếm, tra cứu, chỉ dẫn, khai thác,  
sử dụng thông tin khoa học và công nghệ; (4)  
cung cấp, trao đổi chia sẻ các nguồn tin khoa học  
và công nghệ; (5) phổ biến thông tin, tri thức  
khoa học và công nghệ; (5) các hoạt động khác  
có liên quan.  
3.2.3. Xác định các sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ  
Điều 12 Nghị định 11 đã xác định các loại  
hình dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
được các tổ chức, cá nhân hoạt đọng thông tin  
khoa học và công nghệ, với các nhóm dịch vụ cơ  
bản như: cung cấp thông tin, tài liệu, các thông  
tin thư mục, các thông tin về tổ chức, doanh  
nghiệp, cung cấp mạng viễn thông dùng riêng,  
trao đổi, chia sẻ thông tin khoa học và công nghệ;  
tra cứu, cung cấp trao đổi, chia sẻ thông tin khoa  
học và công nghệ, tư vấn xây dựng cơ sở dữ liệu,  
phát triển thư viện điện tử, thư viện số; đào tạo,  
hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến thông tin  
khoa học và công nghệ. Cũng tại Điều này đã  
phân nhóm các loại hình thông tin khoa học và  
công nghệ theo 02 hình thức đó là cung cấp miễn  
phí và theo hình thức có thu theo hợp đồng dịch  
vụ. Như vậy, với việc xác định các loại hình dịch  
vụ, Nghị định 11 đã cụ thể hóa chính sách ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
với việc xác định và phân nhóm các loại dịch vụ,  
để từ đó các tổ chức thông tin khoa học và công  
nghệ có thể nắm bắt thiết lập quy trình để triển  
khai thực hiện.  
Thông qua các quy định này, có thể nhận diện  
cơ bản quy trình tạo lập và cung ứng sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ của  
một tổ chức thông tin khoa học và công nghệ;  
với quy định này sẽ góp phần quan trọng trong  
việc chuẩn hóa quy trình phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ và  
chuẩn hóa các sản phẩm đầu ra của hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ. Đặc biệt, trong  
quy định này đã gắn hoạt động phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
với ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc  
xác định phát triển hạ tầng công nghệ thông tin,  
xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin, cổng  
thông tin điện tử khoa học và công nghệ,  
đây được xem là những nội dung cơ bản trong  
ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ.  
Tuy vậy vấn đề đặt ra đó là sự đồng bộ về cơ  
cấu tổ chức và các nguồn lực của các tổ chức  
thông tin khoa học và công nghệ nhằm phục vụ  
cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ này,  
bởi lẽ, không phải tổ chức thông tin khoa học  
và công nghệ nào cũng có thể triển khai thực  
hiện được đầy đủ và bài bản các dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ theo quy định của  
pháp luật.  
Ngoài ra Nghị định 11 đã có các điều, khoản  
chi tiết quy định về quá trình phát triển sản phẩm  
thông tin khoa học và công nghệ thông qua các  
hoạt động như: thu thập thông tin về nhiệm vụ  
khoa học và công nghệ đang tiến hành (Điều 6),  
Đăng ký và lưu gữ kết quả thực hiện nhiệm vụ  
3.2.4. Thiết lập và chuẩn hóa và tạo ra tính  
liên kết cho mạng lưới tổ chức thông tin khoa  
học và công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
63  
Để hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ được thực hiện, một trong  
những yêu cầu quan trọng đó là phải có một  
mạng lưới tổ chức thông tin khoa học và công  
nghệ đa dạng, nhiều thành phần, có tính chuẩn  
hóa và liên kết cao. Để cụ thể hóa biện pháp này,  
Điều 22 của Nghị định 11 đã quy định cụ thể các  
tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học  
và công nghệ bao gồm: tổ chức thực hiện chức  
năng đầu mối thông tin khoa học và công nghệ  
quốc gia; tổ chức thực hiện chức năng đầu mối  
thông tin khoa học và công nghệ cấp bộ; tổ chức  
thực hiện chức năng đầu mối thông tin khoa học  
và công nghệ cấp tỉnh; các tổ chức thông tin khoa  
học và công nghệ công lập khác; các tổ chức thực  
hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ  
do các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và  
các tổ chức khác thành lập. Với quy định này,  
Nhà nước đã thiết lập mạng lưới tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ với đầy đủ các thành  
phần khác nhau, có sự phân cấp quốc gia, cấp bộ,  
cấp tỉnh, và các tổ chức thông tin khoa học và  
công nghệ gắn với hoạt động nghiên cứu khoa  
học và phát triển công nghệ. Đồng thời quy định  
quyền và nghĩa vụ của các tổ chức thực hiện chức  
năng thông tin khoa học và công nghệ trên tinh  
thần xác định chức năng, nhiệm vụ, vị trí của  
từng loại hình trong mạng lưới tổ chức thông tin  
khoa học và công nghệ quốc gia, những nội dung  
này được quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26, 27  
và 28 của Nghị định 11.  
Tuy vậy, các nội dung quy định tại Nghị định  
mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các loại hình  
nhưng chưa có những quy định tạo ra sự liên kết,  
kết nối giữa các tổ chức thông tin khoa học và  
công nghệ đặc biệt là trong khâu liên kết, chia sẻ  
các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ thông qua hoạt động ứng dụng công  
nghệ thông tin; từ đó chưa tạo ra sự thống nhất,  
chuẩn hóa trong phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ giữa các tổ  
chức. Mặt khác, Nghị định 11 và các văn bản có  
liên quan chưa xác định cụ thể mô hình hoạt  
động cụ thể của các tổ chức thông tin khoa học  
và công nghệ, dẫn đến sự chưa thống nhất trong  
các tổ chức. Thực tế hiện nay cho thấy, trong số  
các tổ chức đầu mối thông tin khoa học và công  
nghệ, có nơi hoạt động theo mô hình đơn vị sự  
nghiệp công lập (đó là các trung tâm thông tin-  
thống kê khoa học và công nghệ) nhưng có nơi  
lại là một bộ phận hoặc một phòng ban trực thuộc  
Sở Khoa học và công nghệ hoặc một bộ phận của  
một cấp vụ, cục trực thuộc Bộ 1 [7] từ sự không  
thống nhất này sẽ dẫn đến việc khó khăn trong  
tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt  
là trong khâu huy động các nguồn lực và triển  
khai các hoạt động phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ trên nền tảng  
ứng dụng công nghệ thông tin.  
3.2.5. Bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ  
Như vậy, có thể thấy, chính sách ứng dụng  
công nghệ thông tin hiện hành đã thiết lập một  
mạng lưới tổ chức thông tin khoa học và công  
nghệ khá đa dạng, với nhiều loại hình khác nhau,  
tương ứng với từng cấp quản lý và gắn với hoạt  
động nghiên cứu và triển khai trong các cơ quan,  
tổ chức nhà nước, các viện nghiên cứu, các  
trường đại học và các tổ chức kinh tế. Việc thiết  
lập này, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra  
nền tảng trong việc ứng dụng công nghệ thông  
tin trong các tổ chức thông tin khoa học và công  
nghệ.  
Đây là một trong những biện pháp quan trọng  
nhằm bảo đảm cho hoạt động ứng dụng công  
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ được vận  
hành; các nguồn lực bảo đảm được chính sách đề  
cập bao gồm: bảo đảm về cơ sở hạ tầng công  
nghệ thông tin, bảo đảm về nguồn nhân lực và  
bảo đảm về tài chính.  
a) Bảo đảm về hạ tầng công nghệ thông tin  
Điều 13, 14 và 15 Nghị định 11 đã đề cập nội  
dung về bảo đảm hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu  
________  
truy cập ngày 29/10/2020.  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
64  
quốc gia về khoa học và công nghệ. Theo đó,  
học và công nghệ và các nguồn tài trợ của tổ  
chức, cá nhân. Đặc biệt, một điểm nổi bật trong  
chính sách tài chính và được xem là biện pháp  
bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động thông tin  
khoa học và công nghệ đó là theo tinh thần của  
khoản 2 Điều 20 Nghị định 11, ngân sách cho  
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ được  
ghi thành một mục chi riêng trong mục lục ngân  
sách nhà nước hàng năm cho hoạt động khoa học  
và công nghệ của bộ ngành và địa phương. Việc  
phân bổ ngân sách khoa học và công nghệ chi  
cho hoạt động thông tin khoa học và công nghệ  
căn cứ vào khả năng ngân sách, nhu cầu thực tiễn  
và tăng dần theo nhu cầu phát triển của hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ. Với quy định  
này, vấn đề kinh phí chi cho hoạt động thông tin  
khoa học và công nghệ nói chung và đối với hoạt  
động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ nói riêng được bảo đảm.  
Ngoài ra, Điều 4 của Nghị định 95/2014/NĐ-CP  
ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ quy  
định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt  
động khoa học và công nghệ đã xác định các hoạt  
động tuyên truyền, phổ biến tri thức truyền  
thông, hoạt động thông tin và thống kê khoa học  
và công nghệ, các cuộc khảo sát tìm kiếm thông  
tin khoa học và công nghệ được hưởng đầu tư từ  
ngân sách nhà nước.  
Nghị định xác định hạ tầng thông tin khoa học  
và công nghệ quốc gia bao gồm: cơ sở dữ liệu  
quốc gia về khoa học và coogn nghệ; các cơ sở  
dữ liệu về thông tin, thống kê khoa học và công  
nghệ; các trung tâm dữ liệu, trang thông tin, cổng  
thông tin điện tử; các nguồn tin khoa học và công  
nghệ trong nước và quốc tế dưới dạng điện tử.  
Ngoài ra, hạ tầng thông tin còn được xác định  
bao gồm: hệ thống trang thiết bị kỹ thuật để xử  
lý, truyền tải và lưu giữ thông tin khoa học và  
công nghệ; các mạng thông tin khoa học và công  
nghệ kết nối khu vực và quốc tế, bao gồm: mạng  
thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc gia và các  
mạng thông tin khoa học và công nghệ về địa  
phương. Các cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học  
và công nghệ như: thông tin về các tổ chức khoa  
học và công nghệ, thông tin về cán bộ nghiên cứu  
khoa học và công nghệ, thông tin về các nhiệm  
vụ khoa học và công nghệ (đang tiến hành, kết  
quả ứng dụng), thông tin về tài liệu sở hữu trí tuệ,  
các công bố khoa học và công nghệ và chỉ số các  
tạp chí, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học trong  
nước và quốc tế; thông tin về công nghệ, công  
nghệ cao, chuyển giao công nghệ; thông tin về  
thống kê khoa học và công nghệ trong khu vực  
và trên thế giới.  
Liên quan đến quy định về cơ sở hạ tầng công  
nghệ thông tin, các nội dung có liên quan đến  
việc khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia  
về khoa học và công nghệ, vấn đề duy trì và phát  
triển mạng thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc  
gia cũng được chính sách đề cập, từ đó tạo hành  
lang pháp lý quan trọng trong viêc củng cố và  
bảo đảm ha tầng công nghệ thông tin phục vụ  
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ.  
Như vậy có thể thấy, hệ thống chính sách tài  
chính cho hoạt động thông tin khoa học và công  
nghệ nói chung và hoạt động phát triển sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ nói  
riêng là tương đối hoàn thiện. Tuy vậy do mô  
hình hoạt động thông tin khoa học và công nghệ  
khác có sự khác nhau; có nơi là một bộ phận của  
một tổ chức, có nơi lại tồn tại độc lập, chính vì  
vậy việc vận dụng quy định về tài chính tại mỗi  
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ sẽ có sự  
khác nhau.  
b) Bảo đảm về nguồn lực tài chính  
Tài chính cho hoạt đông thông tin khoa học  
và công nghệ nói chung và trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
nói riêng được quy định cụ thể tại Điều 20 và 21  
Nghị định 11. Theo đó ngân sách nhà nước cho  
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ được  
xác định từ 03 nguồn cơ bản đó là: ngân sách nhà  
nước (ngân sách trung ương và địa phương);  
nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thông tin khoa  
c) Bảo đảm về nguồn nhân lực  
Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong  
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ được triển khai thực hiện,  
nguồn nhân lực luôn giữ vai trò then chốt và là  
nhân tố quyết định. Nguồn nhân lực phục vụ ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
65  
có mang yếu tố đặc thù khi nhóm đối tượng này  
không chỉ đòi hỏi trình độ về chuyên môn trong  
phát triển sản phẩm và dịch vụ, mà còn cần đến  
khả năng, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin.  
Trên thực tế hiện nay, chính sách về nhân lực cho  
nhóm đối tượng này chưa được quy định tại một  
văn bản cụ thể mà có sự tản mạn ở nhiều văn bản  
khác nhau trong đó phải kể đến: Thông tư số  
24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01 tháng 10  
năm 2014 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và  
Bộ Nội vụ, quy định mã số và tiêu chuẩn chức  
danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa  
học và công nghệ, trong đó có quy định về mã số  
và phân hạng chức danh nghề nghiệp viên chức  
chuyên ngành khoa học và công nghệ trong đó,  
chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm:  
nhóm chức danh nghiên cứu khoa học và nhóm  
chức danh công nghệ. Ngoài ra, còn có Thông tư  
liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV  
ngày 19 tháng 05 năm 2015 giữa Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ, quy định mã  
số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên  
chức chuyên ngành thư viện với 4 hạng chức  
danh, tương ứng với đó là tiêu chuẩn của từng  
hạng. 02 văn bản này về cơ bản định hướng trong  
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho  
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ.  
Tuy vậy thực tiễn cho thấy, do đây là đối  
tượng đặc thù, vì vậy cần thiết có những chính  
sách chuyên biện với tiêu chuẩn và chức danh  
nghề nghiệp riêng, thực tế hiện nay, chưa có  
chính sách cụ thể quy định về vấn đề này.  
3.3. Tác động của chính sách đến quá trình phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ và việc khai thác và sử dụng sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ phục  
vụ người sử dụng  
3.3.1. Nghiên cứu về quá trình phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
Để nhận diện và đánh giá hiệu quả mà chính  
sách mang lại, trong phạm vi của một bài báo,  
nhóm tác giả thực hiện việc nghiên cứu khảo sát  
quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ và việc khai thác sử  
dung sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ tại một số tổ chức thông tin khoa học  
và công nghệ làm cơ sở để đánh giá chính sách.  
Nhóm tác giả đã lựa chọn 65 tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ theo phương pháp  
chọn mẫu có chủ đích, với cơ cấu mẫu khảo sát  
theo bảng sau:  
Bảng 1. Cơ cấu mẫu khảo sát về tổ chức thông tin khoa học và công nghệ  
TT  
Loại hình tổ chức thông tin khoa học và công nghệ  
Tổng cộng  
Số lượng  
Tỷ lệ  
100  
2
65  
1
1
2
3
4
5
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp quốc gia  
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp Bộ, ngành  
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp địa phương  
Tổ chức TT KHCN trong các trường đại học  
Tổ chức thông tin KHCN khác  
8
18  
12  
32  
12  
18  
47  
15  
(Nguồn số liệu: Số liệu điều tra của phục vụ chuyên đề của Luận án)2  
Ngoài ra để thực hiện khảo sát việc khai thác  
và sử dụng thông tin khoa học và công nghệ của  
________  
2
Chuyên đề: Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ  
tiến sĩ: Hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông  
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ tại Việt Nam  
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Thuộc đề tài Luận án  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
66  
người sử dụng, trên cơ sở lựa chọn các tổ chức  
thông tin khoa học và công nghệ để khảo sát,  
nhóm tác giả đã thực hiện việc chọn mẫu ngẫu  
nhiên với 500 mẫu khảo sát với cơ cấu mẫu theo  
bảng sau:  
Bảng 2. Cơ cấu mẫu khảo sát về đối tượng khai thác thông tin khoa học và công nghệ  
Số  
lượng  
500  
42  
TT  
Nghề nghiệp/hoạt động nghiên cứu  
Tỷ lệ %  
Tổng số  
100  
8.4  
1
Nghiên cứu viên  
2
3
4
Giảng viên, tại các trường Đại học cao đẳng  
Cử nhân, Học viên cao học, nghiên cứu sinh  
Học sinh, sinh viên  
56  
11.2  
32.2  
48.2  
161  
241  
(Nguồn số liệu: Số liệu điều tra của phục vụ chuyên đề của Luận án)  
nghệ tại 65 đơn vị và thu được kết quả theo các  
biểu đồ sau:  
Trên cơ sở số lượng mẫu khảo sát nêu trên,  
nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát việc phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
* Về triển khai sản phẩm thông tin khoa học  
và công nghệ  
Chưa cung cấp sản phẩm thông tin khoa… 0  
Các sản phẩm thông tin khoa học và công…  
Hệ thống mục lục trực tuyến  
52  
74  
Trang thông tin điện tử  
82  
Cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ  
Tổng luận 12  
45  
Tổng quan  
Chỉ dẫn, trích dẫn khoa học  
Tóm tắt khoa học  
6
45  
74  
90  
Thư mục thông tin KH&CN  
0
50  
100  
Biểu đồ 1. Tình hình triển khai các sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ tại các tổ chức thông tin khoa học  
và công nghệ  
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án)  
và công nghệ trong phạm vi khảo sát chủ yếu  
mới thực hiện các sản phẩm thông tin khoa học  
và công nghệ có tính thư mục, đại trà, các sản  
phẩm thông tin khoa học và công nghệ có hàm  
lượng chất xám, có giá trị gia tăng cao như tổng  
quan, tổng luận, chỉ dẫn, trích dẫn khoa học.. vẫn  
chưa được chú trọng phát triển.  
Phân tích biểu đồ 2.3 có thể thấy tỷ trọng các  
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ thực  
hiện việc cung ứng các sản phẩm thư mục về  
thông tin khoa học và công nghệ như: thư mục  
thông tin khoa học và công nghệ, tóm tắt khoa  
học, trang thông tin điện tử, hệ thống mục lục  
trực tuyến chiếm một tỷ trọng cao. Các sản phẩm  
về tổng quan, tổng luận chiếm một tỷ trọng  
tương đối thấp , lần lượt là 6% và 12%. Từ đây  
có thể nhận diện, các tổ chức thông tin khoa học  
* Về triển khai dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
67  
0
Tổ chức các dịch vụ khác  
Tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm KH&CN  
Tra cứu, cung cấp trao đổi chia sẻ thông tin KH&CN  
Cung cấp chi tiết về nhiệm vụ KH&CN  
15  
18  
52  
15  
45  
5
40  
15  
20  
Cung cấp danh mục các tổ chức KH&CN và cán bộ…  
85  
100  
100  
Cung cấp thông tin  
0
20  
40  
60  
80  
120  
Biểu đồ 2. Tình hình triển khai các dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ trên nền tảng ứng dụng công nghệ  
thông tin  
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án )  
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ còn  
mang tính chất thông tin thư mục (thông tin ban  
đầu) hoặc thông tin về tài liệu gốc. Cho đến nay,  
ngoài Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc  
gia và một số tổ chức đầu mối thông tin khoa học  
và công nghệ cấp Bộ đã triển khai phát triển và  
cung ứng các sản phẩm thông tin có hàm lượng  
chất xám cao như: tổng quan, tổng luận và các  
ấn phẩm thông tin khoa học và công nghệ, thì  
hầu hết các tổ chức còn lại mới chỉ dừng lại  
ở mức độ các sản phẩm thông tin thư mục thông  
thường.  
Phân tích biểu đồ 2.4 có thể nhận diện, hoạt  
động cung cấp thông tin, tài liệu là một trong  
những dịch vụ chủ đạo được 100% các tổ chức  
thông itn khoa học và công nghệ triển khai thực  
hiện, ngoài ra một số dịch vụ khác cũng được  
triển khai chiếm tỷ trọng cao như: cung cấp  
thông tin thư mục (85%); tổ chức hội nghị, hội  
thảo, triển lãm về khoa học và công nghệ (52%).  
Tuy vậy, một số dịch vụ do đặc thù của từng tổ  
chức vì vậy tỷ trọng còn thấp như: cung cấp  
mạng viễn thông 5%), tư vấn về xây dựng cơ sở  
dữ liệu về khoa học và công nghệ (15%), cung  
cấp thông tin thống kê về khoa học và công nghệ  
(15%),...  
3.3.2. Nghiên cứu khai thác và sử dụng sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
của tổ chức, cá nhân  
Như vậy, nhìn chung dưới tác động của chính  
sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ việc thiết lập quy trình cũng như áp  
dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động phân  
tích, xử lý thông tin từ đó xây dựng các sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ đã  
được triển khai thực hiện với một số sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ chủ  
yếu như: cung cấp thông tin tài liệu, thư mục  
khoa học và công nghệ phục vụ cho nhu cầu của  
các đối tượng người sử dụng. Tuy vậy, các sản  
phẩm thông tin khoa học và công nghệ được triển  
khai phục vụ đến người sử dụng tại hầu hết các  
Qua khảo sát 500 nhà nghiên cứu về mức độ  
sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công  
nghệ phục vụ nghiên cứu khoa học, kết quả được  
thể hiện qua biểu đồ 3.  
Phân tích bảng số liệu có thể thấy, các đối  
tượng tiếp cận thông tin tập trung chủ yếu sử  
dụng các sản phẩm của tổ chức thông tin khoa  
học và công nghệ như: trang thông tin điện tử, cơ  
sở dữ liệu khoa học, hệ thống mục lục, các sản  
phẩm về tổng quan, tổng luận gần như rất ít sử  
dụng (chỉ chiếm 1-6%). Tỷ lệ người sử dụng sử  
dụng sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ  
nào chiếm tỷ trọng cao (27%).  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
68  
Chưa sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công…  
Các sản phẩm thông tin thư viện khác  
Hệ thống mục lục trực tuyến  
Trang thông tin điện tử  
Cơ sở dữ liệu về thông tin và thống kê khoa học và…  
Tổng luận  
27  
8
55  
76  
80  
35  
6
Tổng quan  
Chỉ dẫn, trích dẫn khoa học  
Tóm tắt khoa học  
Thư mục thông tin khoa học và công nghệ  
1
28  
28  
50  
0
10  
Tỷ lệ %  
20  
30  
40  
50  
60  
70  
Biểu đồ 3. Mức độ sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu  
(Nguồn số liệu: số liệu điều tra phục vụ Luận án)  
Qua khảo sát 500 nhà nghiên cứu về mức độ  
sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công  
nghệ phục vụ nghiên cứu khoa học, kết quả được  
thể hiện qua biểu đồ sau:  
b) Về mức độ sử dụng dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ  
Chưa từng sử dụng một dịch vụ nào  
2
2
Hỗ trợ tổ chức các hội thảo phục vụ nghiên cứu khoa học  
Sử dụng các dịch vụ thông tin khác  
Các dịch vụ cung cấp thông tin đa phương tiện khác  
Phổ biến thông tin có chọn lọc  
11  
19  
16  
Trao đổi thông tin  
Hỗ trợ tra tìm tài liệu  
Đào tạo kiến thức để tra tìm thông tin phục vụ nghiên cứu  
Tư vấn dịch vụ thông tin hỏi đáp  
33  
26  
13  
16  
41  
70  
43  
Cung cấp thông tin theo yêu cầu  
Mượn tài liệu về nhà  
Khai thác thông tin tại tổ chức TTKHCN  
0
10  
20  
30  
40  
50  
60  
70  
80  
Tỷ lệ %  
Biểu đồ 4. Mức độ sử dụng dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án)  
có tính chất giản đơn, cơ bản. Những dịch vụ  
chất lượng cao, phục vụ trực tiếp cho hoạt động  
nghiên cứu, người sử dụng lại ít được tiếp cận và  
sử dụng, các dịch vụ về phổ biến thông tin có  
chọn lọc, hỗ trợ hội thảo nghiên cứu, trao đổi  
thông tin, đào tạo kiến thức thông tin có mức độ  
sử dụng thấp.  
Qua biểu đồ có thể thấy, nhà nghiên cứu sử  
dụng dịch vụ mượn tài liệu về nhà chiếm tỷ trọng  
cao (70%), ngoài ra một số các dịch vụ cũng  
chiếm tỷ trọng cao khác như: dịch vụ khai thác  
thông tin tại tổ chức thông tin khoa học và công  
nghệ (41%), cung cấp thông tin theo yêu cầu  
(43%). Những dịch vụ này đều là những dịch vụ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
69  
4. Đánh giá nội dung chính sách  
học và công nghệ; hiện nay, các quy định về hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ mới chỉ  
dừng lại ở việc xác lập mạng lưới tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ mà chưa qy định tính  
liên kết, mối quan hệ giữa các tổ chức, tạo thuận  
lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin một  
cách thống nhất; dẫn đến hoạt động ứng dụng  
công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ tại mỗi  
tổ chức có một mức độ khác nhau và không  
mang tính chuẩn hóa trong toàn mạng lưới.  
4.1. Những điểm mạnh của chính sách  
Về cơ bản, các biện pháp được đề cập trong  
chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong  
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ là tương đối đầy đủ và hoàn  
thiện, được hình thành với 02 hệ thống văn bản  
nền tảng đó là công nghệ thông tin và hoạt động  
thông tin khoa học và công nghệ. Hai hệ thống  
văn bản này bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo ra  
những hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt  
động ứng dụng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ.  
Mặt khác, do chưa có quy định về mô hình  
hoạt động của các tổ chức thông tin khoa học và  
công nghệ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong mô  
hình hình hoạt động; từ sự thiếu thống nhất này  
dẫn đến thiếu thống nhất trong quá trình vận  
hành phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ của mỗi tổ chức, thiếu  
thống nhất trong việc bảo đảm các nguồn lực đầu  
tư cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ, điều này sẽ tác động rất  
lớn đến tính hệ thống trong hoạt động ứng dụng  
công nghệ thông tin của các tổ chức thông tin  
khoa học và công nghệ.  
Một điểm mạnh khác đó là về cơ bản chính  
sách đã quy định rõ những nguồn lực cơ bản tạo  
động lực cho hoạt động ứng dụng công nghệ  
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ, trong đó, có 02  
yếu tố cơ bản nhất được xem là nền tảng đó là:  
hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ  
thống mạng thông tin, trang thiết bị, cơ sở dữ liệu  
và các nguồn lực đầu tư tài chính bảo đảm cho  
hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Hai  
chính sách quan trọng này đều được thể chế hóa  
ở Nghị định.  
Một điểm hạn chế khác của chính sách đó là  
vấn đề về bảo đảm nguồn nhân lực cho hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ, cho đến nay chính sách của nhà nước vẫn  
chưa có những quy định cụ thể có tính đặc thù về  
tiêu chuẩn chức danh, nghề nghiệp viên chức  
chuyên ngành thông tin khoa học và công nghệ,  
với các nội dung quy định về năng lực, trình độ  
của người làm công tác phát triển sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, điều  
này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong  
việc tuyển dụng, bồi dưỡng, nâng cao trình độ  
cho nguồn nhân lực thông tin khoa học và công  
nghệ nói chung và đối với nguồn nhân lực thực  
hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ nói riêng.  
Ngoài ra, một điểm rất quan trọng cũng cần  
được nhắc đến đó là chính sách này là đã thiết  
lập quy trình xây dựng sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ, với các công  
đoạn khác nhau đồng thời xác định các sản phẩm  
và dịch vụ đầu ra của hoạt động thông tin khoa  
học và công nghệ. Từ đó tạo hành lang pháp lý  
quan trọng cho các tổ chức thông tin khoa học và  
công nghệ có thể thiết lập quy trình và xác định  
những sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học  
và công nghệ chủ lực nhằm cung cấp cho người  
sử dụng.  
4.2. Những điểm hạn chế của chính sách  
Điểm hạn chế lớn nhất của chính sách ứng  
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
đó là tính chuẩn hóa và hệ thống và tính liên kết  
trong thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin khoa  
Cuối cùng, chính sách này chưa thiết lập một  
hệ thống đánh giá chất lượng đầu ra sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ dựa trên  
nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Từ vấn  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
70  
đề này dẫn đến sự khó khăn trong thống nhất về  
chức thông tin khoa học và công nghệ đồng bộ,  
chuẩn hóa, có tính kết nối cao, có sự thống nhất  
về quy trình, sử dụng các chuẩn nghiệp vụ và có  
sự thống nhất trong hệ thống đánh giá chất lượng  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ.  
chất lượng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ thông  
tin khoa học và công nghệ nhằm cung ứng cho  
người sử dụng. Thực tế cho thấy, để có thể chuẩn  
hóa sản phẩm đầu ra, thì các nguyên liệu đầu vào  
cho hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ cũng cần được  
chuẩn hóa. Tuy vậy, cho đến nay, vấn đề chuẩn  
hóa hoạt động nghiệp vụ, việc sử dụng các chuẩn  
trong phân tích và xử lý thông tin vẫn chưa có  
quy định cụ thể, điều này dẫn đến khó khăn khi  
xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đầu ra  
của sản phẩm và dịch vụ.  
Bốn là, Nhà nước giữ vai trò chính trong đầu  
tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ, các tổ chức tư nhân giữ vai trò là  
động lực trong phát triển sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ, phát triển các  
doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ có hàm lượng  
chất xám cao, mang lại giá trị và giá thành thông  
tin.  
5. Đề xuất một số định hướng cơ bản trong  
hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ  
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ và khuyến  
nghị  
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ cần hướng đến các nội  
dung cơ bản như sau:  
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ cần được xây dựng dựa  
trên những nền tảng cơ bản đó là:  
- Kiện toàn, củng cố mạng lưới tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ, bảo đảm cho việc kết  
nối và liên thông trong xây dựng và chia sẻ sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
trong đó chú trọng các giải pháp hoàn thiện hệ  
thống tổ chức thông tin khoa học và công nghệ  
quốc gia theo hướng chuẩn hóa mô hình hoạt  
động, thiết lập cơ chế tự chủ, kiện toàn cơ quan  
điều khiển hệ thống tổ chức thông tin khoa học  
và công nghệ.  
Một là, chính sách này cần gắn kết việc ứng  
dụng công nghệ thông tin với hoạt động phát  
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ, trong đó: đổi mới phát triển sản phẩm  
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là  
mục tiêu hướng đến còn công nghệ thông tin là  
phương tiện, động lực cho quá trình đổi mới này.  
Chính sách cần được xây dựng dựa trên nền tảng  
của các thành tựu của cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư, với kết nối vạn vật, đặc biệt là  
dữ liệu lớn.  
- Chuẩn hóa hoạt động thông tin khoa học và  
công nghệ trong đó chú trọng đến chuẩn hóa về  
quy trình xây dựng và quy trình cung ứng sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ  
trên cơ sở phân định các loại hình sản phẩm và  
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ để có  
chiến lược phát triển các sản phẩm và dịch vụ  
thông tin khoa học và công nghệ chủ chốt, hướng  
đến phục vụ các đối tượng người sử dụng chuyên  
biệt với hàm lượng chất xám cao, phục vụ cho  
hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công  
nghệ.  
Hai là, việc ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển dịch vụ thông tin khoa học và  
công nghệ phải hướng đến mục tiêu bảo đảm  
quyền tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ  
của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp, tạo động  
lực trong việc kết nối tri thức khoa học và công  
nghệ của Việt Nam và thế giới, tạo ra sự gắn kết  
và là cầu nối của khu vực nghiên cứu với khu  
vực sản xuất.  
- Củng cố phát triển cơ sở hạ tầng thông tin  
khoa học và công nghệ quốc gia, hệ thống hóa,  
tích hợp đày đủ và vận hành đồng bộ các nguồn  
tri thức khoa học và công nghệ, xây dựng, phát  
Ba là, việc ứng dụng công nghệ thông tin phải  
được triển khai trên nền tảng một mạng lưới tổ  
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71  
71  
triển cơ sở dữ liệu và số hóa trên cơ sở ứng dụng  
dữ liệu lớn và internet vạn vật. Phát triển các mạng  
nghiên cứu và đào tạo, thúc đẩy quá trình truy cập  
mở đối với nguồn tin khoa học và công nghệ.  
thống đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ; văn bản quy định về  
đánh giá, xếp hạng hoạt động của tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ dựa trên chất lượng  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ.  
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ  
nhân lực công nghệ thông tin trong hoạt động  
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa  
học và công nghệ trên cơ sở thiết lập cơ chế đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và thu hút  
nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ  
thông tin, phân tích xử lý thông tin khoa học và  
công nghệ.  
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạch  
định chính sách, phát huy vai trò của Cục Thông  
tin khoa học và công nghệ quốc gia như một cơ  
quan điều khiển của toàn hệ thống tổ chức thông  
tin khoa học và công nghệ cũng như việc tham  
mưu cho Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ  
trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp  
luật, đề án, nhằm cụ thể hóa nội dung chính sách  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản  
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ./.  
- Phát triển thị trường thông tin khoa học và  
công nghệ trên cơ sở xây dựng sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ có hàm  
lượng chất xám cao và có giá trị, mang lại giá  
thành của thông tin, tạo động lực trong việc cạnh  
tranh từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch  
vụ thông tin khoa học và công nghệ.  
Tài liệu tham khảo  
[1] H. Phe, Vietnamese Dictionary, Da Nang  
Publishing House, 2014, p. 256 (in Vietnamese).  
[2] T.T. Quy, N.T. Dao, Information Processing in  
Library Information Acitivites (Monograph),  
Hanoi, 2011 (in Vietnamese).  
Khuyến nghị  
Xuất phát từ một số định hướng cơ bản trong  
hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông  
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ, tác giả xin đưa ra một số  
khuyến nghị như sau:  
[3] National Information Policy, UNESCO Guidelines  
on the Development, Approval, Implementation  
and Operation of National Information Policy,  
Translated Document, National Center for Science  
and Technology Information, Hanoi, 1999, p. 5 (in  
Vietnamese).  
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp  
luật quy định về khung pháp lý cho hoạt động  
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển  
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công  
nghệ, trong đó, chú trọng đến 02 hệ thống văn  
bản: đó là hệ thống văn bản về ứng dụng công  
nghệ thông tin (Luật công nghệ thông tin và các  
văn bản hướng dẫn thi hành), các văn bản về hoạt  
động thông tin khoa học và công nghệ (với Nghị  
định 11/2014/NĐ-CP và các văn bản có liên quan).  
[4] V.C. Dam, Collection of Published Works, Volume  
II (Policy and Strategy Studies), The Gioi  
Publisher, 2009, p. 438 (in Vietnamese).  
[5] A. Rozengardt, Alenjandra Davidziuk, Daniel  
Finquelievich, National Information Society  
Policy: A Template, UNESCO Information for All  
programme, Paris, 2009.  
[6] Mercedes Caridad Sebastian, Eva Maria Mendez  
Rodriguez and David Rodriguez Mateos, Information  
Policies in Spain: Towards the New Information  
Society, Libri, 2001, Vol. 51, pp 49-60.  
[7] Department of Science and Technology  
Information, List of Information Science and  
Tiếp tục xây dựng và ban hành các văn bản  
nhằm cụ thể hóa các quy định trong khung pháp  
lý về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin  
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ bao gồm: văn bản quy  
định về chuẩn hóa hoạt động phân tích, xử lý, tạo  
lập sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ,  
quy trình, chất lượng cung ứng dịch vụ thông tin  
khoa học và công nghệ; văn bản quy định về hệ  
Technology  
Organizations,  
Vietnamese (Accessed on: December 15th, 2020).  
pdf 17 trang Thùy Anh 17560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_phat_trien_san.pdf