Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đối với việc chuyển quyền sử dụng đất tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Kinh tế & Chính sách  
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆC  
CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU  
Phạm Quý Giang1, Phan Thị Thanh Huyền2, Phạm Thanh Quế3,  
Trần Đình Thành4, Nguyễn Văn Thường5  
1Trường Đại học Hạ Long  
2Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
3Trường Đại học Lâm nghiệp  
4Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu  
5UBND tỉnh Bắc Ninh  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đối với việc chuyển quyền  
sử dụng đất (SDĐ) tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều  
tra, phỏng vấn ngẫu nhiên 92 người SDĐ và 30 cán bộ, viên chức. Trong giai đoạn 2014 - 2018, tổng số trường  
hợp chuyển quyền SDĐ trên địa bàn huyện Phong Thổ là 1.067, trong đó hình thức tặng cho quyền SDĐ được  
thực hiện nhiều nhất với 405 trường hợp (chiếm 37,96%); tiếp đến là quyền chuyển nhượng với 376 trường hợp  
(35,25%); cuối cùng là quyền thừa kế với 286 trường hợp (chiếm 26,80%). Các thủ tục chuyển quyền SDĐ được  
thực hiện theo quy định của pháp luật, đảm bảo tính công khai, minh bạch được người dân đánh giá cao. Cụ thể:  
tính công khai (94,57% đánh giá là công khai); tính thuận tiện (80,43% đánh giá thuận tiện); văn bản (trên 70%  
đánh giá bình thường và dễ hiểu); hồ sơ (trên 70% đánh giá bình thường và đơn giản); thái độ phục vụ (47,5%  
đánh giá mức thân thiện, nhiệt tình; 41,67% đánh giá mức bình thường); năng lực của cán bộ (75,83% đánh giá  
mức tốt); thời gian thực hiện (trên 60% đánh giá đúng quy định và nhanh); thuế, phí (trên 80% đánh giá phù  
hợp). Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn tồn tại một số hạn chế đo đó cần có một số giải pháp khắc phục như sau:  
xây dựng, cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính; tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận  
liên quan đến thủ tục hành chính (TTHC) chuyển quyền SDĐ; thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp  
luật đất đai đến người SDĐ...  
Từ khóa: Chuyển quyền sử dụng đất, giải pháp, huyện Phong Thổ, thực trạng.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
nông nghiệp, đất rừng chiếm diện tích lớn, bao  
phủ hầu như diện tích toàn huyện. Những năm  
gần đây, huyện Phong Thổ đã có những bước  
phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa - xã hội,  
dẫn đến việc chuyển quyền SDĐ ngày càng  
được quan tâm. Tuy nhiên, trong quá trình thực  
hiện, việc chuyển quyền SDĐ còn gặp phải một  
số vấn đề tồn tại, vướng mắc. Nghiên cứu này  
được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực  
trạng và đề xuất giải pháp đối với việc chuyển  
quyền sử dụng đất (SDĐ) tại huyện Phong Thổ,  
tỉnh Lai Châu.  
Đối với mỗi quốc gia, đất đai là tài nguyên  
vô giá, là tài sản cơ bản nhất. Theo tính toán của  
các chuyên gia kinh tế, một phần hai của cải ở  
các nước phát triển là đất đai và tại các nước  
đang phát triển, con số này chiếm tới gần ba  
phần tư (Đặng Đức Đạm, 2003). Điều đó cho  
thấy, đất đai không chỉ là tài nguyên thiên nhiên  
mà còn là nguồn lực dồi dào sẵn có phục vụ cho  
mục tiêu phát triển kinh tế và ổn định xã hội, là  
thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Ở Việt  
Nam, do đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về  
đất đai nên người sử dụng đất chỉ có quyền SDĐ  
mà không có quyền sở hữu về đất đai. Tuy  
nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người SDĐ,  
nhà nước cho phép họ được chuyển quyền SDĐ  
thông qua 5 hình thức chuyển đổi, chuyển  
nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn bằng  
quyền SDĐ (Quốc hội, 2013).  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu  
Phạm vi nghiên cứu: Trong giai đoạn 2014 -  
2018, trên địa bàn huyện Phong Thổ có 1.153  
trường hợp chuyển quyền SDĐ. Trong 5 hình  
thái chuyển quyền SDĐ, chuyển nhượng, thừa  
kế và tặng cho quyền SDĐ được thực hiện nhiều  
và thường xuyên, quyền góp vốn bằng quyền  
SDĐ chỉ có 86 trường hợp thực hiện vào năm  
2014 và không có trường hợp nào thực hiện  
Phong Thổ là một huyện miền núi nằm ở  
phía Bắc tỉnh Lai Châu với diện tích tự nhiên là  
102.924,85 ha, trong đó chỉ có 10% đất sản xuất  
156  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
chuyển đổi quyền SDĐ. Lựa chọn 3/4 hình thái  
chuyển quyền SDĐ được thực hiện nhiều và  
thường xuyên trên địa bàn Phong Thổ để nghiên  
cứu gồm chuyển nhượng, thừa kế và tặng cho  
quyền SDĐ.  
Đối tượng nghiên cứu: hộ gia đình, cá nhân  
thực hiện chuyển nhượng, thừa kế và tặng cho  
quyền SDĐ; công chức, viên chức liên quan đến  
TTHC thực hiện chuyển quyền SDĐ.  
phần mềm Microsofft Excel theo các nhóm chỉ  
tiêu cụ thể như sự công khai TTHC; sự thuận  
tiện khi thực hiện TTHC; văn bản hướng dẫn  
TTHC; thái độ phục vụ và năng lực chuyên môn  
của công chức, viên chức; thời gian thực hiện  
TTHC; các khoản thuế, phí và lệ phí; những tồn  
tại, hạn chế ảnh hưởng đến việc chuyển quyền  
SDĐ.  
- Phương pháp phân tích, so sánh: thực trạng  
chuyển quyền SDĐ được so sánh, phân tích,  
đánh giá theo thời gian và theo đơn vị hành  
chính cấp xã; các chỉ tiêu về TTHC khi thực  
hiện chuyển quyền SDĐ như mức thuế, phí, lệ  
phí; thời gian thực hiện thủ tục hành chính được  
đánh giá so với quy định của pháp luật đất đai  
hiện hành.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:  
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập tại Văn  
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Lai Châu và chi  
nhánh văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ)  
huyện Phong Thổ. Nguồn số liệu sơ cấp được  
thu thập thông qua việc điều tra, phỏng vấn ngẫu  
nhiên người SDĐ thực hiện đăng ký biến động  
tại Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phong Thổ. Các  
tiêu chí điều tra gồm: tính công khai, minh bạch  
về thủ tục hành chính (TTHC); sự thuận tiện  
thực hiện TTHC; quy định về văn bản và hồ sơ  
thực hiện TTHC; thái độ và năng lực của công  
chức, viên chức; thời gian thực hiện TTHC; các  
khoản thuế, phí, lệ phí. Số lượng phiếu điều tra  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khái quát về huyện Phong Thổ  
Huyện Phong Thổ có dân số là 73.210 người  
gồm 8 dân tộc chung sống, trong đó chủ yếu là  
dân tộc Dao, H’Mông và Thái. Huyện có 17 đơn  
vị hành chính (01 thị trấn và 16 xã), nằm ở vị trí  
chiến lược quan trọng trong đảm bảo an ninh  
khu vực cũng như cả nước với đường biên giới  
dài 98,95 km tiếp giáp với tỉnh Vân Nam -  
Trung Quốc. Trong giai đoạn 2014 - 2018,  
huyện Phong Thổ đạt tốc độ tăng trưởng GDP  
bình quân/năm là 6%. Sức cạnh tranh của nền  
kinh tế tuy còn khó khăn nhưng cơ cấu kinh tế  
đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp với xu  
thế của cả nước. Cơ cấu ngành nông, lâm  
nghiệp, thủy sản năm 2014 là 36,50%, giảm  
xuống còn 31,20 năm 2018; ngành công nghiệp,  
xây dựng tăng từ 31,40% năm 2014 lên 35,31%  
năm 2018; ngành dịch vụ tăng nhẹ, từ 32,10%  
năm 2014 lên 33,49% năm 2018. Bằng sự nỗ lực  
của các cấp, các ngành, tiềm năng, lợi thế của địa  
phương được tập trung khai thác, chất lượng sản  
phẩm được từng bước nâng cao gắn với chế biến  
và xuất khẩu (UBND huyện Phong Thổ, 2019a).  
Huyện Phong Thổ có 96.045,46 ha/  
102.924,85 ha diện tích tự nhiên đã được đo đạc  
bản đồ địa chính, chiếm tỷ lệ 93,32%. Thực hiện  
Nghị quyết số 71/ NQ-CP ngày 02/11/2012 của  
Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành  
chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã  
thuộc tỉnh Lai Châu, các xã, thị trấn trên địa bàn  
huyện đã phối hợp với cơ quan chức năng đã  
tiến hành hoạch định ranh giới hành chính các  
được xác định theo công thức sau:  
ꢀ
n =  
Yamane (1967)  
ꢄ
ꢁꢂꢀ (ꢃ)  
Trong đó, n là số mẫu cần điều tra; N là tổng  
dung lượng mẫu; e là sai số cho phép (e = 5 -  
15%). Trong giai đoạn 2014 - 2018, tổng số  
trường hợp chuyển quyền SDĐ thuộc phạm vi  
nghiên cứu là 1.067, với sai số e = 10% thì số  
phiếu điều tra được xác định là 92 phiếu. Ngoài  
ra, nghiên cứu còn thực hiện điều tra, phỏng vấn  
đối với 30 công chức, viên chức để tìm hiểu  
những vấn đề tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến  
việc chuyển quyền SĐĐ tại huyện Phong Thổ.  
Đối tượng lựa chọn điều tra là những cán bộ,  
viên chức liên quan trực tiếp đến TTHC thực  
hiện chuyển quyền SDĐ gồm: 18 công chức địa  
chính của tất cả 18 đơn vị hành chính cấp xã; 02  
công chức của bộ phận “một cửa” của Văn  
phòng UBND - HĐND huyện Phong Thổ; 02  
viên chức của Chi cục Thuế huyện Phong Thổ,  
04 công chức của phòng Tài nguyên và Môi  
trường huyện Phong Thổ; 04 viên chức của chi  
nhánh VPĐKĐĐ huyện Phong Thổ.  
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: các  
số liệu được thống kê, tổng hợp và xử lý bằng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
157  
Kinh tế & Chính sách  
xã, cắm mốc giới, ổn định phạm vi quản lý và  
SDĐ trên địa bàn từng xã. Hiện tại, hệ thống hồ  
sơ địa giới hành chính cơ bản được thống nhất  
rõ ràng, được lưu trữ cơ bản đầy đủ. Công tác  
lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ  
được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai  
năm 2013, là cơ sở để thực hiện tốt việc quản lý  
đất đai theo từng đối tượng sử dụng, đồng thời  
đảm bảo tính cân đối, hợp lý của quy hoạch tổng  
thể theo các mục đích SDĐ và đáp ứng yêu cầu  
chung về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội  
của huyện. Ngoài ra, trong giai đoạn này huyện  
Phong Thổ cũng đã thực hiện giao đất có thu  
tiền cho 16 trường hợp, giao đất tái định cư cho  
95 trường hợp và giao đất ở cho cán bộ là 15  
trường hợp; thực hiện thủ tục chuyển mục đích  
SDĐ cho 313 trường hợp; công tác thanh tra,  
kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật  
về đất đai, xử lý các vi phạm về đất đai được  
thực hiện thường xuyên (các sai phạm bị phát  
hiện sớm và được xử lý kịp thời); công tác quản  
lý tài chính về đất đai được thực hiện theo đúng  
quy định. Tuy nhiên, việc cập nhật, chỉnh lý  
biến động đất đai từ cấp cơ sở chưa được thực  
hiện đồng bộ nên đã gây khó khăn cho công tác  
quản lý đất đai nói chung và ảnh hưởng đến hoạt  
động chuyển quyền SDĐ nói riêng (UBND  
huyện Phong Thổ, 2019b).  
3.2. Đánh giá thực trạng chuyển quyền sử dụng  
đất huyện Phong Thổ giai đoạn 2014-2018  
3.2.1. Đánh giá kết quả chuyển quyền sử dụng  
đất huyện Phong Thổ  
Để thực hiện chuyển quyền SDĐ thì người  
SDĐ phải tuân thủ các điều kiện chung quy định  
tại Điều 188, Luật Đất đai năm 2013, gồm: (i)  
có giấy chứng nhận, đối với trường hợp chuyển  
đổi quyền SDĐ nông nghiệp thì người SDĐ  
được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao  
đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế  
quyền SDĐ thì người SDĐ được thực hiện  
quyền khi có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện  
để cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, quyền sở  
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (ii)  
đất không có tranh chấp; (iii) quyền SDĐ không  
bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) trong thời  
hạn SDĐ (Quốc hội, 2013). Số liệu bảng 01 cho  
thấy, tổng số trường hợp chuyển quyền SDĐ  
trên địa bàn huyện Phong Thổ thuộc phạm vi  
nghiên cứu là 1.067 trường hợp (Bảng 1).  
Bảng 1. Kết quả chuyển quyền sử dụng đất tại huyện Phong Thổ giai đoạn 2014-2018  
Đơn vị tính: trường hợp  
Chuyển  
nhượng  
TT  
Đơn vị hành chính  
Tặng cho  
Thừa kế  
Tổng  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
Xã Bản Lang  
Xã Pa Vây Sử  
Xã Sì Lờ Lầu  
Xã Sin Súi Hồ  
Thị trấn Phong Thổ  
Xã Ma Ly Chải  
Xã Mồ Sì Sang  
Xã Vàng Ma Chải  
Xã Dào San  
Xã Hoang Thèn  
Xã Huổi Luông  
Xã Khổng Lào  
Xã Lản Nhì Thàng  
Xã Ma Ly Pho  
Xã Mường So  
Xã Mù Sang  
14  
2
1
7
90  
4
21  
9
9
23  
44  
10  
8
11  
7
6
7
38  
9
46  
18  
16  
37  
172  
23  
19  
18  
68  
80  
55  
149  
43  
78  
190  
18  
4
2
7
7
9
17  
28  
15  
56  
8
30  
83  
3
34  
33  
28  
51  
24  
27  
55  
8
17  
19  
12  
42  
11  
21  
52  
7
Xã Nậm Xe  
Xã Tung Qua Lìn  
9
3
8
4
7
6
24  
13  
Tổng  
376  
405  
286  
1.067  
Nguồn: Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phong Thổ, 2019.  
158  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
Số liệu tại bảng 1 cho thấy, việc chuyển  
quyền SDĐ có đăng ký biến động với cơ quan  
Nhà nước chủ yếu tập chung vào các đơn vị  
hành chính ở khu vực trung trung tâm huyện  
như xã Mường So, xã Khổng Lào và thị trấn  
Phong Thổ. Số lượng chuyển quyền tại ba đơn  
vị hành chính này chiếm gần 50% tổng số  
trường hợp chuyển quyền SDĐ trên địa bàn  
huyện Phong Thổ. Đây là các đơn vị hành chính  
có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn so  
với những xã vùng sâu, vùng xa khác của huyện,  
do vậy nhu cầu chuyển quyền SDĐ của người  
dân cũng lớn hơn. Bên cạnh đó, nhận thức của  
người dân ở các khu vực này cao hơn, họ nắm  
được tầm quan trọng và quyền lợi của việc đăng  
ký biến động khi thực hiện chuyển quyền SDĐ  
cũng là một yếu tố làm cho số lượng chuyển  
quyền SDĐ lớn hơn. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy, diễn biến chuyển quyền SDĐ trên địa bàn  
huyện Phong Thổ khác với nhiều khu vực khác  
ở vùng đồng bằng. Tại đồng bằng, trong các  
hình thức chuyển quyền SDĐ thì chuyển  
nhượng quyền SDĐ thường chiếm tỷ lệ lớn  
nhất, trong khi đó tại huyện Phong Thổ thì hình  
thức chuyển nhượng quyền SDĐ lại thấp hơn  
hình thức tặng cho quyền SDĐ. Nghiên cứu của  
Nguyễn Chí Hoàng (2015) cho thấy, trong 5  
năm (2013 - 2017), trên địa bàn huyện Đông  
Triều, tỉnh Quảng Ninh có tổng số 10.347  
trường hợp chuyển quyền SDĐ, trong đó hình  
thức chuyển nhượng quyền SDĐ chiếm tỷ lệ lớn  
nhất với 60,41%, tiếp đến là hình thức tặng cho  
chiếm 29,90%, cuối cùng là hình thức thừa kế  
và góp vốn bằng quyền SDĐ chiếm 9,69%.  
Tương tự nghiên cứu của Phạm Văn Hiển  
(2018) cũng cho thấy, trên địa bàn huyện Mỹ  
Lộc, tỉnh Nam Định có 32.541 trường hợp  
chuyển quyền SDĐ trong giai đoạn 2014-2018,  
trong đó hình thức chuyển nhượng quyền SDĐ  
chiếm tỷ lệ lớn nhất với 56,08%. Như vậy, có  
thể thấy rằng thị trường bất động sản trên địa  
bàn huyện phong Thổ chưa sôi động. Bên cạnh  
đó, do quỹ đất lớn cùng với thủ tục tặng cho  
được thực hiện dễ dàng và không mất thuế thu  
nhập cá nhân trong các trường hợp tặng giữa vợ  
với chồng; cha mẹ đẻ với con đẻ, cha mẹ nuôi  
với con nuôi; cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ  
vợ với con rể; ông bà nội với cháu nội, ông bà  
ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau  
nên hình thức này chiếm tỷ lệ lớn nhất.  
Kết quả điều tra, khảo sát tại địa bàn nghiên  
cứu cho thấy, thời gian trước khi Luật Đất đai  
năm 2003 có hiệu lực, công tác quản lý về đất  
đai còn lỏng lẻo cùng với nhận thức của người  
dân về pháp luật đất đai còn hạn chế nên tại các  
xã vùng sâu, vùng xa huyện Phong Thổ người  
SDĐ thường không thực hiện các thủ tục đăng  
ký biến động khi chuyển quyền SDĐ. Họ  
thường thực hiện chuyển quyền theo hình thức  
giấy tờ viết tay có người làm chứng. Tuy nhiên  
thời gian gần đây, công tác tuyên truyền pháp  
luật đất đai được đẩy mạnh đã giúp cho người  
dân nhận thức sâu rộng về tầm quan trọng của  
việc đăng ký biến động khi thực hiện quyền  
SDĐ, do vậy số trường hợp đăng ký biến động  
khi thực hiện QSDĐ tăng dần qua các năm tuy  
chưa nhiều (Bảng 2).  
Bảng 2. Biến động về chuyển quyền sử dụng đất huyện Phong Thổ giai đoạn 2014 - 2018  
Đơn vị tính: Trường hợp  
Năm  
2014  
65  
Năm  
2015  
71  
Năm  
2016  
75  
Năm  
2017  
82  
Năm  
TT  
Quyền  
Tổng  
2018  
83  
1
2
3
Chuyển nhượng  
Tặng cho  
376  
405  
69  
74  
78  
89  
95  
Thừa kế  
36  
47  
68  
62  
73  
286  
Toàn huyện  
170  
192  
221  
233  
251  
1.067  
Nguồn: Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phong Thổ, 2019.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020 159  
Kinh tế & Chính sách  
3.2.2. Đánh giá của người dân về thủ tục  
chuyển quyền sử dụng đất  
thấy, tỷ lệ số phiếu đánh giá về văn bản hướng  
dẫn và hồ sơ thực hiện TTHC ở mức dễ hiểu và  
đơn giản còn chiếm tỷ lệ thấp (dưới 30%), trong  
khi đó tỷ lệ số phiếu đánh giá ở mức bình  
thường chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 40%). Thực tế  
cho thấy, các văn bản hướng dân thủ tục hành  
chính về đất đai khá nhiều, liên quan đến nhiều  
cơ quan chuyên môn nên người SDĐ còn gặp  
khó khăn khi thực hiện. Đặc biệt, đối với một  
huyện miền núi như huyện Phong Thổ thì trình  
độ và khả năng tiếp cận của người dân còn hạn  
chế nên họ còn gặp khó khăn khi chuẩn bị hồ sơ  
thực hiện chuyển quyền SDĐ. Bên cạnh đó, khi  
thực hiện thủ tục chuyển nhượng, tặng cho  
quyền SDĐ thì phải có đầy đủ các thành viên  
trong hộ gia đình (từ 15 tuổi trở lên) tại thời  
điểm được cấp GCN đó ký vào hợp đồng. Tuy  
nhiên, trong nhiều trường hợp, tại thời điểm lập  
hợp đồng có thành viên đã chết, có người đi làm  
ăn xa, có trường hợp cá biệt đã bỏ đi nhiều năm  
không rõ tung tích nên việc hoàn thiện hồ sơ là  
rất khó khăn.  
- Đánh giá tính công khai và sự thuận tiện  
trong thực hiện TTHC: Kết quả điều tra 92 đối  
tượng thực hiện chuyển quyền SDĐ trên địa bàn  
huyện Phong Thổ cho thấy, TTHC về chuyển  
quyền SDĐ được đánh giá ở mức rất công khai  
và thuận tiện chiếm tỷ lệ khá cao, tương ứng là  
94,57% và 80,43%. Thực hiện đề án cải cách  
thủ tục hành chính theo Nghị quyết 30c/NQCP  
ngày 08/11/2011 của Chính phủ, Quyết định số  
39/QĐ-UBND ngày 26/3/2011 của Chủ tịch  
UBND tỉnh Lai Châu về kế hoạch cải cách hành  
chính tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011- 2005; Chỉ  
thị số 12/CT-UBND ngày 23/8/2013 Chủ tịch  
UBND tỉnh Lai Châu về việc tăng cường thực  
hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên  
địa bàn tỉnh Lai Châu và Quyết định số 42  
129/QĐ-UBND ngày 31/01/2015 Chủ tịch  
UBND tỉnh Lai Châu về việc ban hành Kế  
hoạch cải cách hành chính tỉnh Lai Châu năm  
2015, huyện Phong Thổ đã tăng cường sự lãnh  
đạo, chỉ đạo bộ phận “một cửa” trong lĩnh vực  
thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính  
(CCHC) nhà nước. Đặc biệt, năm 2013 huyện  
Phong Thổ đã áp dụng hệ thống quản lý chất  
lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại  
bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các  
cơ quan hành chính nhà nước thuộc huyện đã  
giảm thời gian và công sức của người dân, tổ  
chức, doanh nghiệp trong các quan hệ giao dịch  
hành chính; giải quyết thủ tục nhanh chóng hơn,  
đúng hạn, đúng luật và được người dân đồng  
tình ủng hộ. Việc thực hiện tiêu chuẩn TCVN  
ISO 9001:2008 giúp cho việc xử lý hồ sơ bảo  
đảm tính công khai, minh bạch, rõ ràng; giúp  
người dân hiểu rõ được quá trình giải quyết hồ  
sơ, tạo điều kiện chuẩn bị hồ sơ theo đúng quy  
định khi đến liên hệ công việc.  
- Đánh giá về thái độ phục vụ và năng lực  
của công chức, viên chức: Số liệu tổng hợp cho  
thấy, bên cạnh những đánh giá tích cực thì vẫn  
còn 9 ý kiến (chiếm 10,83%) cho rằng thái độ  
của một số công chức, viên chức là chưa thân  
thiện, nhiệt tình khi giải quyết TTHC cho người  
dân. Chỉ tiêu năng lực của công chức, viên chức  
được người dân đánh giá ở mức tốt chiếm tỷ lệ  
khá cao (70%). Trong những năm gần đây, để  
nâng cao hiệu quả giải quyết TTHC nói chung  
và TTHC về đất đai nói riêng, UBND huyện  
Phong Thổ luôn quan tâm và đẩy mạnh việc đào  
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhiều  
hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ  
chuyên môn và kỹ năng làm việc cho cán bộ,  
công chức. Tuy nhiên, kết quả điều tra vẫn cho  
thấy còn có những ý kiến đánh giá năng lực của  
cán bộ ở mức bình thường và kém, chiếm tỷ lệ  
tương ứng là 21,67% và 2,5%.  
- Đánh giá quy định về văn bản hướng dẫn  
và hồ sơ thực hiện TTHC: Kết quả điều tra cho  
160  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
- Đánh giá về thời gian thực hiện TTHC:  
Trong tổng số 92 phiếu điều tra, có 59 phiếu  
đánh giá thời gian thực hiện TTHC về chuyển  
quyền SDĐ đúng và trước thời gian quy định  
(chiếm 62,5%); còn lại 33 phiếu (chiếm 37,50%  
đánh giá thời gian thực hiện TTHC không đúng  
quy định. Theo Điểm l Khoản 2 Điều 161 Nghị  
định 43/2014/NĐ-CP, thời gian hoàn thành  
TTHC chuyển quyền SDĐ là không quá 10  
ngày. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn  
còn một số hồ sơ thụ lý không đảm bảo thời gian  
quy định ở trên là do các nguyên nhân như: hồ sơ  
kê khai với nhiều thủ tục và nhiều nội dung dẫn  
đến sai sót, nhầm lẫn; hệ thống hồ sơ địa chính  
đã quá cũ, chủ yếu được lưu trữ dưới dạng giấy  
và không được cập nhật chỉnh lý thường xuyên  
đã gây khó khăn cho công tác thẩm tra hồ sơ.  
- Đánh giá về các khoản thuế, phí, lệ phí:  
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân  
và các văn bản hướng dẫn, khi thực hiện chuyển  
quyền SDĐ, người SDĐ phải nộp thuế thu nhập  
cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng quyền  
SDĐ với mức thuế suất là 2% và trong trường  
hợp tặng cho không thuộc các đối tượng được  
miễn giảm thì mức thuế suất là 10% (Quốc hội,  
2007, 2012). Đối với lệ phí trước bạ được thu ở  
mức 0,5% theo quy định của pháp lệnh phí và lệ  
phí, Luật phí - lệ phí và các văn bản hướng dẫn  
(Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2001; Quốc hội  
2015). Đối với lệ phí địa chính thì mức thu do  
UBND cấp tỉnh quy định sao cho phù hợp với  
quy định Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư  
02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài  
chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm  
quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh,  
thành phố trực thuộc trung ương. Số liệu tại  
bảng 03 cho thấy, phần lớn người dân đánh giá  
mức thuế, phí và lệ phí trong các giao dịch  
chuyển quyền SDĐ là phù hợp (chiếm 80,43%).  
Một số đối tượng thuộc diện gia đình khó khăn  
về kinh tế đánh giá các khoản thu này ở mức cao  
(chiếm 11,96%), tuy nhiên cũng có một tỷ lệ  
nhỏ người dân đánh giá các khoản thu này ở  
mức thấp.  
Bảng 3. Đánh giá của người dân về thủ tục chuyển quyền sử dụng đất  
Số Tỷ lệ  
(%)  
Số  
Tỷ lệ  
Tiêu chí đánh giá  
Tiêu chí đánh giá  
phiểu  
92  
87  
5
phiểu (%)  
1. Công khai TTHC  
100,00 5. Thái độ phục vụ  
92  
45  
38  
9
100,00  
47,50  
41,67  
10,83  
- Rất công khai  
- Bình thường  
- Không công khai  
2. Sự thuận tiện thực hiện  
TTHC  
94,57 - Thân thiện, nhiệt tình  
5,43  
0,00  
- Bình thường  
0
- Không nhiệt tình  
6. Năng lực của công chức,  
viên chức  
92  
100,00  
92  
100,00  
- Thuận tiện  
74  
17  
1
80,43 - Tốt  
70  
20  
2
75,83  
21,67  
2,50  
- Bình thường  
- Không thuận tiện  
3. Văn bản về TTHC  
- Dễ hiểu  
18,48 - Bình thường  
1,09  
- Kém  
92  
27  
38  
27  
92  
26  
41  
25  
100,00 7. Thời gian thực hiện TTHC  
29,35 - Nhanh hơn quy định  
41,30 - Đúng quy định  
29,35 - Chậm hơn quy định  
100,00 8. Thuế, phí, lệ phí  
28,26 - Cao  
92  
19  
40  
33  
92  
11  
74  
7
100,00  
20,00  
42,50  
37,50  
100,00  
11,96  
80,43  
7,61  
- Bình thường  
- Khó hiểu  
4. Hồ sơ thực hiện TTHC  
- Đơn giản  
- Bình thường  
- Phức tạp  
44,57 - Phù hợp  
27,17 - Thấp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
161  
Kinh tế & Chính sách  
3.2.3. Một số tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến  
việc chuyển quyền sử dụng đất  
Thổ. Nguyên nhân của tình trạng này là do một  
số đối tượng có tâm lý chung là ngại đến gặp cơ  
quan nhà nước. Bằng sự tin tưởng lẫn nhau,  
người dân thực hiện điều chỉnh các quan hệ đất  
đai trong mối quan hệ hàng xóm, bạn bè quen  
biết truyền thống. Điều này gây khó khăn cho  
công tác quản lý đất đai và là nguyên nhân làm  
số lượng những vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất  
đai gây mất ổn định xã hội. Nguyên nhân của  
tình trạng này là do nhận thức của một bộ phận  
người SDĐ chưa hiểu được tầm quan trọng và  
quyền lợi của việc đăng ký biến động về quyền  
SDĐ. Ngoài ra, một số trường hợp do không đủ  
các điều kiện chuyển quyền (chưa được cấp  
giấy chứng nhận quyền SĐĐ hoặc không có  
giấy tờ chứng minh về quyền SDĐ) nên họ  
cũng thực hiện các giao dịch ngầm, không đăng  
ký biến động.  
- Số liệu điều tra đối với đối tượng là công  
chức, viên chức cho thấy, trên 90% số phiếu cho  
rằng cơ sở vật chất, trang thiết bị như phòng làm  
việc, tủ lưu trữ tại các xã chưa đảm bảo theo quy  
định gây khó khăn cho việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu  
đã làm ảnh hưởng đến thủ tục chuyển quyền  
SDĐ; hệ thống cơ sơ dữ liệu đất đai chưa hoàn  
chỉnh, công tác cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ  
chưa hoàn thành và việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ  
địa chính chưa thực hiện đồng bộ ảnh hưởng lớn  
đến điều kiện và thủ tục chuyển quyền SDĐ; sự  
hiểu biết của người dân về trình tự, thủ tục và các  
quy định về pháp luật đất đai còn hạn chế nên  
gặp khó khăn trong quá trình thực hiện kê khai,  
chuẩn bị hồ sơ chuyển quyền SDĐ.  
- 63,33% số phiếu điều tra đánh giá công tác  
quản lý Nhà nước về đất đai của một số xã còn  
lỏng lẻo, chưa thực sự sâu sát với nhân dân; việc  
phổ biến các quy định của pháp luật về đất đai  
còn chậm; sự phối hợp liên ngành, liên cơ quan  
trong giải quyết thủ tục chuyển quyền SDĐ  
chưa chặt chẽ làm kéo dài thời gian thụ lý hồ sơ,  
gây ách tắc, chồng chéo.  
3.3. Đề xuấtmộtsố giải phápđối với việc chuyển  
quyền sử dụng đất tại huyện Phong Thổ  
- Để thực hiện việc chuyển quyền SDĐ được  
hiệu quả, cần đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ  
thông tin, trang thiết bị cho chi nhánh VPĐKĐĐ  
huyện Phong Thổ và các xã phục vụ cho việc  
đăng ký đất đai của người SDĐ được thuận lợi;  
xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tổ chức rà soát,  
hoàn thiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền  
SDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn  
liền với đất; kịp thời cập nhật, chỉnh lý biến  
động về hồ sơ địa chính; thường xuyên tổ chức  
tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật đất  
đai cho người SDĐ để họ nắm được các TTHC  
về đất đai nói chung và TTHC về chuyển quyền  
SDĐ nói riêng.  
- 86,66% số phiếu điều tra đánh giá đội ngũ  
cán bộ làm công tác chuyên môn tuy đã được  
kiện toàn nhưng còn thiếu về số lượng. Hiện  
nay, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai  
huyện Phong Thổ chỉ có 03 biên chế (02 cán bộ  
trực tiếp thực hiện TTHC về chuyển quyền  
SDD), còn tại các xã, thị trấn chỉ có 01 cán bộ  
địa chính có chuyên môn về quản lý đất đai và  
môi trường nên khi thực hiện khó đảm bảo đúng  
thời gian quy định. Ngoài ra, còn có 23,33% số  
phiếu điều tra đánh giá trình độ, năng lực  
chuyên môn của một số cán bộ địa chính cấp xã  
còn hạn chế cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng  
và hiệu quả của công tác chuyển quyền SDĐ.  
- 16,66% số phiếu điều tra đánh giá tình trạng  
chuyển quyền SDĐ không làm thủ tục đăng ký  
biến động vẫn tồn tại trên địa bàn huyện Phong  
- Tăng cường sự phối hợp giữa VPĐKĐĐ  
tỉnh Lai Châu và chi nhánh VPĐKĐĐ huyện  
Phong Thổ với các cơ quan liên quan đến TTHC  
chuyển quyền SDĐ như UBND huyện, phòng  
Tài nguyên và Môi trường, cơ quan tài chính, cơ  
qua thuế và UBND các xã, thị trấn nhằm tháo  
gỡ kịp thời những vấn đề tồn tại, phát sinh khi  
thực hiện TTHC.  
162  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
- Tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao  
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tiếp  
công dân cho công chức, viên chức thực hiện  
việc tiếp nhận, giải quyết TTHC về đất đai tại  
các cơ quan nhà nước nhằm giảm thiều việc đi  
lại nhiều lần của người dân. Ngoài ra, cần rà soát  
nhiệm vụ và vị trí việc làm của công chức, viên  
chức để có thể xem xét bổ sung nguồn nhân lực  
đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý đất đai nói  
chung và TTHC về thực hiện chuyển quyền  
SDĐ nói riêng.  
hiệu quả; nhận thức của người SDĐ về pháp luật  
đất đai còn hạn chế; còn tồn tại tình trạng  
chuyển quyền SDĐ không thực hiện đăng ký  
với cơ quan nhà nước... Để khắc phục các hạn  
chế nêu trên, đồng thời thực hiện tốt hơn việc  
chuyển quyền SDĐ tại huyện Phong Thổ, cần  
thực hiện các giải pháp như: xây dựng, cập nhật  
và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa  
chính; tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận  
liên quan đến TTHC chuyển quyền SDĐ;  
thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến  
pháp luật đất đai đến người SDĐ...  
- Xây dựng chế tài xử phạt hành chính các  
trường hợp chuyển quyền SDĐ không làm thủ  
tục đăng ký biến động đất đai cũng như việc tiếp  
nhận và xử lý hồ sơ quá thời gian quy định. Bên  
cạnh đó, cũng cần thường xuyên tổ chức thanh  
tra, kiểm tra phát hiện những trường hợp chuyển  
quyền SDĐ không thực hiện đăng ký biến động.  
Ngoài ra, cần tăng cường công tác tuyên truyền,  
phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cho người  
dân nhằm giúp họ hiểu được tầm quan trọng và  
quyền lợi của việc đăng ký biến động về đất đai,  
đồng thời giúp họ nắm được các quy định về  
chuyển quyền SDĐ khi thực hiện TTHC.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phong Thổ (2019).  
Báo cáo kết quả công tác chuyển quyền sử dụng đất giai  
đoạn 2014 - 2018 trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh  
Lai Châu.  
2. Đặng Đức Đạm (2003). Đổi mới quản lý đất đai  
để thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản ở  
Việt Nam. Hội thảo Phát triển và quản lý thị trường bất  
động sản, tháng 9, Hà Nội.  
3. Phạm Văn Hiển (2019). Đánh giá việc thực hiện  
quyền của người sử dụng đất tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam  
Định. Luận văn thạc sỹ Quản lý đất đai, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam.  
4. Nguyễn Chí Hoàng (2018). Đánh giá việc thực  
hiện quyền của người sử dụng đất tại thị xã Đông Triều,  
tỉnh Quảng Ninh. Luận văn thạc sỹ Quản lý đất đai, Học  
viện Nông nghiệp Việt Nam.  
4. KẾT LUẬN  
Trong giai đoạn 2014 - 2018, tổng số trường  
hợp chuyển quyền SDĐ trên địa bàn huyện  
Phong Thổ là 1.067 trường hợp, trong đó hình  
thức tặng cho QSDĐ được thực hiện nhiều nhất  
với 405 trường hợp; tiếp đến là quyền chuyển  
nhượng với 376 trường hợp; cuối cùng là quyền  
thừa kế với 286 trường hợp, chiếm tương ứng  
37,96%; 35,25%; 26,80% tổng số trường hợp  
chuyển quyền SDĐ trong giai đoạn nghiên cứu.  
Các thủ tục chuyển quyền SDĐ được thực hiện  
theo quy định của pháp luật, đảm bảo tính công  
khai, minh bạch. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn  
còn tồn tại một số hạn chế như: hệ thống cơ sở  
dữ liệu đất đai chưa hoàn thiện; việc cập nhật,  
chỉnh lý hồ sơ địa chính chưa thực hiện đồng bộ;  
sự phối hợp giữa các bộ phận liên quan chưa  
5. Quốc hội (2007). Luật Thuế thu nhập cá nhân.  
NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
6. Quốc hội (2012). Luật sửa đổi, bổ sung một số  
điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13.  
7. Quốc hội (2013). Luật Đất đai năm 2013. NXB.  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
8. Quốc hội (2015). Luật phí và lệ phí. NXB. Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001). Pháp lệnh phí  
và lệ phí. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
10. UBND huyện Phong Thổ (2019a). Báo cáo kết quả  
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội huyện Phong  
Thổ năm 2019.  
11. UBND huyện Phong Thổ (2019b). Báo cáo kết  
quả tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất  
đai trên địa bàn huyện Phong Thổ năm 2019.  
12. Yamane, Taro (1967). Statistics: An Introductory  
Analysis, 2nd Edition, New York: Harper and Row.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
163  
Kinh tế & Chính sách  
A STUDY ON THE CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS FOR LAND  
USE RIGHT TRANSFER IN PHONG THO DISTRICT, LAI CHAU PROVINCE  
Pham Quy Giang1, Phan Thi Thanh Huyen2, Pham Thanh Que3,  
Tran Dinh Thanh4, Nguyen Van Thuong5  
1Ha Long University  
2Vietnam National University of Agriculture  
3Vietnam National University of Forestry  
4Laichau Enviroment and Natural Resource Department  
5People's Committee of Bacninh Province  
SUMMARY  
The present study was conducted in order to assess the current situation and propose solutions of land use right  
transfer in Phong Tho district, Lai Chau province. Primary data was collected through surveys and random  
interviews with 92 land users and 30 government officials related to administrative procedures on land use right  
transfer. In the period of 2014 - 2018, the total number of cases of land use right transfer in Phong Tho district  
was 1067, in which the form of gifting of land use rights was the highest with 405 cases (accounting for 37.96%);  
followed by transfer rights with 376 cases (35.25%); last is inheritance rights with 286 cases (accounting for  
26.80%). The procedures for land use right transfer were complied with the provisions of law, ensuring the  
openness and transparency. Specifically: publicity (94.57% rated that it is public); convenience (80.43% of  
reviews for convenience); text (over 70% of normal assessment and easy to understand); profile (over 70% of  
normal and simple assessment); service attitude (47.5% rated the level of friendliness and enthusiasm; 41.67%  
rated the normal rate); staff capacity (75.83% rated as good); implementation time (over 60% of the evaluation  
according to regulations and fast); taxes and fees (over 80% of the match rating). However, this activity still has  
some limitations, which requires some remedial solutions as follows: building, updating and completing land use  
databases and cadastral documents; strengthening coordination among the departments related to administrative  
procedures on land use right transfer; regularly organize the propagation and dissemination of land law to land users.  
Keywords: Current situation, land use rights transfer, Phong Tho district, solution.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 12/6/2020  
: 31/7/2020  
: 06/8/2020  
164  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2020  
pdf 9 trang Thùy Anh 16100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đối với việc chuyển quyền sử dụng đất tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_giai_phap_doi_voi_viec_chuy.pdf