Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
Original Article
Information Technology Application Policies
in the Development of Science and Technology Information
Products and Services in Vietnam
Tran Minh Tam1,, Tran Van Hong2
1Sai Gon University, 273 An Duong Vuong, District 5, Ho Chi Minh City, Vietnam
2Culture Center, District 6, Ho Chi Minh City, Vietnam
Received 22 December 2020
Revised 03 March 2021; Accepted 04 March 2021
Abstract: Scientific and technological information products and services are one of the important
factors that create the scientific and technological information potential of each country. In the
context of the Fourth Industrial Revolution having a strong impact on all aspects of socio-economic
life, the policy of applying information technology to the development of information science and
technology products and services needs improving to promote the provision of scientific and
technological information products and services to organizations, individuals and businesses. On the
basis of systematization and assessment of current regulations on information technology
application policies in the development of information science and technology products and
services, the study proposes some orientations to improve the current policy.
Keywords: Scientific and technological information, information science and technology policies,
products and services, information technology application.
________
Corresponding author.
Email address: [email protected]
55
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
56
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Trần Minh Tâm1,, Trần Văn Hồng2
1Trường Đại học Sài Gòn, 273 An Dương Vương, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
2Trung tâm Văn hóa, Quận 6, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nhận ngày 22 tháng 12 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 03 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 03 năm 2021
Tóm tắt: Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là một trong những yếu tố quan
trọng tạo ra tiềm lực thông tin khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cách mạng
công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ cần
được hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ phục vụ tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống hóa và đánh giá thực trạng quy
định hiện hành về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ, nghiên cứu đề xuất một số định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện
chính sách.
Từ khóa: Thông tin khoa học và công nghệ, chính sách, sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin.
1. Dẫn nhập
sản phẩm và dịch vụ thông tin cho người sử
dụng. Xuất phát từ yêu cầu này, đặt ra yêu cầu
trong việc xây dựng chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ, chính sách
này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của 02
chính sách cơ bản: đó là chính sách thông tin
khoa học và công nghệ (với nội dung chủ đạo
liên quan đến phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ) và chính sách
ứng dụng công nghệ thông tin (với nội dung chủ
đạo liên quan đến cung cấp cơ sở hạ tầng, công
nghệ thông tin, hệ thống phần mềm, trang thiết
bị) cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ. Với sự giao
thoa này, chủ thể ban hành chính sách, các nội
dung về chính sách là hết sức đa dạng, và có tác
Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức là một
trong những xu thế chủ đạo trong sự phát triển
kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia hiện nay. Trong
xã hội này, vai trò của thông tin khoa học và công
nghệ ngày một quan trọng, và là động lực cho sự
phát triển, từ đó đặt ra nhiệm vụ cho các tổ chức
cung ứng thông tin khoa học và công nghệ, sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
phải không ngừng đổi mới, cải tiến về quy trình
xây dựng, chất lượng đầu ra của sản phẩm và
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng,
trong đó ứng dụng thành tựu của khoa học và
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là một
trong những giải pháp hữu hiệu góp phần đổi
mới khả năng cung ứng và khả năng tiếp cận đến
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
57
động đến nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ trong đó
có hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ.
tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông,
có tổ chức và được trả công”[1].
Xuất phát từ phân tích nội hàm khái niệm sản
phẩm và dịch vụ nói chung, trong tiếp cận của
nghiên cứu có thể đưa ra những nhận diện về sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
như sau:
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích
nội dung chính sách ứng dụng công nghệ thông
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ, và nhận diện một số tác
động của chính sách đến hoạt động xây dựng và
phát triển sản phẩm thông tin khoa học và công
nghệ và mức độ khai thác sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ của tổ chức, cá
nhân; nhóm tác giả nhận diện những điểm mạnh
và điểm yếu của chính sách, từ đó đề xuất những
giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách, tạo cơ
sở cho việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam.
- Sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ
là kết quả của quá trình phân tích, xử lý thông tin
khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân thực
hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu thông tin
chuyên sâu của người sử dụng.
Từ khái niệm này có thể nhận diện nội hàm
của sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ
đó là kết quả của quá trình lao động, ở đây là quá
trình phân tích, xử lý thông tin khoa học và công
nghệ.
- Các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ: trên cơ sở tiếp cận
theo kết quả của quá xử lý thông tin, có thể xác
định, sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ bao gồm: (1) cơ sở dữ liệu (bao gồm:
cơ sở dữ liệu thư mục và cơ sở dữ liệu dữ kiện);
(2) tóm tắt khoa học; (3) chỉ dẫn, trích dẫn khoa
học; (3) tổng quan, tổng luận khoa học; (4) Mục
lục tra cứu (bao gồm mục lục truyền thống và
mục lục điện tử); (5) trang thông tin điện tử ; (6)
2. Cơ sở lý luận về chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Để nhận diện nội hàm khái niệm chính sách
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ, trước tiên cần làm rõ nội hàm của 02 khái
niệm: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ” và “phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ”.
các bản phân tích thông tin theo nhu cầu…. [2].
- Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ:
là một loại hình dịch vụ khoa học và công nghệ,
là công việc, hoạt động, quy trình hay phương
thức cung cấp thông tin khoa học và công nghệ
nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử
dụng.
2.1. Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ
Theo C.Mác, “sản phẩm là kết quả của quá
trình lao động để phục vụ cho việc thỏa mãn nhu
cầu của con người”. Sản phẩm trong nền kinh thế
thị trường được xác định đó là bất kỳ cái gì đó có
thể đáp ứng và tạo ra lợi nhuận.
- Các loại hình dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ: tùy thuộc vào mức độ chuyên sâu
trong sử dụng thông tin khoa học và công nghệ
của người sử dụng, dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ bao gồm các loại hình như: (1) dịch
vụ cung cấp và phổ biến thông tin có chọn lọc;
(2) dịch vụ mượn liên thư viện; (3) dịch vụ tư
vấn thông tin; (4) tổ chức hội nghị, hội thảo, triển
lãm khoa học và công nghệ, chợ công nghệ; (5)
đào tạo kiến thức thông tin; (6) các dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ khác.
Về nội hàm khái niệm dịch vụ, trong nền kinh
tế quốc dân, dịch vụ là một đối tượng rất đa dạng
và phong phú, có thể là các dịch vụ phục vụ cho
cuộc sống hàng ngày như: ăn, mặc, ở, đi lại, có
thể là các dịch vụ công, có thể là dịch vụ hỗ trợ
sản xuất, kinh doanh… Có nhiều định nghĩa khác
nhau liên quan đến khái niệm này. Theo từ điển
Tiếng Việt “dịch vụ là công việc phục vụ trực
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
58
2.2. Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ
động sản xuất, kinh doanh, quản lý và các hoạt
động trong đời sống của con người.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ được xác định là việc chủ thể thực
hiện các biện pháp khác nhau tác động lên hoạt
động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ thông qua việc ứng dụng
dụng công nghệ thông tin. Các biện pháp về ứng
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
bao gồm 03 nhóm cơ bản đó là: (1) nghiên cứu,
lựa chọn phần mềm, các sản phẩm công nghệ
thông tin; (2) vận hành hạ tầng công nghệ thông
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ và (3) bảo đảm các nguồn
lực cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ.
Trong tiếp cận của nghiên cứu, phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ là việc chủ thể cung ứng sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
thực hiện các biện pháp nhằm phát triển về mặt
số lượng, chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ nhằm phục vụ các nhu
cầu khác nhau của người sử dụng.
Như vậy, quá trình phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ gắn với
quá trình phân tích, xử lý thông tin, cũng như
triển khai cung ứng thông tin khoa học và công
nghệ và các sản phẩm tạo ra từ qua trình này đến
với người sử dụng. Phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ được xem là
công việc thường ngày, quan trọng, chủ chốt của
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ của
mỗi tổ chức.
2.4. Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ
Các biện pháp phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ được các tổ
chức thông tin khoa học và công nghệ hướng tới
bao gồm: chuẩn hóa quy trình xử lý thông tin bao
gồm: (1) quy trình xử lý, tiêu chuẩn xử lý, công
cụ xử lý và chất lướng sản phẩm đầu ra; (2)
chuẩn hóa phương thức cung ứng dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ; (3) tăng cường cơ sở
vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin; tạo nền
tảng cho phát triển sản phẩm và dịch vụ thông
tin; (4) thực hiện liên thông, liên kết giữa các tổ
chức trong việc phát triển và cung ứng dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ.
Thực tế hiện nay, chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ không được
công bố ở một văn bản riêng biệt mà nó được
chuyển tải nội dung ở nhiều văn bản khác nhau,
có sự liên kết, bổ sung cho nhau. Trong đó có 02
hệ thống văn bản tạo nên chính sách này đó là:
hệ thống văn bản chung liên quan đến hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin, và hệ thống văn
bản chuyên ngành liên quan đến hoạt động thông
tin khoa học và công nghệ. Hai hệ thống văn bản
này chứa đựng những nội dung khác nhau liên
quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong tạo
lập, xử lý, hoàn thiện và phân phối sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ đến
người sử dụng. Như vậy, trong tiếp cận của
nghiên cứu, có thể định nghĩa chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin trong phá triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
như sau:
2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ
Ứng dụng công nghệ thông tin (Information
Technology Applications) là một trong những
thuật ngữ phổ biến trong thời đại công nghệ
thông tin hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin
được hiểu là việc sử dụng các thành tựu của công
nghệ thông tin hiện đại phục vụ cho các hoạt
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ là tập hợp các biện pháp
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
59
được thể chế hóa mà chủ thể quyền lực hoặc chủ
thể quản lý đưa ra, tạo ra sự ưu đãi trong hoạt
động ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ
chức thông tin khoa học và công nghệ nhằm
phục vụ cho hoạt động phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ phục vụ
nhu cầu sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân
và doanh nghiệp [3-6].
thông tin và hệ thống văn bản về hoạt động thông
tin khoa học và công nghệ. Trong đó, hệ thống
văn bản về ứng dụng công nghệ thông tin giữ vai
trò trong việc tạo ra nền tảng, và cơ sở chung cho
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi
ngành, lĩnh vực; hệ thống văn bản về hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ giữ vai trò điều
chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình
áp dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ; quá trình ứng dụng này được xem xét ở cả
03 giai đoạn: hình thành quy trình; tạo lập sản
phẩm và dịch vụ và thực hiện cung ứng đến
người sử dụng.
Từ định nghĩa này có thể nhận diện nội hàm
của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ theo những điểm sau:
- Về chủ thể, đối tượng ban hành chính sách:
đó là cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm
chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý nhà nước.
3.1. Hệ thống quy định chung về ứng dụng công
- Về mục tiêu của chính sách đó là: phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin khoa học
và công nghệ của tổ chức, cá nhân và doanh
nghiệp.
nghệ thông tin
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đặc
biệt là công nghệ thông tin trong nhiều thập niên
trở lại đây, đã tác động đến việc hoàn thiện các
chính sách của Nhà nước về ứng dụng công nghệ
thông tin nhằm nâng cao năng lực sản xuất cho
toàn xã hội. Chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin nói chung đã được cụ thể hóa rõ nét tại
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất đó là Luật
Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29
tháng 6 năm 2006 (sau đây gọi tắt là Luật Công
nghệ thông tin). Luật công nghệ thông tin đã điều
chỉnh các hoạt động ứng dụng công nghệ thông
tin, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin, quyền, nghĩa vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng
dụng công nghệ thông tin. Tại Luật này, Nhà
nước đã quy định các chính sách về ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin, theo đó: Nhà
nước ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; tạo điện
kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế-xã hội, đối ngoại quốc phòng, an ninh;
thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát
triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng
- Phương tiện để thực hiện chính sách đó là
các biện pháp nhằm tạo ra những ưu đãi nhất
định cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ của các tổ chức, cá nhân
và doanh nghiệp trong đó hướng đến các biện
pháp như: vấn đề kiện toàn, củng cố mạng lưới
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ, tạo sự
liên kết trong ứng dụng công nghệ thông tin; vấn
đề về đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin,
thiết lập các mạng nghiên cứu và đào tạo; vấn đề
về bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động ứng
dụng công nghệ thông tin bao gồm: nguồn nhân
lực, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
và tài chính cho hoạt động ứng dụng công nghệ
thông tin.
3. Hiện trạng chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Như đã phân tích, chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ được công
bố tại 02 hệ thống văn bản mang chính sách đó
là liên quan đến văn bản về ứng dụng công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
60
nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu; Khuyến
thông tin (với các loại hình công nghiệp công
nghệ thông tin, thị trường công nghiệp công nghệ
thông tin, xác định các sản phẩm công nghệ
thông tin trọng điểm)… Đồng thời quy định các
biện pháp bảo đảm ứng dụng công nghệ thông
tin như: cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đầu
tư cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong đó chú trọng đến các vấn đề như: phổ cập
ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ các dự án
công nghệ thông tin có hiệu quả, phát triển thông
tin số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia,cơ sở dữ
liệu của bộ, ngành, địa phương, cơ sở hạ tầng
thông tin phục vụ công ích và cơ quan nhà
nước,,.. hợp tác quốc tế về ứng dụng công nghệ
thông tin,...
khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin;
Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để
ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh
vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp công nghệ
thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ
thông tin; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ
sở hạ tầng thông tin quốc gia; các chính sách ưu
đãi để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin đối với nông
nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn
tật, người có điều kiện kinh tế khó khăn; bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; tăng
cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích
hợp tác với tổ chức cá nhân, Việt Nam và nước
ngoài trong ứng dụng công nghệ thông tin.
Trong bối cảnh công nghệ thông tin đã và
đang trở thành một xu thế chủ đạo, có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội,
ngoài Luật công nghệ thông tin và các văn bản
hướng dẫn thi hành, một loạt các văn bản khác
có liên quan cũng được ban hành định hướng chỉ
đạo hoạt động phát triển ứng dụng công nghệ
thông tin, trong đó phải kể đến Chỉ thị 07/CT-
BBCVT ngày 07 tháng 7 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Bưu chính viễn thông về định hướng
phát triển công nghệ thông tin và truyền thông
Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (còn được gọi là
“chiến lực cất cánh”) trong đó xác định từ năm
2011 đến 2020 bám sát 02 phương châm đó là:
lấy phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông
tin và truyền thông có trình độ và chất lượng cao
làm khâu đột phá; lầy việc nhanh chóng làm chủ
thị trường trong nước để từng bước vững chắc,
mở rộng thị trường sang khu vực toàn cầu là
khâu quyết định; tại thời điểm đó, văn kiện này
đã xác định, đến năm 2020: công nghệ thông tin
và truyền thông Việt Nam trở thành một ngành
quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng
GDP,...
Tại Điều 24 của Luật công nghệ thông tin đã
quy định về nguyên tắc ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước,
theo đó: (1) việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được
ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan nhà
nước; tạo điều kiện để người dân thực hiện tốt
quyền và nghĩa vụ của công dân; (2) việc ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan nhà nước phải thúc đẩy chương trình đổi
mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương
trình cải cách hành chính; (3) việc cung cấp trao
đổi thông tin phải đảm bảo chính xác và phù hợp
với mục đích sử dụng; (4) Quy trình thủ tục hoạt
động phải công khai, minh bạch; (5) Sử dụng
thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích
về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin
của cơ quan nhà nước; (6) Bảo đảm an ninh, an
toàn, tiết kiệm và có hiệu quả; (7) người đứng
đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về
ứng dụng công nghệ thông tin thuộc thẩm quyền
quản lý của mình.
Ngoài các văn kiện kể trên, trong một số năm
trở lại đây, dưới tác động của cách mạng công
nghiệp 4.0, Đảng và Nhà nước đã có nhiều định
hướng quan trọng về ứng dụng công nghệ thông
tin nhằm nắm bắt các xu thế và tận dụng những
thành tựu của cuộc cách mạng này có liên quan
đến công nghệ thông tin. Có thể kể đến một số
văn kiện chứa đựng chính sách ứng dụng công
Ngoài ra, Luật công nghệ thông tin đã quy
định các nội dung về phát triển công nghệ thông
tin, phát triển các sản phẩm công nghệ thông tin,
trang thiết bị, cơ sở vật chất cho ứng dụng công
nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin, phát triển công nghiệp công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
61
nghệ thông tin như: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày
04 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ
về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ 4 trong đó, một trong những
nhóm giải pháp ưu tiên số 1 được đặt ra đó là
“tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực
sự về tạ tầng, ứng dụng và công nghệ thông tin-
truyền thông. Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo
đảm an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện cho
người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng
trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số.
3.2.1. Thiết lập nguyên tắc của hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ
Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ được hình thành trong quá trình hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ, vì vậy,
việc thiết lập nguyên tắc trong hoạt động thông
tin khoa học và công nghệ giữ vai trò căn bản
trong quá trình xây dựng sản phẩm và dịch vụ.
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 11, hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ đã quy
định những nguyên tắc trong hoạt động thông tin
khoa học và công nghệ bao gồm: (1) chính xác,
khách quan, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu
của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng
sản phẩm dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ; (2) hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng
và quản lý thông tin khoa học và công nghệ phục
vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội,
bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc
tế của đất nước; (3) bảo đảm quyền của tổ chức,
cá nhân được tiếp cận thông tin khoa học và công
nghệ phù hợp với quy định của pháp luật; (4)
tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật
thông tin khoa học và công nghệ; (5) kết hợp chặt
chẽ hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống
kê, truyền thông khoa học và công nghệ. Việc
thiết lập mang lại nền tảng cơ bản, quan trọng
đối với hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ; thông qua quy
định này, hoạt động ứng dụng công nghệ thông
tin với việc xây dựng quy trình, tạo lập và cung
ứng được triển khai theo một nguyên tắc nhất
định, bảo đảm sự thống nhất trong các tổ chức
thông tin khoa học và công nghệ.
Ngoài ra để thiết lập nền tảng cho hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn
hiện nay, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy
định quan trọng về an ninh, an toàn thông tin
như: Luật An toàn thông tin mạng, Luật an ninh
thông tin…Các văn bản này tạo nền tảng cơ bản
quan trọng cho hoạt động ứng dụng công nghệ
thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội
của đất nước nói chung và trong hoạt động thông
tin khoa học và công nghệ nói riêng.
3.2. Hệ thống quy định chuyên ngành về hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ nói chung
được triển khai từ rất sớm thông qua quá trình tin
học hóa trong hoạt động của các tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ. Tuy vậy, phải đến khi
Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31 tháng 8
năm 2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin
khoa học và công nghệ (Sau đây gọi tắt là Nghị
định 159) thì vấn đề ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động thông tin khoa học và công
nghệ nói chung và trong phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ mới
thực sự được thể chế hóa. Và cho đến nay, vấn
đề ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ nói chung được
quy định cụ thể tại Nghị định 11/2014/NĐ-CP
ngày 18 tháng 02 năm 2014 (sau đây gọi tắt là
Nghị định 11) thay thế cho Nghị định 159, với
những nội dung quy định cụ thể, rõ ràng và thiết
lập hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ; được thể hiện ở các điểm:
3.2.2. Thiết lập quy trình tạo lập và cung
ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ
Đây là một trong những nội dung cơ bản nhất
trong chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ; việc thiết lập quy trình
tạo lập và cung ứng dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ được quy định tại Điều 5 của Nghị
định 11, theo đó, văn bản này đã xác định các lọi
hình hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
62
bao gồm: (1) Thu thập, cập nhật và xử lý các dữ
khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà
nước (Điều 7), Đăng ký và lưu giữ kết quả thực
hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử
dụng ngân sách nhà nước (Điều 8) và Thu thập,
xử lý, công bố thông tin về sử dụng kết quả thực
hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (Điều 9)
và thu thập các công bố khoa học và công nghệ
(Điều 10).
liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và
phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ; (2)
nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin khoa
học và công nghệ phục vụ cho dự báo, hoạch
định chính sách, lãnh đạo quản lý, nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh
doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác; (3)
phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng cơ sở dữ
liệu, các trang thông tin, cổng thông tin điện tử
khoa học và công nghệ; thiết lập triển khai các
mạng thông tin khoa học và công nghệ; ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông, phương tiện
kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin khoa
học và công nghệ; xây dựng thư viện điện tử,
thư viện số; tìm kiếm, tra cứu, chỉ dẫn, khai thác,
sử dụng thông tin khoa học và công nghệ; (4)
cung cấp, trao đổi chia sẻ các nguồn tin khoa học
và công nghệ; (5) phổ biến thông tin, tri thức
khoa học và công nghệ; (5) các hoạt động khác
có liên quan.
3.2.3. Xác định các sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ
Điều 12 Nghị định 11 đã xác định các loại
hình dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
được các tổ chức, cá nhân hoạt đọng thông tin
khoa học và công nghệ, với các nhóm dịch vụ cơ
bản như: cung cấp thông tin, tài liệu, các thông
tin thư mục, các thông tin về tổ chức, doanh
nghiệp, cung cấp mạng viễn thông dùng riêng,
trao đổi, chia sẻ thông tin khoa học và công nghệ;
tra cứu, cung cấp trao đổi, chia sẻ thông tin khoa
học và công nghệ, tư vấn xây dựng cơ sở dữ liệu,
phát triển thư viện điện tử, thư viện số; đào tạo,
hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến thông tin
khoa học và công nghệ. Cũng tại Điều này đã
phân nhóm các loại hình thông tin khoa học và
công nghệ theo 02 hình thức đó là cung cấp miễn
phí và theo hình thức có thu theo hợp đồng dịch
vụ. Như vậy, với việc xác định các loại hình dịch
vụ, Nghị định 11 đã cụ thể hóa chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
với việc xác định và phân nhóm các loại dịch vụ,
để từ đó các tổ chức thông tin khoa học và công
nghệ có thể nắm bắt thiết lập quy trình để triển
khai thực hiện.
Thông qua các quy định này, có thể nhận diện
cơ bản quy trình tạo lập và cung ứng sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ của
một tổ chức thông tin khoa học và công nghệ;
với quy định này sẽ góp phần quan trọng trong
việc chuẩn hóa quy trình phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ và
chuẩn hóa các sản phẩm đầu ra của hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ. Đặc biệt, trong
quy định này đã gắn hoạt động phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
với ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc
xác định phát triển hạ tầng công nghệ thông tin,
xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin, cổng
thông tin điện tử khoa học và công nghệ,
đây được xem là những nội dung cơ bản trong
ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ.
Tuy vậy vấn đề đặt ra đó là sự đồng bộ về cơ
cấu tổ chức và các nguồn lực của các tổ chức
thông tin khoa học và công nghệ nhằm phục vụ
cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ này,
bởi lẽ, không phải tổ chức thông tin khoa học
và công nghệ nào cũng có thể triển khai thực
hiện được đầy đủ và bài bản các dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ theo quy định của
pháp luật.
Ngoài ra Nghị định 11 đã có các điều, khoản
chi tiết quy định về quá trình phát triển sản phẩm
thông tin khoa học và công nghệ thông qua các
hoạt động như: thu thập thông tin về nhiệm vụ
khoa học và công nghệ đang tiến hành (Điều 6),
Đăng ký và lưu gữ kết quả thực hiện nhiệm vụ
3.2.4. Thiết lập và chuẩn hóa và tạo ra tính
liên kết cho mạng lưới tổ chức thông tin khoa
học và công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
63
Để hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ được thực hiện, một trong
những yêu cầu quan trọng đó là phải có một
mạng lưới tổ chức thông tin khoa học và công
nghệ đa dạng, nhiều thành phần, có tính chuẩn
hóa và liên kết cao. Để cụ thể hóa biện pháp này,
Điều 22 của Nghị định 11 đã quy định cụ thể các
tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học
và công nghệ bao gồm: tổ chức thực hiện chức
năng đầu mối thông tin khoa học và công nghệ
quốc gia; tổ chức thực hiện chức năng đầu mối
thông tin khoa học và công nghệ cấp bộ; tổ chức
thực hiện chức năng đầu mối thông tin khoa học
và công nghệ cấp tỉnh; các tổ chức thông tin khoa
học và công nghệ công lập khác; các tổ chức thực
hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ
do các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và
các tổ chức khác thành lập. Với quy định này,
Nhà nước đã thiết lập mạng lưới tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ với đầy đủ các thành
phần khác nhau, có sự phân cấp quốc gia, cấp bộ,
cấp tỉnh, và các tổ chức thông tin khoa học và
công nghệ gắn với hoạt động nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ. Đồng thời quy định
quyền và nghĩa vụ của các tổ chức thực hiện chức
năng thông tin khoa học và công nghệ trên tinh
thần xác định chức năng, nhiệm vụ, vị trí của
từng loại hình trong mạng lưới tổ chức thông tin
khoa học và công nghệ quốc gia, những nội dung
này được quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26, 27
và 28 của Nghị định 11.
Tuy vậy, các nội dung quy định tại Nghị định
mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các loại hình
nhưng chưa có những quy định tạo ra sự liên kết,
kết nối giữa các tổ chức thông tin khoa học và
công nghệ đặc biệt là trong khâu liên kết, chia sẻ
các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ thông qua hoạt động ứng dụng công
nghệ thông tin; từ đó chưa tạo ra sự thống nhất,
chuẩn hóa trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ giữa các tổ
chức. Mặt khác, Nghị định 11 và các văn bản có
liên quan chưa xác định cụ thể mô hình hoạt
động cụ thể của các tổ chức thông tin khoa học
và công nghệ, dẫn đến sự chưa thống nhất trong
các tổ chức. Thực tế hiện nay cho thấy, trong số
các tổ chức đầu mối thông tin khoa học và công
nghệ, có nơi hoạt động theo mô hình đơn vị sự
nghiệp công lập (đó là các trung tâm thông tin-
thống kê khoa học và công nghệ) nhưng có nơi
lại là một bộ phận hoặc một phòng ban trực thuộc
Sở Khoa học và công nghệ hoặc một bộ phận của
một cấp vụ, cục trực thuộc Bộ 1 [7] từ sự không
thống nhất này sẽ dẫn đến việc khó khăn trong
tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt
là trong khâu huy động các nguồn lực và triển
khai các hoạt động phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ trên nền tảng
ứng dụng công nghệ thông tin.
3.2.5. Bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ
Như vậy, có thể thấy, chính sách ứng dụng
công nghệ thông tin hiện hành đã thiết lập một
mạng lưới tổ chức thông tin khoa học và công
nghệ khá đa dạng, với nhiều loại hình khác nhau,
tương ứng với từng cấp quản lý và gắn với hoạt
động nghiên cứu và triển khai trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước, các viện nghiên cứu, các
trường đại học và các tổ chức kinh tế. Việc thiết
lập này, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra
nền tảng trong việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong các tổ chức thông tin khoa học và công
nghệ.
Đây là một trong những biện pháp quan trọng
nhằm bảo đảm cho hoạt động ứng dụng công
nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ được vận
hành; các nguồn lực bảo đảm được chính sách đề
cập bao gồm: bảo đảm về cơ sở hạ tầng công
nghệ thông tin, bảo đảm về nguồn nhân lực và
bảo đảm về tài chính.
a) Bảo đảm về hạ tầng công nghệ thông tin
Điều 13, 14 và 15 Nghị định 11 đã đề cập nội
dung về bảo đảm hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu
________
truy cập ngày 29/10/2020.
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
64
quốc gia về khoa học và công nghệ. Theo đó,
học và công nghệ và các nguồn tài trợ của tổ
chức, cá nhân. Đặc biệt, một điểm nổi bật trong
chính sách tài chính và được xem là biện pháp
bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động thông tin
khoa học và công nghệ đó là theo tinh thần của
khoản 2 Điều 20 Nghị định 11, ngân sách cho
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ được
ghi thành một mục chi riêng trong mục lục ngân
sách nhà nước hàng năm cho hoạt động khoa học
và công nghệ của bộ ngành và địa phương. Việc
phân bổ ngân sách khoa học và công nghệ chi
cho hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
căn cứ vào khả năng ngân sách, nhu cầu thực tiễn
và tăng dần theo nhu cầu phát triển của hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ. Với quy định
này, vấn đề kinh phí chi cho hoạt động thông tin
khoa học và công nghệ nói chung và đối với hoạt
động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ nói riêng được bảo đảm.
Ngoài ra, Điều 4 của Nghị định 95/2014/NĐ-CP
ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ quy
định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt
động khoa học và công nghệ đã xác định các hoạt
động tuyên truyền, phổ biến tri thức truyền
thông, hoạt động thông tin và thống kê khoa học
và công nghệ, các cuộc khảo sát tìm kiếm thông
tin khoa học và công nghệ được hưởng đầu tư từ
ngân sách nhà nước.
Nghị định xác định hạ tầng thông tin khoa học
và công nghệ quốc gia bao gồm: cơ sở dữ liệu
quốc gia về khoa học và coogn nghệ; các cơ sở
dữ liệu về thông tin, thống kê khoa học và công
nghệ; các trung tâm dữ liệu, trang thông tin, cổng
thông tin điện tử; các nguồn tin khoa học và công
nghệ trong nước và quốc tế dưới dạng điện tử.
Ngoài ra, hạ tầng thông tin còn được xác định
bao gồm: hệ thống trang thiết bị kỹ thuật để xử
lý, truyền tải và lưu giữ thông tin khoa học và
công nghệ; các mạng thông tin khoa học và công
nghệ kết nối khu vực và quốc tế, bao gồm: mạng
thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc gia và các
mạng thông tin khoa học và công nghệ về địa
phương. Các cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học
và công nghệ như: thông tin về các tổ chức khoa
học và công nghệ, thông tin về cán bộ nghiên cứu
khoa học và công nghệ, thông tin về các nhiệm
vụ khoa học và công nghệ (đang tiến hành, kết
quả ứng dụng), thông tin về tài liệu sở hữu trí tuệ,
các công bố khoa học và công nghệ và chỉ số các
tạp chí, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học trong
nước và quốc tế; thông tin về công nghệ, công
nghệ cao, chuyển giao công nghệ; thông tin về
thống kê khoa học và công nghệ trong khu vực
và trên thế giới.
Liên quan đến quy định về cơ sở hạ tầng công
nghệ thông tin, các nội dung có liên quan đến
việc khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia
về khoa học và công nghệ, vấn đề duy trì và phát
triển mạng thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc
gia cũng được chính sách đề cập, từ đó tạo hành
lang pháp lý quan trọng trong viêc củng cố và
bảo đảm ha tầng công nghệ thông tin phục vụ
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ.
Như vậy có thể thấy, hệ thống chính sách tài
chính cho hoạt động thông tin khoa học và công
nghệ nói chung và hoạt động phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ nói
riêng là tương đối hoàn thiện. Tuy vậy do mô
hình hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
khác có sự khác nhau; có nơi là một bộ phận của
một tổ chức, có nơi lại tồn tại độc lập, chính vì
vậy việc vận dụng quy định về tài chính tại mỗi
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ sẽ có sự
khác nhau.
b) Bảo đảm về nguồn lực tài chính
Tài chính cho hoạt đông thông tin khoa học
và công nghệ nói chung và trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
nói riêng được quy định cụ thể tại Điều 20 và 21
Nghị định 11. Theo đó ngân sách nhà nước cho
hoạt động thông tin khoa học và công nghệ được
xác định từ 03 nguồn cơ bản đó là: ngân sách nhà
nước (ngân sách trung ương và địa phương);
nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thông tin khoa
c) Bảo đảm về nguồn nhân lực
Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ được triển khai thực hiện,
nguồn nhân lực luôn giữ vai trò then chốt và là
nhân tố quyết định. Nguồn nhân lực phục vụ ứng
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
65
có mang yếu tố đặc thù khi nhóm đối tượng này
không chỉ đòi hỏi trình độ về chuyên môn trong
phát triển sản phẩm và dịch vụ, mà còn cần đến
khả năng, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin.
Trên thực tế hiện nay, chính sách về nhân lực cho
nhóm đối tượng này chưa được quy định tại một
văn bản cụ thể mà có sự tản mạn ở nhiều văn bản
khác nhau trong đó phải kể đến: Thông tư số
24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01 tháng 10
năm 2014 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và
Bộ Nội vụ, quy định mã số và tiêu chuẩn chức
danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa
học và công nghệ, trong đó có quy định về mã số
và phân hạng chức danh nghề nghiệp viên chức
chuyên ngành khoa học và công nghệ trong đó,
chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm:
nhóm chức danh nghiên cứu khoa học và nhóm
chức danh công nghệ. Ngoài ra, còn có Thông tư
liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV
ngày 19 tháng 05 năm 2015 giữa Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ, quy định mã
số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên
chức chuyên ngành thư viện với 4 hạng chức
danh, tương ứng với đó là tiêu chuẩn của từng
hạng. 02 văn bản này về cơ bản định hướng trong
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ.
Tuy vậy thực tiễn cho thấy, do đây là đối
tượng đặc thù, vì vậy cần thiết có những chính
sách chuyên biện với tiêu chuẩn và chức danh
nghề nghiệp riêng, thực tế hiện nay, chưa có
chính sách cụ thể quy định về vấn đề này.
3.3. Tác động của chính sách đến quá trình phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ và việc khai thác và sử dụng sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ phục
vụ người sử dụng
3.3.1. Nghiên cứu về quá trình phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Để nhận diện và đánh giá hiệu quả mà chính
sách mang lại, trong phạm vi của một bài báo,
nhóm tác giả thực hiện việc nghiên cứu khảo sát
quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ và việc khai thác sử
dung sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ tại một số tổ chức thông tin khoa học
và công nghệ làm cơ sở để đánh giá chính sách.
Nhóm tác giả đã lựa chọn 65 tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ theo phương pháp
chọn mẫu có chủ đích, với cơ cấu mẫu khảo sát
theo bảng sau:
Bảng 1. Cơ cấu mẫu khảo sát về tổ chức thông tin khoa học và công nghệ
TT
Loại hình tổ chức thông tin khoa học và công nghệ
Tổng cộng
Số lượng
Tỷ lệ
100
2
65
1
1
2
3
4
5
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp quốc gia
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp Bộ, ngành
Tổ chức đầu mối TTKHCN cấp địa phương
Tổ chức TT KHCN trong các trường đại học
Tổ chức thông tin KHCN khác
8
18
12
32
12
18
47
15
(Nguồn số liệu: Số liệu điều tra của phục vụ chuyên đề của Luận án)2
Ngoài ra để thực hiện khảo sát việc khai thác
và sử dụng thông tin khoa học và công nghệ của
________
2
Chuyên đề: Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ
tiến sĩ: Hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ tại Việt Nam
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Thuộc đề tài Luận án
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
66
người sử dụng, trên cơ sở lựa chọn các tổ chức
thông tin khoa học và công nghệ để khảo sát,
nhóm tác giả đã thực hiện việc chọn mẫu ngẫu
nhiên với 500 mẫu khảo sát với cơ cấu mẫu theo
bảng sau:
Bảng 2. Cơ cấu mẫu khảo sát về đối tượng khai thác thông tin khoa học và công nghệ
Số
lượng
500
42
TT
Nghề nghiệp/hoạt động nghiên cứu
Tỷ lệ %
Tổng số
100
8.4
1
Nghiên cứu viên
2
3
4
Giảng viên, tại các trường Đại học cao đẳng
Cử nhân, Học viên cao học, nghiên cứu sinh
Học sinh, sinh viên
56
11.2
32.2
48.2
161
241
(Nguồn số liệu: Số liệu điều tra của phục vụ chuyên đề của Luận án)
nghệ tại 65 đơn vị và thu được kết quả theo các
biểu đồ sau:
Trên cơ sở số lượng mẫu khảo sát nêu trên,
nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát việc phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
* Về triển khai sản phẩm thông tin khoa học
và công nghệ
Chưa cung cấp sản phẩm thông tin khoa… 0
Các sản phẩm thông tin khoa học và công…
Hệ thống mục lục trực tuyến
52
74
Trang thông tin điện tử
82
Cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ
Tổng luận 12
45
Tổng quan
Chỉ dẫn, trích dẫn khoa học
Tóm tắt khoa học
6
45
74
90
Thư mục thông tin KH&CN
0
50
100
Biểu đồ 1. Tình hình triển khai các sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ tại các tổ chức thông tin khoa học
và công nghệ
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án)
và công nghệ trong phạm vi khảo sát chủ yếu
mới thực hiện các sản phẩm thông tin khoa học
và công nghệ có tính thư mục, đại trà, các sản
phẩm thông tin khoa học và công nghệ có hàm
lượng chất xám, có giá trị gia tăng cao như tổng
quan, tổng luận, chỉ dẫn, trích dẫn khoa học.. vẫn
chưa được chú trọng phát triển.
Phân tích biểu đồ 2.3 có thể thấy tỷ trọng các
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ thực
hiện việc cung ứng các sản phẩm thư mục về
thông tin khoa học và công nghệ như: thư mục
thông tin khoa học và công nghệ, tóm tắt khoa
học, trang thông tin điện tử, hệ thống mục lục
trực tuyến chiếm một tỷ trọng cao. Các sản phẩm
về tổng quan, tổng luận chiếm một tỷ trọng
tương đối thấp , lần lượt là 6% và 12%. Từ đây
có thể nhận diện, các tổ chức thông tin khoa học
* Về triển khai dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
67
0
Tổ chức các dịch vụ khác
Tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm KH&CN
Tra cứu, cung cấp trao đổi chia sẻ thông tin KH&CN
Cung cấp chi tiết về nhiệm vụ KH&CN
15
18
52
15
45
5
40
15
20
Cung cấp danh mục các tổ chức KH&CN và cán bộ…
85
100
100
Cung cấp thông tin
0
20
40
60
80
120
Biểu đồ 2. Tình hình triển khai các dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ trên nền tảng ứng dụng công nghệ
thông tin
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án )
tổ chức thông tin khoa học và công nghệ còn
mang tính chất thông tin thư mục (thông tin ban
đầu) hoặc thông tin về tài liệu gốc. Cho đến nay,
ngoài Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc
gia và một số tổ chức đầu mối thông tin khoa học
và công nghệ cấp Bộ đã triển khai phát triển và
cung ứng các sản phẩm thông tin có hàm lượng
chất xám cao như: tổng quan, tổng luận và các
ấn phẩm thông tin khoa học và công nghệ, thì
hầu hết các tổ chức còn lại mới chỉ dừng lại
ở mức độ các sản phẩm thông tin thư mục thông
thường.
Phân tích biểu đồ 2.4 có thể nhận diện, hoạt
động cung cấp thông tin, tài liệu là một trong
những dịch vụ chủ đạo được 100% các tổ chức
thông itn khoa học và công nghệ triển khai thực
hiện, ngoài ra một số dịch vụ khác cũng được
triển khai chiếm tỷ trọng cao như: cung cấp
thông tin thư mục (85%); tổ chức hội nghị, hội
thảo, triển lãm về khoa học và công nghệ (52%).
Tuy vậy, một số dịch vụ do đặc thù của từng tổ
chức vì vậy tỷ trọng còn thấp như: cung cấp
mạng viễn thông 5%), tư vấn về xây dựng cơ sở
dữ liệu về khoa học và công nghệ (15%), cung
cấp thông tin thống kê về khoa học và công nghệ
(15%),...
3.3.2. Nghiên cứu khai thác và sử dụng sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
của tổ chức, cá nhân
Như vậy, nhìn chung dưới tác động của chính
sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ việc thiết lập quy trình cũng như áp
dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động phân
tích, xử lý thông tin từ đó xây dựng các sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ đã
được triển khai thực hiện với một số sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ chủ
yếu như: cung cấp thông tin tài liệu, thư mục
khoa học và công nghệ phục vụ cho nhu cầu của
các đối tượng người sử dụng. Tuy vậy, các sản
phẩm thông tin khoa học và công nghệ được triển
khai phục vụ đến người sử dụng tại hầu hết các
Qua khảo sát 500 nhà nghiên cứu về mức độ
sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công
nghệ phục vụ nghiên cứu khoa học, kết quả được
thể hiện qua biểu đồ 3.
Phân tích bảng số liệu có thể thấy, các đối
tượng tiếp cận thông tin tập trung chủ yếu sử
dụng các sản phẩm của tổ chức thông tin khoa
học và công nghệ như: trang thông tin điện tử, cơ
sở dữ liệu khoa học, hệ thống mục lục, các sản
phẩm về tổng quan, tổng luận gần như rất ít sử
dụng (chỉ chiếm 1-6%). Tỷ lệ người sử dụng sử
dụng sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ
nào chiếm tỷ trọng cao (27%).
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
68
Chưa sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công…
Các sản phẩm thông tin thư viện khác
Hệ thống mục lục trực tuyến
Trang thông tin điện tử
Cơ sở dữ liệu về thông tin và thống kê khoa học và…
Tổng luận
27
8
55
76
80
35
6
Tổng quan
Chỉ dẫn, trích dẫn khoa học
Tóm tắt khoa học
Thư mục thông tin khoa học và công nghệ
1
28
28
50
0
10
Tỷ lệ %
20
30
40
50
60
70
Biểu đồ 3. Mức độ sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu
(Nguồn số liệu: số liệu điều tra phục vụ Luận án)
Qua khảo sát 500 nhà nghiên cứu về mức độ
sử dụng sản phẩm thông tin khoa học và công
nghệ phục vụ nghiên cứu khoa học, kết quả được
thể hiện qua biểu đồ sau:
b) Về mức độ sử dụng dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ
Chưa từng sử dụng một dịch vụ nào
2
2
Hỗ trợ tổ chức các hội thảo phục vụ nghiên cứu khoa học
Sử dụng các dịch vụ thông tin khác
Các dịch vụ cung cấp thông tin đa phương tiện khác
Phổ biến thông tin có chọn lọc
11
19
16
Trao đổi thông tin
Hỗ trợ tra tìm tài liệu
Đào tạo kiến thức để tra tìm thông tin phục vụ nghiên cứu
Tư vấn dịch vụ thông tin hỏi đáp
33
26
13
16
41
70
43
Cung cấp thông tin theo yêu cầu
Mượn tài liệu về nhà
Khai thác thông tin tại tổ chức TTKHCN
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Tỷ lệ %
Biểu đồ 4. Mức độ sử dụng dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
(Nguồn: Số liệu điều tra phục vụ Luận án)
có tính chất giản đơn, cơ bản. Những dịch vụ
chất lượng cao, phục vụ trực tiếp cho hoạt động
nghiên cứu, người sử dụng lại ít được tiếp cận và
sử dụng, các dịch vụ về phổ biến thông tin có
chọn lọc, hỗ trợ hội thảo nghiên cứu, trao đổi
thông tin, đào tạo kiến thức thông tin có mức độ
sử dụng thấp.
Qua biểu đồ có thể thấy, nhà nghiên cứu sử
dụng dịch vụ mượn tài liệu về nhà chiếm tỷ trọng
cao (70%), ngoài ra một số các dịch vụ cũng
chiếm tỷ trọng cao khác như: dịch vụ khai thác
thông tin tại tổ chức thông tin khoa học và công
nghệ (41%), cung cấp thông tin theo yêu cầu
(43%). Những dịch vụ này đều là những dịch vụ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
69
4. Đánh giá nội dung chính sách
học và công nghệ; hiện nay, các quy định về hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ mới chỉ
dừng lại ở việc xác lập mạng lưới tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ mà chưa qy định tính
liên kết, mối quan hệ giữa các tổ chức, tạo thuận
lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin một
cách thống nhất; dẫn đến hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ tại mỗi
tổ chức có một mức độ khác nhau và không
mang tính chuẩn hóa trong toàn mạng lưới.
4.1. Những điểm mạnh của chính sách
Về cơ bản, các biện pháp được đề cập trong
chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ là tương đối đầy đủ và hoàn
thiện, được hình thành với 02 hệ thống văn bản
nền tảng đó là công nghệ thông tin và hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ. Hai hệ thống
văn bản này bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo ra
những hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt
động ứng dụng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ.
Mặt khác, do chưa có quy định về mô hình
hoạt động của các tổ chức thông tin khoa học và
công nghệ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong mô
hình hình hoạt động; từ sự thiếu thống nhất này
dẫn đến thiếu thống nhất trong quá trình vận
hành phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ của mỗi tổ chức, thiếu
thống nhất trong việc bảo đảm các nguồn lực đầu
tư cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ, điều này sẽ tác động rất
lớn đến tính hệ thống trong hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin của các tổ chức thông tin
khoa học và công nghệ.
Một điểm mạnh khác đó là về cơ bản chính
sách đã quy định rõ những nguồn lực cơ bản tạo
động lực cho hoạt động ứng dụng công nghệ
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ, trong đó, có 02
yếu tố cơ bản nhất được xem là nền tảng đó là:
hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ
thống mạng thông tin, trang thiết bị, cơ sở dữ liệu
và các nguồn lực đầu tư tài chính bảo đảm cho
hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Hai
chính sách quan trọng này đều được thể chế hóa
ở Nghị định.
Một điểm hạn chế khác của chính sách đó là
vấn đề về bảo đảm nguồn nhân lực cho hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ, cho đến nay chính sách của nhà nước vẫn
chưa có những quy định cụ thể có tính đặc thù về
tiêu chuẩn chức danh, nghề nghiệp viên chức
chuyên ngành thông tin khoa học và công nghệ,
với các nội dung quy định về năng lực, trình độ
của người làm công tác phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, điều
này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong
việc tuyển dụng, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho nguồn nhân lực thông tin khoa học và công
nghệ nói chung và đối với nguồn nhân lực thực
hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ nói riêng.
Ngoài ra, một điểm rất quan trọng cũng cần
được nhắc đến đó là chính sách này là đã thiết
lập quy trình xây dựng sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ, với các công
đoạn khác nhau đồng thời xác định các sản phẩm
và dịch vụ đầu ra của hoạt động thông tin khoa
học và công nghệ. Từ đó tạo hành lang pháp lý
quan trọng cho các tổ chức thông tin khoa học và
công nghệ có thể thiết lập quy trình và xác định
những sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ chủ lực nhằm cung cấp cho người
sử dụng.
4.2. Những điểm hạn chế của chính sách
Điểm hạn chế lớn nhất của chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
đó là tính chuẩn hóa và hệ thống và tính liên kết
trong thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin khoa
Cuối cùng, chính sách này chưa thiết lập một
hệ thống đánh giá chất lượng đầu ra sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ dựa trên
nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Từ vấn
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
70
đề này dẫn đến sự khó khăn trong thống nhất về
chức thông tin khoa học và công nghệ đồng bộ,
chuẩn hóa, có tính kết nối cao, có sự thống nhất
về quy trình, sử dụng các chuẩn nghiệp vụ và có
sự thống nhất trong hệ thống đánh giá chất lượng
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ.
chất lượng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học và công nghệ nhằm cung ứng cho
người sử dụng. Thực tế cho thấy, để có thể chuẩn
hóa sản phẩm đầu ra, thì các nguyên liệu đầu vào
cho hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ cũng cần được
chuẩn hóa. Tuy vậy, cho đến nay, vấn đề chuẩn
hóa hoạt động nghiệp vụ, việc sử dụng các chuẩn
trong phân tích và xử lý thông tin vẫn chưa có
quy định cụ thể, điều này dẫn đến khó khăn khi
xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đầu ra
của sản phẩm và dịch vụ.
Bốn là, Nhà nước giữ vai trò chính trong đầu
tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ, các tổ chức tư nhân giữ vai trò là
động lực trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ, phát triển các
doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ có hàm lượng
chất xám cao, mang lại giá trị và giá thành thông
tin.
5. Đề xuất một số định hướng cơ bản trong
hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ và khuyến
nghị
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ cần hướng đến các nội
dung cơ bản như sau:
Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ cần được xây dựng dựa
trên những nền tảng cơ bản đó là:
- Kiện toàn, củng cố mạng lưới tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ, bảo đảm cho việc kết
nối và liên thông trong xây dựng và chia sẻ sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
trong đó chú trọng các giải pháp hoàn thiện hệ
thống tổ chức thông tin khoa học và công nghệ
quốc gia theo hướng chuẩn hóa mô hình hoạt
động, thiết lập cơ chế tự chủ, kiện toàn cơ quan
điều khiển hệ thống tổ chức thông tin khoa học
và công nghệ.
Một là, chính sách này cần gắn kết việc ứng
dụng công nghệ thông tin với hoạt động phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ, trong đó: đổi mới phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là
mục tiêu hướng đến còn công nghệ thông tin là
phương tiện, động lực cho quá trình đổi mới này.
Chính sách cần được xây dựng dựa trên nền tảng
của các thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, với kết nối vạn vật, đặc biệt là
dữ liệu lớn.
- Chuẩn hóa hoạt động thông tin khoa học và
công nghệ trong đó chú trọng đến chuẩn hóa về
quy trình xây dựng và quy trình cung ứng sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
trên cơ sở phân định các loại hình sản phẩm và
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ để có
chiến lược phát triển các sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ chủ chốt, hướng
đến phục vụ các đối tượng người sử dụng chuyên
biệt với hàm lượng chất xám cao, phục vụ cho
hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công
nghệ.
Hai là, việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển dịch vụ thông tin khoa học và
công nghệ phải hướng đến mục tiêu bảo đảm
quyền tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ
của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp, tạo động
lực trong việc kết nối tri thức khoa học và công
nghệ của Việt Nam và thế giới, tạo ra sự gắn kết
và là cầu nối của khu vực nghiên cứu với khu
vực sản xuất.
- Củng cố phát triển cơ sở hạ tầng thông tin
khoa học và công nghệ quốc gia, hệ thống hóa,
tích hợp đày đủ và vận hành đồng bộ các nguồn
tri thức khoa học và công nghệ, xây dựng, phát
Ba là, việc ứng dụng công nghệ thông tin phải
được triển khai trên nền tảng một mạng lưới tổ
T.M. Tam, T.V. Hong / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 55-71
71
triển cơ sở dữ liệu và số hóa trên cơ sở ứng dụng
dữ liệu lớn và internet vạn vật. Phát triển các mạng
nghiên cứu và đào tạo, thúc đẩy quá trình truy cập
mở đối với nguồn tin khoa học và công nghệ.
thống đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ; văn bản quy định về
đánh giá, xếp hạng hoạt động của tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ dựa trên chất lượng
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ.
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ
nhân lực công nghệ thông tin trong hoạt động
phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa
học và công nghệ trên cơ sở thiết lập cơ chế đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ
thông tin, phân tích xử lý thông tin khoa học và
công nghệ.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạch
định chính sách, phát huy vai trò của Cục Thông
tin khoa học và công nghệ quốc gia như một cơ
quan điều khiển của toàn hệ thống tổ chức thông
tin khoa học và công nghệ cũng như việc tham
mưu cho Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ
trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật, đề án, nhằm cụ thể hóa nội dung chính sách
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ./.
- Phát triển thị trường thông tin khoa học và
công nghệ trên cơ sở xây dựng sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ có hàm
lượng chất xám cao và có giá trị, mang lại giá
thành của thông tin, tạo động lực trong việc cạnh
tranh từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ.
Tài liệu tham khảo
[1] H. Phe, Vietnamese Dictionary, Da Nang
Publishing House, 2014, p. 256 (in Vietnamese).
[2] T.T. Quy, N.T. Dao, Information Processing in
Library Information Acitivites (Monograph),
Hanoi, 2011 (in Vietnamese).
Khuyến nghị
Xuất phát từ một số định hướng cơ bản trong
hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông
tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ, tác giả xin đưa ra một số
khuyến nghị như sau:
[3] National Information Policy, UNESCO Guidelines
on the Development, Approval, Implementation
and Operation of National Information Policy,
Translated Document, National Center for Science
and Technology Information, Hanoi, 1999, p. 5 (in
Vietnamese).
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật quy định về khung pháp lý cho hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công
nghệ, trong đó, chú trọng đến 02 hệ thống văn
bản: đó là hệ thống văn bản về ứng dụng công
nghệ thông tin (Luật công nghệ thông tin và các
văn bản hướng dẫn thi hành), các văn bản về hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ (với Nghị
định 11/2014/NĐ-CP và các văn bản có liên quan).
[4] V.C. Dam, Collection of Published Works, Volume
II (Policy and Strategy Studies), The Gioi
Publisher, 2009, p. 438 (in Vietnamese).
[5] A. Rozengardt, Alenjandra Davidziuk, Daniel
Finquelievich, National Information Society
Policy: A Template, UNESCO Information for All
programme, Paris, 2009.
[6] Mercedes Caridad Sebastian, Eva Maria Mendez
Rodriguez and David Rodriguez Mateos, Information
Policies in Spain: Towards the New Information
Society, Libri, 2001, Vol. 51, pp 49-60.
[7] Department of Science and Technology
Information, List of Information Science and
Tiếp tục xây dựng và ban hành các văn bản
nhằm cụ thể hóa các quy định trong khung pháp
lý về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ bao gồm: văn bản quy
định về chuẩn hóa hoạt động phân tích, xử lý, tạo
lập sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ,
quy trình, chất lượng cung ứng dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ; văn bản quy định về hệ
Technology
Organizations,
Vietnamese (Accessed on: December 15th, 2020).
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_phat_trien_san.pdf

