Đổi mới mô hình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong khu vực công đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ hiện nay
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHU
VỰC CÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH CÔNG VỤ HIỆN NAY
TS. Trần Quốc Hải
Trưởng khoa Quản lý nhà nước - Trường Đại học Thành Đông
TÓM TẮT
Điều tối quan trọng để giải quyết nhu cầu cải cách chế độ công vụ là nâng cao
chất lượng của mô hình đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của
nguồn nhân lực làm việc trong khu vực công. Bài báo gợi ý giải pháp cải tiến mô hình
đào tạo, đó là chuyển đào tạo theo tiêu chuẩn ngạch sang đào tạo theo nhu cầu công
việc gắn với từng vị trí công việc và chức danh quản lý, lãnh đạo. Áp dụng mô hình
đào tạo theo năng lực, chú trọng vào việc cung cấp kỹ năng làm việc trong khu vực
công. Thay vì suy nghĩ cho rằng đào tạo là chi phí, chúng ta cần có quan điểm đào tạo
chính là sự đầu tư cho phát triển.
Từ khóa: Cải cách chế độ công vụ; nguồn nhân lực khu vực công;
ABSTRACT
The most important thing to address the need for civil service reform is to
improve the quality of the human resource training model and enhance the
performance of human resources working in the public sector. The article suggests a
solution to improve the training model, which is to change training based on quota
standards to training based on job needs associated with each job position and
management and leadership titles; Apply a competency-based training model, focus on
providing skills to work in the public sector. Instead of thinking that training is a cost,
we need to have a view that training is an investment for development.
Keywords: Reform of the civil service regime; human resources in the public sector;
Khi nói tới công vụ, không thể
không nói tới đội ngũ nhân lực thực thi
nhiệm vụ - công vụ. Chính chất lượng
hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ,
quả của nền công vụ. Làm thế nào để
xây dựng, phát triển và quản lý đội ngũ
nhân công chức quyết định chất lượng,
hiệu lực thực hiện công vụ hay quản lý
công vụ cho có hiệu quả luôn là vấn đề
được quan tâm của mọi quốc gia [1].
Hiện nay cải cách công vụ đang đi
vào chiều sâu, yêu cầu nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức và
Đặt vấn đề
Công vụ là một loại lao động xã hội,
là công việc nhà nước (hoạt động nhà
nước) mang tính tổ chức, quyền lực –
pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán
bộ, công chức hoặc những người khác
khi được nhà nước trao quyền nhằm
bảo đảm thực hiện các chức năng của
nhà nước trong quá trình quản lý các
mặt hoạt động của đời sống xã hội và
mang tính phục vụ xã hội, phục vụ
công dân.
1
viên chức hoạt động trong khu vực
công càng trở nên cấp thiết. Để nâng
cao chất lượng hoạt động công vụ, vai
trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng
càng trở nên quan trọng. Đào tạo, bồi
dưỡng phục vụ cho việc: tuyển dụng,
bố trí, thực hiện nhiệm vụ, nâng ngạch,
bổ nhiệm, luân chuyển, lương thưởng,
chế độ đãi ngộ, hưu trí, tự tin trong
công việc, năng suất lao động, phát
triển nghề nghiệp, tăng cường năng lực
làm việc, khả năng sáng tạo của cán bộ,
công chức và viên chức. Với tổ chức,
đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu
nhân lực, tạo môi trường cạnh tranh,
nâng cao hiệu quả tổ chức, phát triển cơ
quan, tổ chức.
các nguồn lực đã đầu tư. Có thể điểm
qua một số các hạn chế, khiếm khuyết
sau đây:
Nội dung các chương trình còn
chung chung và chủ yếu theo yêu cầu
tiêu chuẩn ngạch, ít gắn với công việc
cụ thể tại nơi làm việc của cán bộ, công
chức và viên chức. Chưa có khả năng
đáp ứng với các yêu cầu thực thi nhiệm
vụ đặt ra.
Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
nặng lý thuyết hàn lâm, cung cấp thông
tin một chiều, thiếu việc cung cấp các
kỹ năng thực thi nhiệm vụ.
Nhu cầu người học nhiều khi chỉ vì
bằng cấp, chứng chỉ để đáp ứng yêu cầu
ngạch công chức và chức danh lãnh
đạo, quản lý.
Vì những lý do nêu trên, việc đổi
mới mô hình đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực làm việc trong khu vực công
là để nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi
dưỡng, qua đó đóng góp vào việc nâng
cao hiệu quả hoạt động công vụ đáp
ứng yêu cầu cải cách công vụ hiện nay
và những năm sắp tới ở nước ta.
Chính sách với đào tạo, bồi dưỡng
chưa khuyến khích người học và
người dạy.
Việc tổ chức thực hiện vẫn mang
nặng dấu ấn thời kỳ bao cấp, dàn trải
theo tổ chức hành chính gây lãng phí
các nguồn lực mà không có trọng tâm,
trọng điểm. Đặc biệt không tạo ra cơ
chế cạnh tranh để nâng cao chất
lượng…
1. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực trong khu vực công
hiện nay
Trong những năm qua công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và
viên chức ở nước ta được sự quan tâm
to lớn của các cơ quan, tổ chức nhà
nước. Các chương trình đào tạo, bồi
dưỡng được thiết kế và tổ chức rộng
khắp trong cả nước, trên tất cả các lĩnh
vực, các ngành khác nhau với nội dung
và hình thức phong phú, đa dạng.
2. Đổi mới mô hình đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực trong khu
vực công
Ở các nước phát triển người ta đều áp
dụng các thành công của khu vực tư nhân
trong đào tạo nguồn nhân lực vào khu
vực nhà nước. Xu hướng hiện nay là:
- Chuyển từ đào tạo sang học tập liên
tục trong nền công vụ;
Nguồn tài chính công dành cho công
tác này hoàn toàn không phải nhỏ. Song
hiệu quả thu được chưa tương xứng với
- Trọng tâm là nâng cao năng lực (kỹ
năng) trong thực hiện công việc; Áp
2
dụng mô hình đào tạo dựa trên cơ sở
năng lực.
vụ - đó chính là tầm nhìn, sứ mạng của
các chương trình đào tạo công vụ mà
đào tạo cần phải đáp ứng [2].
Mô hình đào tạo dựa trên cơ sở năng
lực được thực hiện ở nhiều nước có nền
kinh tế thị trường phát triển và là xu
hướng tất yếu của việc chuẩn bị nguồn
nhân lực cho thế kỷ 21 [3].
Để đạt được mục tiêu trên, chúng ta
cần chuyển đổi mô hình đào tạo từ:
- Định hướng lý thuyết sang định
hướng thực tiễn;
- Thay vì chỉ đánh giá đào tạo, bồi
dưỡng ở trên lớp mà còn chú trọng tới
giám sát, đánh giá năng lực thực hiện
công việc sau đào tạo. Áp dụng mô
hình đánh giá đào tạo 4 cấp độ của
Donald L. Kirkpatrick và mô hình đánh
giá kết quả đào tạo của Jack J. Phillips [4].
- Vai trò của nhà nước là đưa ra các
thể chế quy định còn việc tổ chức thực
hiện họ huy động cả sự tham gia của
các hội nghề nghiệp, các tổ chức đào
tạo ngoài nhà nước và các trường đại
học có khả năng thực hiện.
- Đào tạo vì chứng chỉ, bằng cấp
sang đào tạo, bồi dưỡng để làm việc;
- Hệ thống đào tạo phân cấp theo
giao quyền sang hệ thống đào tạo
cạnh tranh;
- Truyền đạt thông tin sang cung cấp
kỹ năng làm việc;
- Giảng viên là trung tâm sang học
viên là trung tâm;
- Định hướng theo cung sang định
hướng theo nhu cầu;
- Đào tạo là chi phí sang đào tạo là
đầu tư;
Hiện nay, Việt Nam đã hội nhập sâu
vào nền kinh tế khu vực và thế giới
thông qua các cam kết WTO, AEC,
CPTPP, EVFTA, …Chúng ta đã tiến
hành cải cách hành chính gần ba mươi
năm qua và đã thu được nhiều thành
quả bước đầu đáng khich lệ.
- Giám sát đánh giá yếu sang giám
sát đánh giá mạnh (sau đào tạo).
3. Một số giải pháp cụ thể
- Chuyển đào tạo theo tiêu chuẩn
ngạch sang đào tạo theo nhu cầu công
việc gắn với từng vị trí công việc và
chức danh quản lý, lãnh đạo.
Do yêu cầu cải cách công vụ chuyển
đổi mô hình hành chính sang nền hành
chính phục vụ, dẫn tới yêu cầu thay đổi
mô hình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực làm việc trong khu vực công. Các
chương trình đào tạo công vụ cần được
xác định từ tầm nhìn của nền hành
chính, công vụ trong những năm tới
thông qua các mục tiêu chiến lược của
nền hành chính, công vụ. Để đạt được
mục tiêu đó, nguồn nhân lực làm việc
trong nền công vụ cần phải được trang
bị những năng lực gì để thực thi công
Cụ thể: Cán bộ, công chức và viên
chức phân theo ngạch chuyển sang
phân theo vị trí công việc; nội dung đào
tạo theo yêu cầu của ngạch sang theo
yêu cầu công việc; phương pháp thuyết
trình là chủ yếu sang trao đổi, rèn luyện
kỹ năng; giảng viên chủ yếu là chuyên
nghiệp sang chủ yếu là kiêm chức; lớp
học đông học viên sang lớp học ít học
viên; …)
- Áp dụng mô hình đào tạo theo năng
lực, chú trọng vào việc cung cấp kỹ
năng làm việc trong khu vực công.
3
Cần phải xây dựng bản mô tả công
việc (MTCV), chỉ ra sự thiếu hụt về
năng lực của những cá nhân đang giữ
các chức danh và các vị trí công việc
cụ thể.
bảo nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực trong khu vực
công hiện nay.
- Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nhất
là về phương pháp đào tạo.
Trên cơ sở các thiếu hụt năng lực đó
mà thiết kế, xây dựng các chương trình
đào tạo đáp ứng yêu cầu công việc.
Chương trình đào tạo cần phải dựa
trên thực tế công việc của học viên và
do vậy quá trình đào tạo phải bắt đầu
bằng các bản mô tả công việc MTCV
của học viên. Bản MTCV này giúp
người thiết kế quyết định lựa chọn các
kiến thức, kỹ năng và thái độ (hành vi)
KSA cần thiết để thực hiện công việc.
Sau đó người thiết kế xây dựng chương
trình có thể đánh giá mức độ KSA các
học viên cần phải có để thực hiện công
việc của họ, trên cơ sở đó xây dựng các
chuẩn năng lực cho một công việc nhất
định. Kết quả của công tác đánh giá này
sẽ tìm ra khoảng thiếu hụt năng lực của
học viên trên cơ sở so sánh với mức độ
năng lực mà học viên đã có. Chỉ khi đã
tìm ra khoảng thiếu hụt năng lực của
học viên mới thiết kế xây dựng được
chương trình đào tạo phù hợp đáp ứng
nhu cầu người học. Như vậy bất cứ
chương trình đào tạo nào không tuân
theo các bước chuẩn bị này chắc chắn
sẽ không mang lại kết quả như mong
muốn bởi vì chương trình đó chỉ được
thiết kế dựa trên sự võ đoán nhu cầu
của người học mà thôi.
- Tăng cường cơ sở vật chất cho các
cơ sở đào tạo.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong
đào tạo, bồi dưỡng.
4. Kết luận
Thay vì suy nghĩ cho rằng đào tạo là
chi phí, chúng ta cần có quan điểm đào
tạo chính là sự đầu tư cho phát triển.
Việc đầu tư này cần được thực hiện có
mục đích, mục tiêu rõ ràng sao cho có
hiệu quả thiết thực. Motorola tính rằng
1 đô-la cho đào tạo sẽ thu lại 30 đô-la
cho việc tăng năng suất lao động trong
3 năm tới.
Ngày nay trong xã hội học tập, đào
tạo trong các tổ chức diễn ra thường
xuyên để đáp ứng sự thay đổi đang diễn
ra hàng ngày với tốc độ nhanh chưa
từng thấy.
Bằng việc đổi mới mô hình đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực trong khu
vực công ở nước ta cho phù hợp với
yêu cầu công việc, nâng cao năng lực
thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ,
công chức và viên chức sẽ đáp ứng với
yêu cầu cải cách công vụ hiện nay ở
nước ta.
- Hoàn thiện hệ thống thể chế quản
lý đào tạo, mở rộng sự tham gia của hệ
thông cơ sở đào tạo để tạo sự cạnh
tranh là yếu tố vô cùng quan trọng, đảm
4
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
[1]. Trần Quốc Hải (2011), “Cơ sở hạ tầng cho cải cách công vụ”, Nội san Hành chính
học, Khoa hành chính học, HVHCQG, (tr. 19-23) Hà Nội, Tháng 6 năm 2011.
[2]. Trần Quốc Hải (2016), “Đào tạo dựa trên cơ sở năng lực ở Việt Nam”. Hội thảo
quốc tế chia sẻ kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng quốc tế cho cán bộ, công chức, viên
chức, Hạ Long, Quảng Ninh 13/6/2016.
[3] Bob Robert Boase, Managing the Civil Service, An International Perspective, ADB
- MOHA project, Technical Adviser, Hanoi 2003-2005.
[4] Robert L. Craig (1996), The ASTD Training and Development Handbook,
McGraw-Hill 1996.
5
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới mô hình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong khu vực công đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doi_moi_mo_hinh_dao_tao_boi_duong_nguon_nhan_luc_trong_khu_v.pdf

