Chính sách đổi mới của Việt Nam: Tác động tới cộng đồng vùng cao và quản lý rừng bền vững

CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM:  
TÁC ĐỘNG TỚI CỘNG ĐỒNG VÙNG CAO  
VÀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG  
Trần Thị Thu Hà  
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên  
Phạm Văn Điển  
Đại học Lâm nghiệp Việt Nam  
Đặng Tùng Hoa  
Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
Văn phòng UNDP Việt Nam  
Trần Đức Viên  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Tóm tắt  
Chính sách Đổi mới của Việt Nam ra đời từ cuối những năm 80 của  
thế kỷ XX đã tạo ra sự chuyển dịch từ một nền kinh tế tập trung bao  
cấp sang nền kinh tế thị trường, chuyển quyền sử dụng đất từ Nhà  
nước sang các chủ thể sử dụng đất. Một trong những mục tiêu chính  
của chính sách Đổi mới cho vùng cao là giảm mất rừng, tăng cường  
quản lý rừng và đất rừng, nhằm cải thiện sinh kế cho người dân.  
Chính sách này nhằm sử dụng tối ưu rừng và đất rừng bằng cách áp  
dụng các biện pháp canh tác phù hợp, cũng như chiến lược kết hợp  
các mục tiêu bảo tồn và phát triển ở vùng cao, với hy vọng việc ban  
hành chính sách Đổi mới sẽ làm tăng thu nhập cho người dân, giảm  
mất rừng và quản lý khu vực đất dốc bền vững. Thông qua dữ liệu từ  
các cuộc phỏng vấn các bên có liên quan, các nhóm mục tiêu và các  
hộ gia đình tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và dữ liệu thứ  
cấp, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình thực hiện chính sách Đổi  
mới cho vùng cao vẫn chưa đạt được đầy đủ các mục tiêu ban đầu đặt  
ra, là cải thiện sinh kế cho người dân và quản lý rừng bền vững. Sinh  
kế của nhóm người dân trên chuẩn nghèo được cải thiện, trong khi  
các sinh kế cho nhóm nghèo vẫn còn hạn chế. Tình trạng thiếu đất  
canh tác cũng như trình độ sản xuất các loại cây trồng mới còn hạn  
chế là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đói nghèo còn cao.  
Tính công bằng chưa cao trong giao quyền sử dụng đất, cũng như cơ  
hội tiếp cận tài nguyên, đã làm gia tăng khoảng cách giàu - nghèo.  
136  
Hơn nữa, các chính sách Đổi mới cũng chưa phát huy các tập quán,  
tri thức bản địa về quản trị tài nguyên rừng của cộng đồng dân tộc.  
Tổ chức thể chế còn yếu, hiệu quả kém, cũng như thiếu minh bạch  
trong hệ thống quản lý vẫn là những rào cản, khiến cho chính sách  
Đổi mới ở vùng cao chưa thành công như mong đợi. Với những kết  
quả đã đạt được, bài báo được xem như một nghiên cứu điểm, nhằm  
tạo cơ sở cho việc điều chỉnh những tác động vào hệ thống kinh tế - xã  
hội và tài nguyên rừng phù hợp với hệ sinh thái nhân văn ở vùng cao  
Việt Nam.  
Từ khóa: Chính sách Đổi mới; Cộng đồng vùng cao; Quản lý rừng; Hệ sinh  
thái nhân văn.  
GIỚI THIỆU  
Các chính sách của Chính phủ Việt Nam, được gọi chung là Đổi  
mới, đã được áp dụng từ cuối những năm 1980. Những chính sách này  
cho phép quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung bao  
cấp, sang nền kinh tế thị trường và chuyển quyền sử dụng đất từ Nhà  
nước quản lý cho người sử dụng. Một trong những mục tiêu chính của  
Đổi mới ở vùng cao của Việt Nam là giảm phá rừng và tăng cường  
tính bền vững của rừng và quản lý đất lâm nghiệp. Chính sách này là  
kết quả của sự kết hợp hai chiều từ trên xuống và dưới lên (Fforde và  
Goldstone, 1995; Kerkvliet, 2005). Từ dưới lên đã xuất hiện sự phá  
rào, khi người dân nông thôn đã không đồng thuận kế hoạch tập trung  
bao cấp. Thực tế với kinh tế tập trung bao cấp đã dẫn đến tình trạng  
sản lượng nông nghiệp giảm trên đất thuộc hợp tác xã và Nhà nước đã  
đưa ra hành động phù hợp để ứng phó với khủng hoảng lương thực  
ngày càng tăng trong thời kỳ trước Đổi mới. Năm 1988, khoán 10 của  
Bộ Chính trị đã được ban hành, thay đổi đất nông nghiệp từ sở hữu tập  
thể sang sở hữu hộ gia đình (GOV, 1988). Điều này cho phép quyền  
sở hữu các hộ gia đình, cá nhân đối với đất sản xuất nông nghiệp và  
những lợi ích đã nhanh chóng xuất hiện. Đến năm 1992, Việt Nam từ  
một nước nhập khẩu gạo đã trở thành một trong các nước xuất khẩu  
gạo lớn nhất thế giới (World Bank, 1994). Từ những thành tựu cải  
cách nông nghiệp ở các vùng đồng bằng, Chính phủ tiếp tục thực hiện  
những cải cách khác trong tiến trình Đổi mới, trong đó có cải cách  
ruộng đất, cải cách kinh tế - xã hội, cải cách lâm nghiệp, v.v...  
Kể từ đầu những năm 1990, các chính sách Đổi mới đã được  
triển khai tại các khu vực vùng cao, với mục đích cải thiện sinh kế  
137  
địa phương và quản lý rừng và đất lâm nghiệp. Các chính sách, bao  
gồm chuyển quyền sử dụng đất lâm nghiệp từ Nhà nước đến các hộ  
gia đình và các thành phần kinh tế khác thông qua Luật Đất đai năm  
1993, đã được thực hiện (NAoV, 1993). Đồng thời, Chính phủ đưa ra  
các cải cách kinh tế và đất đai. Các chính sách đã tìm cách để đạt  
được sự tối ưu trong sử dụng rừng và đất lâm nghiệp thông qua việc  
áp dụng các hệ thống canh tác thích hợp và chiến lược kết hợp các  
mục tiêu bảo tồn và phát triển ở khu vực miền núi. Các chính sách  
này hy vọng rằng, sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp thích hợp sẽ  
làm tăng thu nhập địa phương, ngăn chặn nạn phá rừng và đảm bảo  
rằng, đất dốc được quản lý một cách bền vững. Tuy nhiên, mức độ  
đạt được mục tiêu của những chính sách này cũng còn có ý kiến khác  
nhau (Sikor, 2001; Alther và cs., 2002;. Zingerli và cs., 2002; Tran  
Ngoc Thanh, 2005; Tran Thi Thu Ha, 2007; Tran Thi Thu Ha và  
Hoang Van Chieu, 2013).  
Để góp phần làm rõ hơn về tác động của chính sách Đổi mới đến  
cộng đồng vùng cao và quản lý rừng, bài báo này đã được thực hiện.  
Phương hướng của bài báo là sử dụng các số liệu thứ cấp và số liệu  
trực tiếp điều tra tại 5 tỉnh để đánh giá về sự thay đổi của các chỉ số  
có liên quan đến cộng đồng vùng cao và quản lý rừng, như: thay đổi  
trong sử dụng đất, thu nhập của người dân, an ninh lương thực, dòng  
tiền, giáo dục và việc làm; giao quyền sử dụng đất; thay đổi về thể  
chế; thay đổi về độ che phủ và chất lượng rừng; du cư, du canh, tình  
trạng săn bắt và quản lý môi trường. Những sự thay đổi này đều  
được xem xét dưới tác động của chính sách Đổi mới và được đặt  
trong bối cảnh của hệ sinh thái nhân văn ở các địa điểm nghiên cứu.  
1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Khung lý thuyết của nghiên cứu này được dựa trên lý thuyết về  
quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững và sinh thái nhân văn. Các  
tam giác sinh thái nhân văn có thể hiển thị các kết nối giữa con  
người với thiên nhiên và xây dựng môi trường, cũng như với các tổ  
chức xã hội (Dang Tung Hoa, 2000; Teherani-Kroenner và Dang  
Tung Hoa, 2014).  
Vấn đề môi trường và sinh kế của người dân đã được đề cập trong  
một vài thập kỷ trước đây, đặc biệt là các báo cáo của Câu lạc bộ  
138  
Rome, cũng như các công trình tiên phong của Rachel Carson  
(Steiner, 2013). Suy thoái rừng cũng như biến đổi khí hậu đang đe dọa  
sinh kế của con người trong khu vực nông thôn và đô thị, ở cả cấp độ  
địa phương và toàn cầu. Việc đánh giá tác động cần áp dụng các  
phương pháp nghiên cứu đa dạng và liên ngành, để điều tra và tìm ra  
giải pháp thích hợp cho những thách thức phức tạp (Teherani-  
Kroenner và Dang Tung Hoa, 2014).  
Để đánh giá tác động của chính sách Đổi mới đến cộng đồng  
vùng cao và quản lý rừng bền vững theo mục tiêu của Đổi mới,  
nghiên cứu này đã được thực hiện ở năm tỉnh, trong đó có ba tỉnh ở  
khu vực miền núi phía Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên)  
và hai tỉnh ở Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông). Đây là những tỉnh  
đại diện cho hai vùng kinh tế - sinh thái đặc trưng của vùng núi, có  
diện tích rừng lớn và đặc biệt là những nơi tập trung của đồng bào  
dân tộc thiểu số, thuộc diện khó khăn nhất trong cả nước. Việc lựa  
chọn 3 tỉnh của miền núi phía Bắc theo dọc tuyến từ Hà Nội - Thái  
Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng đại diện cho vị trí gần trung tâm Hà  
Nội (Thái Nguyên) cho đến biên giới Việt Trung (Cao Bằng), nhằm  
đánh giá tác động của các chính sách Đổi mới, bao gồm cả tác động  
về chính sách thị trường, đất đai. Tương tự, ở khu vực Tây Nguyên,  
Đắk Lắk, nơi trung tâm và Đắk Nông, là tỉnh biên giới giáp  
Campuchia, nơi có các cộng đồng dân tộc thiểu số đại diện cho dân  
tộc ở Tây Nguyên, đồng thời, đây cũng là vùng di cư của các cộng  
đồng dân tộc thiểu số của miền núi phía Bắc do tác động của tiến  
trình Đổi mới. Việc lựa chọn các khu vực nghiên cứu ở các tỉnh này  
cũng đã điển hình cho ba loại rừng chính: rừng sản xuất, rừng đặc  
dụng và rừng phòng hộ. Mỗi loại rừng, Chính phủ có các quy định  
về quyền sử dụng rừng và đất rừng khác nhau và có tác động rất lớn  
đến quyền sử dụng rừng và đất rừng. Tại mỗi tỉnh, hai hoặc ba thôn  
bản được khảo sát chuyên sâu, trong đó, một thôn nằm gần trung  
tâm xã và gần khu vực đất thấp, những thôn khác ở những vùng núi  
xa, với các cộng đồng dân tộc thiểu số khác nhau theo vùng sinh  
thái nhân văn, như các thôn vùng thấp là dân tộc Tày, những thôn  
vùng cao là dân tộc Dao, H’Mông. Việc lựa chọn các tỉnh, các thôn  
nghiên cứu đảm bảo tính đại diện và sự tác động ở nhiều khía cạnh  
khác nhau (Hình 1).  
139  
Hình 1. Sơ đồ địa điểm nghiên cứu  
Các dữ liệu có liên quan và các thông tin được thu thập trong hai  
giai đoạn: đầu những năm 1990, trước khi giới thiệu các chính sách và  
trong năm 2005 và 2014, sau sự ra đời của chính sách. Dữ liệu sơ cấp  
được thu thập từ các cuộc họp thôn và thảo luận nhóm, khảo sát, điều  
tra hộ gia đình và các cuộc phỏng vấn thông tin chính ở các cấp độ  
khác nhau bằng cách sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc. Tổng cộng có  
360 hộ thuộc 5 tỉnh, 145 cuộc phỏng vấn thông tin quan trọng từ 20  
thôn bản thuộc 6 huyện, 68 cuộc thảo luận các cấp (cấp xã, huyện và  
tỉnh) đã tham gia vào năm 2005 và năm 2014. Các hộ phỏng vấn đã  
được lựa chọn ngẫu nhiên trong danh sách phân loại nhóm hộ (khá  
giả, trung bình và nghèo). Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu  
trúc bao gồm: thông tin chung về hộ gia đình; các nguồn thu nhập của  
hộ gia đình; an ninh lương thực; giao đất và quyền sử dụng đất; tình  
hình sử dụng đất trước và sau giao đất giao rừng; tác động của Đổi  
mới đến quản lý rừng và đất rừng và phát triển rừng... Việc phỏng vấn  
các thành viên chủ chốt đã được thực hiện với những người là trưởng  
thôn, già làng, đại diện cho lãnh đạo xã, huyện. Nội dung phỏng vấn  
tập trung vào việc thảo luận những tác động của việc giao đất, thị  
140  
trường, đào tạo, giáo dục, môi trường, thể chế và quá trình thực thi các  
chính sách, tính minh bạch trong quá trình giao đất, giao rừng, quyền  
tiếp cận nguồn tài nguyên rừng của các hộ gia đình trước và sau Đổi  
mới, thị trường tiêu thụ, tác động của môi trường đến đời sống và sinh  
kế của người dân. Trong cả hai thời điểm thu thập số liệu, thông tin,  
các hộ gia đình trong thôn bản nghiên cứu, bao gồm cả các hộ giàu và  
nghèo, được phỏng vấn cả hai giai đoạn (không thay đổi hộ gia đình  
đã phỏng vấn trước đó). Dữ liệu thứ cấp được thu thập bao gồm các  
tài liệu và số liệu thống kê từ các cơ quan Chính phủ về diễn biến tài  
nguyên rừng. Cả hai phương pháp phân tích định lượng và định tính,  
chủ đạo là phương pháp so sánh, đã được sử dụng để xử lý và phân  
tích dữ liệu và thông tin.  
2. KẾT QUẢ  
2.1. Sinh kế của cộng đồng vùng núi cao  
2.1.1. Thay đổi trong sử dụng đất  
Trước năm 1990, đất rừng được các cơ quan Nhà nước quản lý.  
Tuy nhiên, theo quan điểm của người dân các thôn bản được phỏng  
vấn, đất lâm nghiệp là đất họ có thể tự do làm nương rẫy hoặc thu hái  
lâm sản. Trong hầu hết các thôn bản nghiên cứu, đất rừng được hợp  
tác xã, cộng đồng hoặc nhóm cộng đồng quản lý, nhưng người dân  
trong thôn bản coi đó là đất chung. Giai đoạn 1980-1990 sau chiến  
tranh, với chính sách cấm vận, Chính phủ đã có chiến lược tự cung tự  
cấp lương thực, thực phẩm, dẫn đến người dân vùng cao cố gắng tối  
đa hóa canh tác nương rẫy để có sản lượng lương thực. Trong đầu  
những năm 1990, việc đưa vào các chiến lược Đổi mới của Chính phủ  
đã dẫn tới những thay đổi trong hệ thống canh tác nông lâm nghiệp,  
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông lâm nghiệp và tôn  
trọng các giá trị môi trường. Hệ thống canh tác nông lâm nghiệp ở khu  
vực vùng cao đã thay đổi ở hầu hết các khu vực nghiên cứu (Bảng 1).  
Đã có những thay đổi đáng kể trong việc sử dụng đất sau những  
cải cách chính sách. Diện tích lúa nước ở hầu hết các thôn bản nghiên  
cứu đã không tăng kể từ năm 1994, nhưng diện tích canh tác đã tăng  
từ một đến hai vụ mỗi năm bằng cách sử dụng hệ thống thủy lợi. Các  
khu vực đất nông nghiệp được phân loại là đất đồng bằng trồng lương  
141  
thực đã tăng ở hầu hết các khu vực nghiên cứu. Đất dốc vùng cao  
trước đây được sử dụng để trồng cây lương thực như lúa nương, ngô  
và sắn đã giảm đi đáng kể ở hầu hết các khu vực nghiên cứu ở miền  
núi phía Bắc, nhưng nhu cầu thị trường đã dẫn đến việc phát triển cây  
sắn trong các thôn bản ở khu vực Tây Nguyên. Trong giai đoạn 1980 -  
1990, hầu hết các thôn bản sử dụng đất rừng trồng lúa nương và ngô  
để đáp ứng nhu cầu lương thực chủ yếu của họ. Số liệu điều tra từ năm  
2014 (Bảng 1) cho thấy, diện tích đất chuyển đổi canh tác trong năm  
1994, trong hầu hết các thôn, giảm vào năm 2005 và tiếp tục giảm  
trong năm 2014, khi nó được thay thế bằng rừng trồng hoặc cây trồng  
công nghiệp. Tuy nhiên, ngô, lúa nương, sắn vẫn đang được trồng như  
các loại lương thực chính của tất cả các hộ gia đình trong thôn nghiên  
cứu, mặc dù diện tích các loại cây trồng đã giảm.  
Bảng 1. Thay đổi trong sử dụng đất ở các thôn nghiên cứu 1994-2014  
Các tỉnh khu vực  
miền núi phía Bắc  
Các tỉnh khu vực  
Tây Nguyên  
Loại  
Trước  
Sau  
Trước  
Sau  
Đổi mới  
Đổi mới  
Đổi mới  
Đổi mới  
Cây lương  
thực  
Lúa nương  
chiếm ưu thế  
Ít lúa nương  
Lúa nương  
chiếm ưu thế  
Ít lúa nương  
Ngô và sắn  
chiếm ưu thế chiếm ưu thế  
Ngô và sắn  
Ngô chiếm ưu Sắn chiếm ưu  
thế thế  
Lúa nước, chỉ Lúa nước, có hai Lúa nước, chỉ Lúa nước, có hai  
có một vụ mùa vụ mùa có một vụ mùa vụ mùa  
Chăn nuôi  
gia súc  
Chăn nuôi thả Chăn nuôi nhốt Chăn nuôi thả Chăn nuôi nhốt  
rông rông  
Cây lâu năm  
Cây ăn quả tăng  
lên  
Cây ăn quả tăng  
lên  
Cây thương  
mại  
Nhiều diện tích  
rừng thay đổi  
bởi cây chè  
Rừng nguyên  
sinh thay thế  
bằng cà phê,  
cao su  
Rừng trồng  
Rừng trồng mở  
rộng (keo, bạch  
đàn, mỡ...) thay  
thế đất trống và  
rừng tái sinh  
142  
Các hộ gia đình khá giả hơn trong thôn bản thường có đủ đất  
trồng lúa nước, do đó họ đã sử dụng đất rừng để trồng cây trồng công  
nghiệp, trong khi những người nghèo thiếu đất trồng lúa nước, tiếp tục  
khai hoang để trồng cây lương thực trên đất lâm nghiệp.  
Vùng trồng cây công nghiệp đã mở rộng ở hầu hết các thôn bản  
nghiên cứu trong vòng 10 đến 15 năm qua. Hầu hết các khu vực trước  
đây thuộc du canh đã được giao cho các hộ gia đình để trồng rừng.  
Tuy nhiên, các hộ gia đình đã sử dụng đất rừng vào mục đích trồng  
cây công nghiệp như chè, cà phê, do chúng mang lại lợi nhuận kinh tế  
cao hơn so với cây lâm nghiệp hoặc để rừng tái sinh tự nhiên.  
2.1.2. Thu nhập  
Trước chính sách Đổi mới, hầu hết các hộ gia đình trong các thôn  
bản nghiên cứu sống trong hoàn cảnh kinh tế tương tự nhau, điển hình  
là nhà tạm, không có hàng hóa có giá trị cao, thu nhập hàng năm thấp,  
không đảm bảo an ninh lương thực, không có tiền tiết kiệm và có ít  
tiền để đầu tư vào sản xuất. Từ khảo sát thực địa sau Đổi mới, ba  
nhóm xếp hạng về kinh tế (nghèo, trung bình và khá giả) đã được xác  
định và phân loại trên cơ sở các tiêu chí địa phương, thể hiện trong  
Bảng 2. Các phân loại này có ý nghĩa hơn về đói nghèo và kinh tế địa  
phương, thay vì một định nghĩa dựa chặt chẽ vào tiền mặt.  
Bảng 2. Xếp hạng giàu nghèo sau Đổi mới  
Nghèo  
Trung bình  
Nhà bình thường  
Khá giả  
Nhà tạm  
Không có đồ vật có giá trị  
Nhà tốt/chắc chắn  
Một vài vật dụng và đồ dùng Đồ dùng tốt, nhiều máy móc  
có giá trị  
có giá trị (máy đập lúa, TV,  
máy phát điện...)  
Hạn chế hoặc không có đất Hạn chế hoặc không có diện Diện tích lúa nước rộng; đất  
trồng lúa nước; hạn chế hoặc tích lúa nước; hạn chế hoặc rừng rộng  
không có đất rừng  
không có đất rừng  
Thiếu vốn đầu tư trồng cây Thiếu vốn đầu tư trồng cây Có vốn đầu tư cho trồng cây  
dài ngày  
dài ngày  
dài ngày  
Sở hữu 0-1 bò/trâu  
Sở hữu 1-2 bò/trâu  
Sở hữu 4-6 bò/trâu  
Thiếu lương thực từ 4-10  
tháng trong năm  
Thiếu lương thực từ 1 - 3  
tháng trong năm  
Đảm bảo an ninh lương  
thực, thực phẩm dồi dào  
trong vài tháng của năm  
Thu nhập ít hơn 400.000  
đ/người/tháng  
Thu nhập 400.000 - 600.000 Thu nhập lớn hơn 600.000  
đ/người/tháng đ/người/tháng  
Không tiết kiệm, có một vài Có tiết kiệm  
Không có tiết kiệm, nợ tiền  
mua lương thực, thực phẩm khoản nợ  
Trình độ giáo dục tiểu học  
Trình độ giáo dục THCS  
Trình độ trung cấp nghề  
Nguồn: Tran Thi Thu Ha, 2007; điều tra thực địa, 2014.  
143  
Tại các thôn nghiên cứu, người nghèo chiếm khoảng 19,7-73,3%  
so với tổng dân số. Có một xu hướng là một tỷ lệ lớn hơn người nghèo  
đến từ thôn ở xa (ví dụ, Khâu Qua, Khuổi Kẹn, Hang Ja và Hang  
Nam). Tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn ở các thôn nằm gần một xã hoặc trung  
tâm huyện (ví dụ, bản Cám và Bon Phung). Tỷ lệ nghèo đói ở các thôn  
bản khu vực Tây Nguyên cao hơn so với các thôn ở các tỉnh miền núi  
phía Bắc. Bảng 3 cho thấy tỷ lệ các hộ gia đình trong mỗi xếp hạng  
giàu nghèo.  
Bảng 3. Tỷ lệ hộ gia đình ở mỗi xếp hạng giàu nghèo  
các trường hợp nghiên cứu  
Thôn nghiên cứu  
Vầu  
Nghèo  
32,7  
40,6  
21,7  
44,4  
20,2  
33,3  
73,3  
63,0  
40,2  
55,2  
34,6  
45,0  
Trung bình  
52,9  
Khá giả  
10,4  
8,8  
Nác  
50,6  
Bản Cám  
62,0  
16,3  
6,2  
Khâu Qua  
Pác Han  
49,4  
67,8  
12,0  
6,0  
Khuổi Kẹn  
Hang Ja  
56,7  
22,7  
4,0  
Hang Nam  
Ea Lang  
29,6  
7,4  
54,8  
5,0  
Bon Dieng Ngaih  
Bon Phung  
Bon R’Mnon  
40,7  
4,1  
59,5  
5,9  
52,0  
3,0  
Nguồn: Tran Thi Thu Ha, 2007; điều tra thực địa, 2014.  
Trong hầu hết các thôn nghiên cứu, thu nhập của đa số người dân  
chỉ ở trên ngưỡng nghèo một chút. Hầu hết các khoản thu từ các thôn  
bản có làng nghề đã được chia sẻ giữa một số nhỏ những người khá  
giả. Vì vậy, chủ yếu thu nhập của người dân khá giả là đã được cải  
thiện nhờ công cuộc Đổi mới. Trước Đổi mới, sự khác biệt về thu  
nhập giữa những người dân trong thôn bản là nhỏ. Hiện tại, khoảng  
cách thu nhập lớn hơn nhiều.  
144  
Tính công bằng chưa cao trong phân bổ đất được xem là một  
trong những tác động tiêu cực đến khoảng cách ngày càng lớn giữa  
người khá giả và người nghèo. Ngoài ra, Đổi mới tạo ra nguồn thu  
nhập mới thông qua nhu cầu thị trường và người dân địa phương tham  
gia vào kinh doanh nhỏ, dịch vụ, đã có thể kiếm được một nguồn thu  
nhập đáng kể. Tuy nhiên, các hoạt động này là đặc quyền của những  
người khá giả. Ví dụ, ở làng nghiên cứu của bản Cám, chỉ có những  
người khá giả, có thuyền tốt mới có thể bắt cá trên gần hồ Ba Bể (tỉnh  
Bắc Kạn). Số lượng cá thu được, ngoài việc cải thiện bữa ăn gia đình,  
họ còn bán thu tiền mặt. Do đó, các hộ khá giả có cơ hội tốt hơn nhiều  
so với những người nghèo, những người gặp khó khăn trong việc đánh  
bắt đủ cá để cải thiện bữa ăn hàng ngày của họ.  
Trước Đổi mới, tại các điểm nghiên cứu ở Tây Nguyên, sinh kế  
của người dân các dân tộc M’Nông và Ê Đê dựa trên canh tác nương  
rẫy. Sau khi cải cách, đất rừng đã được giao cho các vườn quốc gia,  
khu bảo tồn thiên nhiên và các công ty tư nhân. Những người di cư từ  
các vùng khác đến cũng tuyên bố sở hữu đất. Vì vậy, không có nhiều  
không gian cho du canh. Những người dân đã phải chuyển sang trồng  
trọt cố định hoặc vĩnh viễn, với những cách thức nông nghiệp mới,  
trong khi họ chưa bao giờ được tiếp cận kỹ thuật canh tác mới từ trước  
tới nay. Trong các khu vực này, thu nhập chính của các hộ gia đình  
khá giả đến từ việc canh tác các trang trại trồng cà phê hoặc các dịch  
vụ kinh doanh nhỏ, trong khi thu nhập của người nghèo vẫn đến từ  
canh tác ngô, sắn, bán sức lao động làm thuê của họ. Quan sát thực địa  
vào năm 2014 cho thấy, sản xuất lúa nước hầu như không thể bảo đảm  
an ninh lương thực cho tất cả người dân trong thôn bản, vì một số thôn  
rất hạn chế diện tích lúa nước và thậm chí các hộ nghèo không có đất  
ruộng. Ngô, sắn là nguồn thu nhập cho các hộ gia đình để mua gạo và  
các nhu cầu khác trong gia đình và chiếm khoảng 25 - 35% tổng thu  
nhập của họ, hoặc là trở thành nguồn lượng thực chính của họ trong  
những tháng thiếu ăn. Sắn chiếm hơn 10% tổng thu nhập của các hộ  
gia đình ở khu vực Tây Nguyên. Thu nhập bình quân từ các trang trại  
trồng chè, cà phê là khoảng 20 - 40 triệu đồng/ha/năm. Nhưng không  
nhiều hộ gia đình có các trang trại cây công nghiệp chè hoặc cà phê.  
Chăn nuôi gia súc không phát triển mạnh, hầu hết các hộ gia đình có  
1-4 con bò, tùy theo nhóm hộ gia đình. Thu nhập từ đi lao động làm  
thuê là một nguồn thu nhập đáng kể cho hầu hết các hộ gia đình  
145  
nghèo. Từ 10-80% số hộ trong thôn có các thành viên gia đình đi làm  
thuê tại các trạng trại ở xã hoặc ở các huyện khác. Những người đi lao  
động theo hình thức thuê mướn này tuổi từ 18-45, bao gồm cả nam giới  
và phụ nữ. Dịch vụ làm thuê không bao giờ có trong những năm trước  
Đổi mới, nhưng giờ đã trở nên rất phổ biến, đặc biệt ở các thôn bản ở  
Tây Nguyên. Về mặt sinh thái nhân văn, đó là một sự thay đổi rất sâu  
sắc. Trước đây, quan niệm của người Ê Đê và M’Nông không bao giờ  
muốn làm thuê, vì họ xem đó là một điều tối kỵ, nhưng giờ đây vấn đề  
sinh kế sống còn bắt buộc họ phải thay đổi cả các quan niệm về văn hóa  
nhân văn. Đối với thu nhập tiền mặt, họ cũng bắt đầu khai thác lâm sản  
ngoài gỗ, chẳng hạn như mây tre từ tháng VIII đến tháng X. Đặc biệt,  
những người nghèo quay sang bán măng để kiếm tiền mua gạo.  
2.1.3. An ninh lương thực  
An ninh lương thực, đặc biệt là lúa gạo, luôn là một vấn đề của  
những cộng đồng vùng cao Việt Nam, ngay cả khi sự ra đời của chính  
sách Đổi mới. Tuy nhiên, trong những năm trước Đổi mới, mỗi hộ gia  
đình có thể nuôi sống mình bằng hoạt động sản xuất du canh các loại  
cây trồng như ngô và sắn. Sau Đổi mới, người khá giả tự sản xuất đủ  
lương thực trên đất lúa nước và dành phần lớn đất đai cho trồng cây  
công nghiệp dài ngày. Người nghèo, mặt khác, không thể tự túc, do họ  
chỉ có ít diện tích đất để trồng trọt. Nhiều hộ gia đình nghèo thậm chí  
không có đất và tình trạng thiếu gạo đã trở nên rất phổ biến trong số  
những người rất nghèo ở tất cả các thôn nghiên cứu (Bảng 2). Một số  
hộ khá giả có ít đất để sản xuất lúa nước, song họ đã có nguồn tiền  
mặt từ thu nhập khác để khắc phục tình trạng thiếu lương thực bằng  
cách mua gạo từ thị trường.  
2.1.4. Dòng tiền, giáo dục và tình trạng việc làm  
Trong những năm kể từ sự ra đời của Đổi mới, học phí đã là một  
gánh nặng cho các gia đình nghèo, buộc nhiều người phải vay tiền vào  
đầu năm học. Hầu hết các hộ gia đình không thể hỗ trợ con cái của họ  
tiếp tục học lên các cấp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông, bởi  
không còn sự bao cấp. Như vậy, sau Đổi mới, chỉ những gia đình khá  
giả mới có thể cho con cái họ tiếp tục học lên cao. Sự phân biệt trong  
giáo dục khiến sự bất bình đẳng được duy trì. Các con của các hộ gia  
đình khá giả sẽ được học hành tốt hơn và có những cơ hội tìm kiếm  
việc làm ở bên ngoài, trong khi các trẻ em nghèo bị thất học tiếp tục  
quay lại vòng luẩn quẩn của đói nghèo.  
146  
2.2. Quyền sử dụng đất  
Trước chính sách Đổi mới, mỗi hộ gia đình ở vùng cao có cơ hội  
tương tự để tiếp cận các khu rừng và đất rừng để thu hái lâm sản, canh  
tác nương rẫy và thu thập các lâm đặc sản khác. Sau Đổi mới, đất lâm  
nghiệp và rừng đã được giao cho các chủ sở hữu thực sự, hay người sử  
dụng đất. Các chính sách đất đai mới cũng phán quyết rằng, phân bổ  
rừng và đất rừng là khác nhau giữa ba loại rừng. Trong các loại rừng  
sản xuất, đất rừng sản xuất có thể được giao dài hạn (50 năm), với  
quyền sử dụng đầy đủ. Đối với rừng phòng hộ, nó có thể được giao  
cho mục đích bảo vệ duy nhất, với thời gian dài hạn hoặc ngắn hạn,  
trong khi đất rừng tại các khu rừng đặc dụng chỉ có thể được giao cho  
bảo vệ ngắn hạn. Do đó, trong các thôn bản nghiên cứu, đất rừng chỉ  
được phân bổ cho các hộ gia đình thuộc đối tượng rừng sản xuất và  
rừng phòng hộ và không phân chia cho các hộ gia đình trong khu vực  
đất được quy hoạch cho mục đích rừng đặc dụng. Tuy nhiên, kể cả các  
hộ gia đình thuộc đối tượng được giao rừng sản xuất, trong quá trình  
giao đất rừng, không phải ai cũng nhận được diện tích đất như nhau  
(Bảng 4).  
Bảng 4. Diện tích đất rừng được nhận và số lượng trung bình  
các thành viên gia đình trong nhóm xếp hạng giàu nghèo  
khác nhau ở một số thôn bản nghiên cứu  
Phân loại  
Rất nghèo  
Nghèo  
Khá giả  
1. Vầu  
Đất phân phối cho mỗi hộ (ha)  
Thành viên gia đình  
1,8  
4,4  
3,0  
3,9  
4,2  
7,5  
4,3  
Số hộ không được nhận đất rừng  
2. Nác  
Đất phân phối cho mỗi hộ (ha)  
Thành viên gia đình  
5,3  
5,4  
8,0  
11,9  
4,7  
16,8  
6,0  
Số hộ không được nhận đất rừng  
3. Pác Han  
Đất phân phối cho mỗi hộ (ha)  
Thành viên gia đình  
1,6  
4,3  
7,4  
5,8  
8,3  
4,8  
Số hộ không được nhận đất rừng  
18,0  
Nguồn: Tran Thi Thu Ha, 2007; điều tra thực địa, 2014.  
147  
Người nghèo luôn nhận được diện tích đất rừng ít hơn người khá  
giả (Bảng 4). Theo nguyên tắc, mỗi hộ gia đình được quyền áp dụng đối  
với diện tích đất lên đến giới hạn tối đa, tùy thuộc vào sự sẵn có của các  
nguồn tài nguyên đất đai trên địa bàn xã. Tuy nhiên, trong thực tế, hộ  
khá giả có tiền để trả phí cho giao đất, do đó có được đo giao nhiều đất  
hơn người nghèo trong quá trình giao đất. Thực tế, không phải tất cả  
các hộ gia đình đều nhận được đất rừng, điều này trái với những mong  
muốn của các cơ quan chính quyền địa phương. Rõ ràng, không phải  
mọi hộ gia đình đã được hưởng lợi từ cải cách đất đai của Chính phủ.  
Hơn nữa, những nỗ lực trong tránh tập trung hóa lâm nghiệp đã làm đảo  
ngược chính sách. Nhiều hộ gia đình nghèo ở thôn Nác đã bán bất hợp  
pháp quyền sử dụng đất của họ để lấy tiền mặt.  
Trong những thôn nghiên cứu, có diện tích rừng và đất rừng thuộc  
quy hoạch là rừng phòng hộ và đặc dụng, người dân nơi đây không  
nhận được bất kỳ quyền sử dụng đất lâm nghiệp, bởi Luật Đất đai  
không cho phép giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân. Vì  
vậy, họ tiếp tục tiếp cận đất rừng theo hình thức du canh, du cư bất hợp  
pháp và điều này khiến cho cuộc sống của họ có vấn đề. Đặc biệt, việc  
giao quyền sử dụng đất rừng với các quyền sử dụng đất đầy đủ theo  
Luật Đất đai chưa xảy ra trong các thôn bản nghiên cứu của Tây  
Nguyên, khiến các hộ gia đình không có quyền sử dụng đất và đồng  
nghĩa họ đang mất dần cơ hội tiếp cận tài nguyên rừng và đất rừng, bởi  
đất và rừng có thể được giao cho một chủ thể khác mà không phải là  
người dân tại chỗ.  
2.3. Vấn đề thể chế  
Phỏng vấn và khảo sát thực địa tại các điểm nghiên cứu cho  
thấy, có đến 80% số thửa đất rừng được đánh dấu trên bản đồ giao  
đất sai về vị trí và diện tích so với thực địa. Nguyên nhân chính của  
chất lượng kém trong việc đo giao đất là thiếu trách nhiệm nghề  
nghiệp và giám sát trong quá trình thực hiện giao đất. Các nhà quản  
lý có thể đã nhận thức được rằng chất lượng đo giao đất lâm nghiệp  
kém, nhưng vẫn cấp phép.  
Ở Tây Nguyên, giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình vẫn còn  
là một công việc đang được tiến hành vào thời điểm nghiên cứu các  
thôn bản điển hình ở đó. Tuy nhiên, giao đất rừng đã hầu như hoàn  
thành đối với những người mới nhập cư, bao gồm các công ty tư nhân,  
dẫn đến tình trạng thiếu đất canh tác cho người dân địa phương có thể  
trồng cây lương thực. Vì vậy, người dân địa phương phá nhiều rừng  
148  
hơn dẫn đến nhiều mâu thuẫn giữa người dân địa phương và các cơ  
quan chức năng phát sinh từ quá trình giao đất.  
2.4. Quản lý rừng  
2.4.1. Độ che phủ và chất lượng của rừng  
Các chính sách Đổi mới đã mang lại những tác động khác nhau về  
quản lý rừng ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Trước Đổi  
mới, hầu hết rừng khu vực miền núi phía Bắc đã bị phá để làm nương  
rẫy hoặc khai thác gỗ (cả hợp pháp và bất hợp pháp) và mức độ che  
phủ rừng là rất thấp, thậm chí có nơi xuống chỉ còn 9%. Sau những cải  
cách chính sách, độ che phủ rừng tăng lên đáng kể trong giai đoạn  
1995-2013, nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp ở tất cả các tỉnh  
nghiên cứu. Lý do chính là hầu hết các khu là rừng non và trong quá  
trình tái sinh, với sinh khối thấp. Diện tích rừng giàu và chất lượng  
trung bình là rất nhỏ (2,8% tại Bắc Kạn, 0,6% ở Thái Nguyên và 0,9%  
ở Cao Bằng). Ngược lại, các chính sách Đổi mới trong thực thi đã dẫn  
đến nạn phá rừng nghiêm trọng ở Tây Nguyên. Tại các tỉnh nghiên  
cứu, độ che phủ rừng giảm đi đáng kể trong giai đoạn từ năm 1995  
đến năm 2013, giảm 28,2% ở Đắk Lắk và 16,6% ở Đắk Nông (Bảng  
5). Trước Đổi mới, người dân địa phương ở Tây Nguyên canh tác ở  
trên những nương rẫy nhỏ trong các khu rừng và bỏ hoang đất từ 5  
đến 10 năm rồi quay lại canh tác tiếp. Sau khi Đổi mới, phần lớn các  
khu rừng, kể cả rừng nguyên sinh, đã bị xóa để trồng cây công nghiệp  
như cà phê, cao su và hạt tiêu. Ngày nay, những khu rừng nguyên sinh  
còn lại thuộc vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đang bị phá và  
khai thác trái phép do quản trị rừng yếu kém.  
Bảng 5. Độ che phủ của rừng thay đổi ở các tỉnh  
trước và sau Đổi mới  
Độ che phủ (%)  
Tỷ lệ che phủ tăng/giảm (%)  
Tỉnh  
1995 -  
2005  
2005 -  
2013  
1995 -  
2013  
1995  
2005  
2013  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
16,1  
24,0  
12,0  
62,0  
62,0  
41,4  
53,0  
47,3  
45,5  
56,4  
47,9  
70,8  
50,1  
45,6  
33,8  
+ 25,3  
+29,0  
+35,5  
- 16,5  
- 5,6  
+6,5  
+17,8  
+2,8  
+31,8  
+46,8  
+38,3  
- 16,6  
- 28,2  
Cao Bằng  
Đắk Lắk  
- 0,1  
Đắk Nông  
- 22,6  
Nguồn: GSO, 2000; MARD, 2006, 2014.  
149  
Ở một số thôn bản thuộc tỉnh Thái Nguyên, nơi đất rừng được  
giao cho hộ gia đình thuộc đối tượng là rừng sản xuất, nhiều rừng tái  
sinh và rừng nguyên sinh đã được thay thế bởi các trang trại trồng chè,  
hoặc trồng rừng. Tuy nhiên, chất lượng rừng trồng rất kém, vì chất  
lượng của cây giống thấp và kỹ thuật lâm sinh nghèo nàn. Nghiêm  
trọng hơn, hàng trăm ha rừng tự nhiên đạt sinh khối trung bình trở lên  
đã bị phá để trồng các loài phát triển nhanh như keo tai tượng, với chu  
kỳ canh tác ngắn chỉ 4-6 năm. Ngoài ra, nhiều thửa nhỏ của rừng tái  
sinh vẫn đang bị các hộ gia đình đốt phá để làm nương rẫy.  
Trong những thôn bản nghiên cứu thuộc đối tượng rừng phòng hộ  
và rừng đặc dụng, hầu hết là rừng núi đá vôi, có nhiều loài cây có giá  
trị kinh tế cao, đặc biệt là nghiến (Excentrodendron tonkinense). Hầu  
hết các cây lớn có giá trị cao đã được khai thác bất hợp pháp bằng các  
phương tiện khác nhau. Ví dụ, một cây lớn sẽ được lựa chọn bằng  
cách cắt qua vỏ tất cả các đường xung quanh cây và sau đó cây sẽ bị  
chết. Tại bản Cám và Khâu Qua, nhiều thửa trước đây dùng để canh  
tác nương rẫy trồng lúa nương, ngô, sắn bị tịch thu lại và đưa vào  
Vườn Quốc gia Ba Bể năm 1999 để tái sinh rừng và đã trở thành  
những rừng non, nhưng vẫn tiếp tục bị phá để canh tác nương rẫy.  
Thực tế điều tra cho thấy, các hộ gia đình đã được giao đất gần hoặc  
bên trong Vườn Quốc gia đã phá một diện tích nhỏ rừng hàng năm để  
tránh sự chú ý của kiểm lâm viên. Hoạt động của họ đã được đưa ra  
nhiều lần tại các cuộc họp thôn, nhưng các hộ gia đình này phớt lờ các  
yêu cầu từ các thành viên khác trong thôn và tiếp tục mở rộng diện  
tích canh tác của họ. Hơn nữa nhiều nơi, các khu vực canh tác nương  
rẫy mới đó không phải là do người dân sở tại, mà là người dân ở thôn  
bản khác sang xâm canh.  
Khai thác gỗ bất hợp pháp, bởi cả người trong và người ngoài, vẫn  
còn xảy ra ở hầu hết các thôn nghiên cứu các tỉnh miền núi phía Bắc  
với số lượng lớn, những cây có giá trị cao đã giảm về số lượng.  
Tương tự như vậy, ở hầu hết các thôn bản nghiên cứu ở Tây  
Nguyên, người dân vẫn tiếp cận rừng trái phép khi họ cần để xây dựng  
nhà mới. Những người khác thường xuyên khai thác trữ lượng gỗ quý  
trong vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên và bán gỗ bất hợp  
pháp. Mỗi năm, ít nhất là 2-3m3 gỗ bậc cao nhất bị mỗi hộ gia đình  
khai thác. Giá trung bình cho gỗ là khoảng 20 triệu đồng (941 USD)  
cho mỗi mét khối. Hầu hết các hộ trong các thôn nghiên cứu điểm cho  
biết, họ đều có thu thập từ lâm sản ngoài gỗ, chẳng hạn như măng  
mây, măng tre, cho cả tiêu thụ và đem bán.  
150  
2.4.2. Du cư, du canh và săn bắt  
Năm 1996, người H’Mông đã bắt đầu di chuyển từ khu vực miền  
núi phía Bắc để tái định cư ở Tây Nguyên, bởi chính sách cấm du canh,  
du cư, trong khi Tây Nguyên chưa thực thi chính sách này và họ hy  
vọng việc di chuyển này sẽ giúp cho họ tiếp tục thực hiện canh tác  
truyền thống. Săn bắt động vật hoang dã của người dân tộc H’Mông đã  
sớm trở thành một vấn đề lớn của Tây Nguyên. Theo các cuộc phỏng  
vấn trong thôn Ea Lang (đây là thôn được thành lập mới do di dân từ  
miền núi phía Bắc vào và họ chủ yếu là dân tộc H’Mông), khoảng 40  
trong số 141 hộ gia đình của thôn là thợ săn chuyên nghiệp dùng súng  
trong rừng. Họ bắn tất cả các loại động vật hoang dã, lớn hay nhỏ, bất  
cứ khi nào có cơ hội. Các thợ săn chuyên nghiệp cho biết, họ thu hàng  
trăm triệu đồng mỗi năm, ở một hoặc hai tuần trong rừng tại một thời  
điểm, sử dụng vũ khí tự tạo. Họ săn ở Vườn Quốc gia và bán thịt thú  
rừng vào ban đêm để tránh bị phát hiện. Các trưởng và già làng thôn Ea  
Lang cho biết, một số dân làng đã bắt đầu săn vì thiếu đất canh tác. Hầu  
hết trong số họ là thợ săn thường xuyên, do tập quán săn bắn từ lâu đời.  
2.4.3. Quản lý môi trường  
Tại khu vực miền núi phía Bắc, hầu hết các thôn nghiên cứu điểm  
chỉ ra rằng, các vấn đề xói mòn đất và thiếu nguồn nước đã được cải  
thiện trong thập kỷ qua. Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình ở nơi đây cho  
biết, sự phá bỏ rừng nguyên sinh để khai thác gỗ bất hợp pháp ở khu  
vực đầu nguồn đã dẫn đến các vấn đề như xói mòn đất, lũ lụt và tình  
trạng thiếu nước để trồng trọt.  
Ở Tây Nguyên, xói mòn đất, thiếu nguồn cung cấp nước, mất đa  
dạng sinh học, lũ lụt và hạn hán, sạt lở đất thường xuyên, ô nhiễm và  
các vấn đề khác đã trở nên nghiêm trọng hơn kể từ khi thực thi các  
chính sách Đổi mới. Hầu hết người dân địa phương nói rằng, suy thoái  
tài nguyên rừng và sử dụng quá nhiều phân bón và thuốc trừ sâu hóa  
học cho cây trồng công nghiệp dài ngày đã dẫn đến những tác động  
tiêu cực đến đời sống của người dân. Đất bị thoái hóa và năng suất cây  
trồng rất thấp, mặc dù đầu tư phân bón vô cơ rất nhiều. Lớp đất mặt  
đang bị mất đi với tốc độ trung bình khoảng 2-3 cm/năm. Trong năm  
2009, sản lượng sắn là giữa 12 và 14 tấn/ha. Đến năm 2014, sản lượng  
đó đã giảm xuống còn 7-8 tấn/ha, ngay cả sử dụng các loại phân bón  
đất vẫn trở nên kiệt sức và bắt buộc phải bỏ hoang sau bốn năm trồng  
sắn, thêm nữa là sự thiếu đất canh tác. Dịch bệnh do côn trùng gây  
hại, phổ biến nhất là sâu tấn công các loại cây trồng, xảy ra thường  
151  
xuyên và việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu đã gây ra ô nhiễm môi  
trường, ảnh hưởng đến không khí, nước và sức khỏe của cộng đồng.  
Lũ lụt và hạn hán gây mất mùa thường xuyên, nghèo đói và bệnh tật.  
Thực tế đói nghèo đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa và tinh  
thần của người dân, dẫn đến việc sử dụng đất không bền vững và các  
vấn đề xã hội trong giới trẻ.  
3. THẢO LUẬN  
3.1. Thu nhập đã tăng nhưng tỷ lệ nghèo đói vẫn còn khá cao  
Sự thay đổi từ canh tác nương rẫy truyền thống sang định canh đã  
dẫn đến sự gia tăng thu nhập trong các thôn bản được lựa chọn nghiên  
cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù thu nhập tăng lên, số  
lượng người nghèo trong các thôn bản nghiên cứu trong năm 2014 vẫn  
còn rất cao (lên đến 73% số hộ gia đình). Thu nhập của đa số chỉ cao  
hơn không đáng kể so với ngưỡng nghèo. Hầu hết thu nhập trong thôn  
thuộc về một số lượng nhỏ các gia đình khá giả. Do đó, các chính sách  
Đổi mới đã chỉ cải thiện thu nhập của hộ khá giả.  
Trước Đổi mới, có sự khác biệt nhỏ trong thu nhập của người dân  
trong thôn bản, nhưng khoảng cách thu nhập hiện tại lớn hơn nhiều.  
Lý do chính của việc này là những người khá giả có cơ hội lớn hơn để  
tiếp cận các nguồn lực để cải thiện thu nhập của họ. Là chủ sở hữu  
đất, họ chiếm ưu thế với khả năng nắm bắt những cơ hội mới từ quá  
trình Đổi mới, cũng như tiếp cận tốt hơn thị trường tự do, dẫn tới thu  
nhập của người dân khá giả đã tăng rất nhanh chóng.  
3.2. An ninh lương thực vẫn còn là một vấn đề  
Trước Đổi mới, hầu hết mọi người dân không có đủ gạo để đáp  
ứng nhu cầu ăn uống của họ. Kể từ khi Đổi mới, Việt Nam đã trở  
thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, an ninh  
lương thực vẫn là một vấn đề nghiêm trọng trong thôn bản nghiên  
cứu. Ở vùng núi, sự sẵn có của thực phẩm liên kết chặt chẽ với năng  
lực sản xuất của các hộ gia đình và mức độ tiếp cận thị trường. Trong  
khi thực phẩm có thể được mua bán, trao đổi trên thị trường, nhiều  
người dân vùng cao thiếu cả tiền mặt và hàng hóa để trao đổi. Trước  
chính sách Đổi mới, người dân địa phương có thể nuôi sống bản thân  
thông qua làm nương rẫy. Hiện nay, người dân vùng cao nhận thấy,  
khó có thể kiếm được đủ tiền để mua lương thực và thực phẩm, thuốc  
men chữa bệnh và không có sự lựa chọn ngoài việc trở về du canh,  
mặc dù trái pháp luật quy định.  
152  
3.3. Dòng tiền, giáo dục và tình trạng việc làm  
Tiếp cận tiền mặt không phải là một vấn đề quan trọng trước Đổi  
mới, vì sinh kế ít nhiều là tự cung tự cấp, phúc lợi và dịch vụ được  
Chính phủ cung cấp. Từ khi cải cách, Chính phủ đã ngừng trợ cấp cho  
các dịch vụ phúc lợi xã hội nhất định, chẳng hạn như phải đóng một  
phần học phí. Các nhu cầu của người dân vùng cao không giới hạn ở  
mức đáp ứng nhu cầu lương thực, họ cũng tìm cách cải thiện chất lượng  
cuộc sống, cải thiện giáo dục cho con cái của họ. Do đó, nhu cầu về tiền  
mặt của người dân vùng cao ngày càng tăng, song sự tích lũy của cải và  
đầu tư cho giáo dục cho con cái là hết sức khó khăn cho người nghèo.  
Ngoài ra, còn có một mối liên kết chặt chẽ giữa thu nhập, việc  
làm, giáo dục và quản lý tài nguyên rừng. Hầu hết người dân vùng cao  
là những người thuộc dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp. Họ ít  
tiếp cận với giáo dục, vì không có trường trung học ở các thôn bản xa  
xôi. Với việc không có bao cấp của Chính phủ, chỉ có trẻ em từ các  
gia đình khá giả mới có thể tiếp tục học. Những đứa trẻ lớn lên trong  
các thôn bản vùng cao không có một nền giáo dục tốt, chúng không  
thể cạnh tranh các công việc trong các khu vực đô thị và phải ở tại  
chỗ. Điều này đã dẫn đến dân số thôn bản tiếp tục cao hơn và gây áp  
lực lớn lên tài nguyên rừng hiện có.  
Nhu cầu ngày càng tăng về tiền mặt và thiếu việc làm là những lý  
do chính tại sao người dân vùng cao khai thác rừng và lấn chiếm đất  
rừng. Nếu trong quá khứ, người dân vùng cao phá rừng để làm nương  
rẫy, bây giờ họ đang đốn cây để bán hoặc phá rừng tái sinh để trồng  
cây công nghiệp dài ngày.  
3.4. Tính công bằng chưa cao trong phân bổ đất  
Có một số yếu tố góp phần vào những vi phạm trong phân phối đất  
đai tại các địa điểm nghiên cứu. Đầu tiên, giao đất rừng được thực hiện  
mà không có quy hoạch, kiểm tra việc sử dụng đất để đánh giá tác động  
việc giao đất giao rừng. Chính quyền địa phương và cán bộ chịu trách  
nhiệm về thực hiện giao đất không có hiểu biết tốt về các chính sách.  
Không giống như những người láng giềng khá giả, dân làng nghèo cũng  
không hiểu chính sách giao đất. Khi giao đất được thực hiện, rất nhiều  
hộ khá giả cố gắng để có được nhiều đất nhất có thể, trong khi người  
nghèo ngại nói lên ý kiến của họ. Thứ hai, việc giao đất tại hiện trường  
đã không tuân theo đúng quy định. Một số hộ gia đình có được một  
diện tích lớn đất rừng, lên đến hơn tối đa cho phép của pháp luật gấp ba  
lần. Những hộ gia đình này sử dụng tên gọi khác nhau của các thành  
viên gia đình, với sự hỗ trợ từ các cán bộ địa phương.  
153  
3.5. Vấn đề thể chế  
Đã có nhiều tranh chấp và vấn đề liên quan đến việc thực hiện  
chính sách giao đất lâm nghiệp, bao gồm ranh giới đất không rõ ràng  
hoặc có tranh chấp, bất bình đẳng về sở hữu đất đai và mất quyền tiếp  
cận. Những vấn đề này là do: (i) nguồn nhân lực hạn chế và kinh phí  
không đủ để quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia của các  
bên liên quan; (ii) sự thiếu minh bạch trong việc đánh giá và giám sát  
quá trình; và (iii) các cơ quan cấp trên quan tâm tới việc đạt được các  
mục tiêu được giao, nhưng bỏ qua các vấn đề, như năng lực đất đai, sự  
phù hợp và các quyền cần đáp ứng sinh kế bền vững của người dân  
địa phương. Sự thiếu minh bạch trong việc thực thi các chính sách Đổi  
mới của các cơ quan chính quyền địa phương là nguyên nhân của  
những kết quả không mong muốn của chính sách Đổi mới.  
3.6. Nguyên nhân phá rừng, trước và sau Đổi mới  
Nguyên nhân của tình trạng phá rừng, trước và sau Đổi mới, là  
khác nhau. Trước Đổi mới, nguyên nhân chính của tình trạng phá rừng  
là làm nương rẫy, khai thác gỗ, trồng cây công nghiệp, phát triển cơ sở  
hạ tầng và chiến tranh, dẫn đến sự gia tăng trong phá bỏ đất rừng để  
làm nương rẫy, vì “địa phương tự túc lương thực” là chính sách của  
Chính phủ trong chính sách kế hoạch hóa tập trung (1976-1986). Việc  
di cư và khai thác gỗ của các tổ chức Chính phủ và tư nhân cũng đóng  
góp đáng kể vào việc phá rừng trong giai đoạn này.  
Tỷ lệ phá rừng giảm sau Đổi mới cho thấy, ở khía cạnh nhất định,  
chính sách đã có một số thành công. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng  
vẫn còn xảy ra ở giai đoạn sau Đổi mới, đặc biệt là ở Tây Nguyên.  
Nhưng nguyên nhân khác nhau sau Đổi mới so với những năm trước  
cải cách. Tại các khu vực rừng sản xuất đã được phân bổ cho các hộ  
gia đình, một khu vực rộng lớn rừng tái sinh tự nhiên đã được giải tỏa  
để trồng cây công nghiệp dài ngày. Trong rừng phòng hộ, rừng đặc  
dụng, nạn phá rừng đã dẫn đến nạn khai thác gỗ trái phép và lấn chiếm  
đất rừng để canh tác vì an ninh lương thực. Quản lý yếu kém ở các  
khu rừng Tây Nguyên đã dẫn đến việc phá rừng nguyên sinh để trồng  
cây công nghiệp, như cà phê và cao su. Những cánh rừng có chất  
lượng trung bình và cao, với mức độ đa dạng cao và có nhiều loài có  
giá trị cao, liên tục bị khai thác trái phép và săn bắn động vật hoang  
dã. Hầu hết các loại gỗ có giá trị cao trong các khu rừng bảo tồn thiên  
nhiên đã bị khai thác trái phép. Những mất mát của rừng tự nhiên và  
việc khai thác các khu rừng còn lại đồng nghĩa với đa dạng sinh học  
đang dần bị mất đi. Ngoài ra, sự thay đổi của hệ thống tự nhiên cũng  
do sự thay đổi tiêu cực của hệ sinh thái nhân văn tại Việt Nam.  
154  
KẾT LUẬN  
+Về tác động của chính sách Đổi mới đến cộng đồng vùng cao:  
Quá trình Đổi mới ở vùng cao nước ta vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các  
mục tiêu của Chính phủ trong việc cải thiện sinh kế địa phương và  
quản lý rừng bền vững. Cuộc sống của hầu hết người dân khá giả đã  
được cải thiện, do các hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp được  
mở rộng với canh tác thâm canh, nhưng điều này đã không đúng đối  
với những người nghèo. Phần lớn các hộ gia đình nghèo vẫn phải đối  
mặt với tình trạng thiếu lương thực trong nhiều tháng trong mỗi năm  
và bị thiệt thòi bởi mức độ thấp về giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp cao, cơ  
sở hạ tầng kém và dịch vụ của Chính phủ nghèo nàn. Thiếu đất canh  
tác và thiếu kinh nghiệm, kiến thức về kỹ thuật sản xuất cây trồng  
mới cũng là nguyên nhân góp phần vào tỷ lệ đói nghèo cao. Tính  
công bằng chưa cao trong cả giao quyền sử dụng đất và quyền tiếp  
cận tài nguyên, đã dẫn đến một khoảng cách giữa người khá giả và  
người nghèo.  
+Về tác động của chính sách Đổi mới đến quản lý rừng: Rừng và  
đất rừng chưa được quản lý một cách bền vững. Mức độ che phủ của  
rừng tăng lên đáng kể trong những năm sau Đổi mới, nhưng chất  
lượng của cả rừng trồng mới và rừng hiện có là rất thấp và rừng vẫn  
còn chịu áp lực từ khai thác gỗ bất hợp pháp và việc chuyển đổi mục  
đích sử dụng không bền vững. Ở Tây Nguyên, quản lý rừng chưa đạt  
được mục tiêu, do hầu hết các khu rừng nguyên sinh, với giá trị kinh  
tế cao và môi trường tốt, đã bị phá hủy sau Đổi mới. Những khu rừng  
nguyên sinh còn lại đang đối mặt với việc phá rừng.  
Vấn đề quản trị vẫn là một trở ngại cho khả năng của Đổi mới để  
đạt được quản lý rừng bền vững ở miền núi. Dịch vụ không đầy đủ và  
tính minh bạch chưa cao trong hoạt động của chính quyền địa phương  
là vấn đề lớn đối với việc thực hiện chính sách Đổi mới. Do đó, việc  
phân cấp hơn nữa trong quản lý rừng theo các cải cách chính sách Đổi  
mới là một vấn đề cần được xem xét cẩn thận.  
+Về ý nghĩa của bài báo nhìn từ góc độ của hệ sinh thái nhân  
văn: Với những kết quả đã đạt được, bài báo được xem như một  
nghiên cứu điểm, nhằm tạo cơ sở cho việc điều chỉnh những tác động  
vào hệ thống kinh tế - xã hội và tài nguyên rừng phù hợp với hệ sinh  
thái nhân văn ở vùng cao Việt Nam. Dựa trên tiếp cận hệ sinh thái  
nhân văn, tức là hệ thống tương tác của các yếu tố tự nhiên, kinh tế -  
155  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 22 trang Thùy Anh 15640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chính sách đổi mới của Việt Nam: Tác động tới cộng đồng vùng cao và quản lý rừng bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_doi_moi_cua_viet_nam_tac_dong_toi_cong_dong_vung.pdf