Biến động kiến thức bản địa của người thái trong canh tác đất dốc ở vùng ven Thành phố Sơn La

BIẾN ĐỘNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI  
THÁI TRONG CANH TÁC ĐÂT DÔ  
VÙNG VEN THÀNH PHÔ SƠN LA  
́
́C  
Ơ
̉
́
Nguyễn Thị Hồng Viên  
Khoa Khoa học Môi trường và Trái đất,  
Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên  
Tóm tắt  
Dân tộc Thái đã định cư tập trung ở vùng núi Tây Bắc từ khoảng thế  
kỷ XVIII, hình thành “vùng Thái” gồm 16 mường, phân bố tại các tỉnh  
Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình. Dân tộc Thái có truyền thống canh  
tác nông nghiệp lâu đời, hình thành và tích lũy được những tri thức  
bản địa có giá trị, nhất là trong quản lý, bảo vệ hiệu quả đất dốc. Quá  
trình đô thị hóa ở vùng ven thành phố Sơn La diễn ra một cách mạnh  
mẽ từ khi thị xã Sơn La được thành lập (năm 2005), đã gây ra nhiều  
thay đổi lớn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Thái,  
đặc biệt là những biến động trong canh tác đất dốc, gây tác động theo  
hướng bất lợi, làm mai một, mất dần những kiến thức truyền thống mà  
những chương trình, dự án phát triển nông thôn chưa tính đến.  
Nghiên cứu này đã thu thập hệ thống kiến thức bản địa của người  
Thái trong canh tác đất dốc ở Sơn La. Nghiên cứu cũng phân tích  
những ưu điểm của hệ kinh nghiệm truyền thống này đối với quản lý,  
sử dụng bền vững tài nguyên đất, nước. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu  
đã làm rõ được những biến động kiến thức bản địa của người Thái  
trong canh tác đất dốc ở vùng ven thành phố Sơn La trong quá trình  
đô thị hóa.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Dân tộc Thái đã định cư tập trung ở vùng núi Tây Bắc từ khoảng  
thế kỷ XVIII, hình thành “vùng Thái”, với hệ thống 16 mường nằm tại  
các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình. Người Thái thường chọn định  
cư trong các thung lũng, sống phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên, dung  
hòa với thiên nhiên và đã tích lũy được hệ thống kiến thức truyền  
thống phong phú, đa dạng.  
222  
Quá trình đô thị hóa hiện nay đã kéo theo nhiều thay đổi lớn trong  
cuộc sống hàng ngày của cư dân địa phương, trong đó có cộng đồng  
dân tộc Thái. Văn hóa truyền thống bị đe dọa mai một, tri thức bản địa  
canh tác đất dốc và kinh nghiệm sản xuất truyền thống phù hợp với  
điều kiện địa phương bị mất dần. Điều này đã được nhận diện rõ khi  
một số dự án phát triển cộng đồng không đạt được kết quả kỳ vọng, do  
kiến thức bản địa truyền thống của cộng đồng liên quan đến sản xuất  
nông lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng đã bị bỏ  
qua trong quá trình thực hiện dự án.  
Để đánh giá được hiện trạng và hệ quả của sự biến động hệ thống  
kiến thức này trong quá trình đô thị hóa thành phố Sơn La, tác giả đã  
thực hiện nghiên cứu “Biến động kiến thức bản địa của người Thái  
trong canh tác đất dốc ở vùng ven thành phố Sơn La”.  
1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp  
Nghiên cứu đã thu thập được các tài liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên  
và Môi trường tỉnh Sơn La, Thư viện tỉnh Sơn La, ủy ban nhân dân  
các phường nghiên cứu, các nhà dân tộc học nghiên cứu về dân tộc  
Thái... Quá trình thu thập tài liệu thứ cấp được định hướng chủ yếu  
vào các lĩnh vực là kiến thức bản địa, văn hóa Thái ở Việt Nam, kinh  
nghiệm canh tác bền vững trên đất dốc của cộng đồng. Trên cơ sở đó,  
tác giả đã tiến hành phân tích, tổng hợp và chọn lọc thông tin phù hợp  
để xây dựng kế hoạch nghiên cứu, soạn bộ khung các câu hỏi mở,  
phục vụ cho việc phỏng vấn trực tiếp các nông hộ.  
1.2. Phương pháp điều tra thực địa đánh giá nhanh nông thôn  
Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật điều tra chính là quan sát và  
phỏng vấn.  
Phỏng vấn được thực hiện với bộ khung câu hỏi mở được chuẩn  
bị trước và các câu hỏi phát sinh trong quá trình quan sát. Tổng  
cộng đã thực hiện phỏng vấn được 100 hộ, tại 5 phường: Chiềng  
An, Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Đen và Chiềng Xôm. Đây là  
các phường nằm ven thành phố Sơn La. Mỗi phường điều tra tại 2  
bản, mỗi bản phỏng vấn 10 hộ. Tiêu chí chọn hộ phỏng vấn là có  
người cao tuổi, hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.  
Việc lựa chọn này được thực hiện trên cơ sở có sự giúp đỡ của các  
cán bộ địa phương.  
223  
Nội dung phỏng vấn tập trung vào kiến thức bản địa của người Thái  
trong chọn đất, canh tác (tiêu chí chọn đất, những đặc điểm của đất, cách  
xử lý để làm tăng chất lượng đất, loại cây trồng, công cụ canh tác phù  
hợp, những tín ngưỡng liên quan đến các hoạt động trồng trọt...), nông  
lâm kết hợp và trao đổi hàng hóa (kỹ thuật xen canh, các sản phẩm nông  
lâm nghiệp chính và trao đổi trên thị trường), tài nguyên chung (đặc biệt  
chú ý đến những nguyên tắc của cộng đồng trong sử dụng các nguồn tài  
nguyên chung), các vấn đề tồn tại và hướng giải quyết...  
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
2.1. Một số đặc điểm văn hóa của cộng đồng người Thái ở Sơn La  
Dân tộc Thái có truyền thống định cư tại các thung lũng có dòng  
chảy, hình thành lối sống văn hóa vừa dựa vào trồng lúa, vừa săn bắt,  
hái lượm, khai thác tài nguyên của núi rừng và đánh cá ở sông suối.  
Người Thái đã tạo lập được hệ sinh thái nhân văn của mình khá hoàn  
hảo. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên vừa đảm bảo nhu cầu cuộc  
sống hàng ngày của cộng đồng, vừa đảm bảo sự tái tạo tài nguyên.  
Toàn bộ đất tự nhiên của bản, mường theo truyền thống được chia  
thành 6 phần (Vi Trọng Liên, 2002):  
+Sông suối cung cấp nước sinh hoạt, nguồn tạo mương phai, lái,  
lín (hệ thống thủy lợi của người Thái), nguồn cung cấp thủy sản, nơi  
trú ngụ của thần chủ nước (chảu nặm).  
+Các khu rừng thiêng (đông căm) của bản, trung tâm mường,  
tuyệt đối không được chặt phá, đốt. Đây được quy định là nơi cúng tế  
thần chủ đất và nước.  
+Các khu rừng săn (đon húa) cấm đốt, phá để thú rừng lui  
tới kiếm ăn, bắt mồi. Đây là nơi bản mường tổ chức săn gióng (săn  
tập thể).  
+Rừng lấy cây (pá téng au mạy) dành cho việc khai thác nguyên  
vật liệu xây dựng.  
+Rừng măng cấm (pá nó hẳm) dành cho việc hái măng, rau, mở  
ngày hội hái lượm theo định kỳ.  
+Đất nương (đin hay) dành cho các gia đình thành viên bản  
mường làm nương rẫy.  
Trong ba hoạt động săn bắt, hái lượm, đánh cá, hái lượm có phạm  
vi lớn nhất. Đây là công việc của phụ nữ và trẻ em. Những sản phẩm  
224  
thu lượm bao gồm các loài thực vật ăn được, các loài côn trùng ở dạng  
trứng, sâu, nhộng và con, các loài ếch nhái, tôm tép, cá con... Hoạt  
động săn bắt truyền thống là nguồn cung cấp thức ăn thịt quan trọng.  
Tại 5 phường nghiên cứu, người trả lời phỏng vấn cho biết, các con  
vật thường được săn bắt là hoẵng, lợn rừng, hươu, nai, gà rừng, nhím,  
sóc, khỉ. Khi đi săn kiểu cá nhân (pay qua pá - đi thăm rừng), người  
Thái dùng nỏ, giáo, mác, súng hoặc đặt cạm bẫy, gióng, chăng lưới.  
Đi săn tập thể (săn gióng) được tiến hành ở các đon húa dưới sự điều  
khiển của thầy săn, với việc dân bản được chia thành 2 nhóm, một  
nhóm thiện xạ và còn lại là nhóm có đủ đàn ông, đàn bà, trẻ em  
chuyên kêu đuổi thú. Thú săn được một phần cắt nộp lên quan mường,  
còn lại chia đều cho mọi thành viên trong cuộc săn.  
Đối với việc đánh bắt thủy sản, một mặt văn hóa truyền thống của  
người Thái đề cao các giá trị kinh nghiệm và kỹ năng khai thác nguồn  
lợi thủy sản, đặt rõ chuẩn trưởng thành, đủ độ để kết hôn là “gái biết dệt  
vải, trai biết đan chài” (nhĩnh hụ dệt vải, chải hụ xan he). Mặt khác để  
đảm bảo khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản, luật mường quy định  
cấm đánh bắt cá tại những đoạn sông suối sâu, rộng, cây cối hai bên  
rậm rạp trong 1-3 năm, sau đó đến kỳ hạn người đứng đầu mường cho  
phép hội “phá cá vũng cấm” (phá pa văng hảm), nam giới cùng đến  
đánh bắt. Cá lớn được thu lại trả về tự nhiên tiếp tục sinh sản. Việc khai  
thác thiên nhiên vừa đảm bảo nhu cầu cuộc sống hàng ngày của cộng  
đồng, vừa đảm bảo sự tái tạo tài nguyên (Cầm Trọng, 2005).  
Người Thái nuôi quy mô gia đình các con vật như trâu, bò, lợn,  
chó, dê, gà, vịt... thả rông trong rừng hoặc để tại bãi chăn thả  
chung. Phương pháp này rất phù hợp khi dân số còn thưa thớt, đất  
trồng trọt còn rộng rãi, cây cỏ trong vùng hoang sơ còn nhiều. Sản  
phẩm nuôi được dùng để lấy thịt ăn, tiếp khách, cúng tế, dựng nhà,  
cưới xin, đãi người giúp làm ruộng nương..., hoặc dùng làm vật  
trao đổi trong bản, mường.  
Ngày nay, do nhiều nguyên nhân, mà quan trọng nhất là dân số  
tăng, rừng đã suy giảm mạnh về số lượng và chất lượng, các hoạt động  
khai thác tài nguyên của người Thái đã thay đổi về cơ bản. Các lễ hội  
truyền thống như “phá cá vũng cấm” hay hội săn tập thể... không còn.  
Việc đánh bắt thủy sản tự nhiên còn rất ít. Do ảnh hưởng của suy giảm  
rừng, một số nguồn nước cạn kiệt, hoặc thời gian cạn nước trong năm  
kéo dài hơn, một số sông, suối ô nhiễm, nạn nổ mìn, dùng phương tiện  
xung điện, hóa chất để đánh bắt đã tiêu diệt các nguồn lợi thu được từ  
các dòng chảy tự nhiên. Cá được chuyển vào nuôi trong ao, hồ trong  
225  
mô hình VAC hoặc VACR. Đây cũng là một hướng trong hoạt động  
kinh tế đang được người Thái chú ý hiện nay.  
Việc chăn nuôi thả rông đã bị quản lý chặt chẽ, không còn tình  
trạng gia súc, gia cầm thả vào tự nhiên như trước. Một số gia đình  
áp dụng mô hình VACR, chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê với số  
lượng lớn, biến khu đất rừng, nương của mình thành trang trại, có  
thu nhập khá cao.  
Riêng hoạt động hái lượm vẫn được duy trì. Không chỉ phục vụ  
bữa ăn hàng ngày, các thứ thu hái được còn là hàng hóa trao đổi trên  
thị trường: măng, rau, hoa, quả, cây rừng, côn trùng... Người Thái ở  
thành phố Sơn La có nhiều đặc sản rừng rất được ưa chuộng như:  
măng lay chấm mắm hén (mẳm hén), nhộng ong bò vẽ đồ chín ăn với  
cơm xôi, sâu chít, ong đất để ngâm rượu...  
Cuộc sống hàng ngày của người Thái đã dần thoát khỏi tình trạng  
phụ thuộc vào tự nhiên, mau chóng thích nghi với cơ chế thị trường.  
Các hoạt động khai thác thiên nhiên không còn phù hợp hầu như đã bị  
xóa bỏ. Tuy nhiên, cuộc sống của một bộ phận người dân vẫn phụ  
thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách trực tiếp hay  
gián tiếp. Đó có thể là nguồn thu từ bán các sản phẩm thu lượm được  
từ rừng (hoa lan, các con thú nhỏ, côn trùng: ong, sâu...), hoặc ngô,  
lúa trên nương - những nông sản chủ yếu trông chờ vào thời tiết trong  
điều kiện đất đai bị xói mòn, bạc màu như hiện nay.  
2.2. Kiến thức bản địa của người Thái ở vùng ven thành phố Sơn  
La trong canh tác đất dốc  
Khi dân cư còn thưa thớt, diện tích rừng còn nhiều, người Thái  
hầu như không canh tác vườn, rừng. Rừng được coi là sở hữu chung  
của bản, mường, là kho chứa vạn năng, với nguồn cung cấp gỗ, củi,  
rau, măng, thực phẩm dồi dào.  
Hiện nay, trồng, chăm sóc rừng trở thành một phần quan trọng  
trong hoạt động kinh tế, bên cạnh đó còn có vườn tược. Với hệ thống  
kinh nghiệm truyền thống, người Thái đã áp dụng vào nhiều hệ canh  
tác với nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, ba hệ canh tác chủ  
yếu được duy trì hiện nay là nương rẫy, vườn và trang trại.  
Mặc dù trồng lúa nước là hoạt động kinh tế chủ đạo, nương vẫn có  
tầm quan trọng không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực cho  
người, thức ăn chăn nuôi, rau màu cho đời sống hàng ngày và nguyên  
liệu cho hoạt động thủ công gia đình trong cộng đồng người Thái. Hệ  
226  
canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày  
của người Thái nói riêng và cộng đồng các dân tộc khác nói chung.  
Đặc biệt, Sơn La lại là một tỉnh miền núi có địa hình chia cắt mạnh,  
tại thành phố Sơn La thế đất dốc dưới 25o chiếm tỷ lệ thấp (25%).  
Người Thái có trình độ trồng trọt cao hơn các dân tộc khác trong  
vùng, thực hiện chuyên canh, đa canh trên nương khá thuần thục.  
Những loại cây không trồng dưới ruộng được như khoai sọ, bầu, bí,  
ngô, sắn, bông, chàm, lạc, vừng... đều được đưa lên nương. Đặc biệt,  
cây bông, cây dâu tằm được trồng trên nương có ý nghĩa quan trọng  
trong giải quyết nhu cầu may mặc từ xưa đến nay. Hệ canh tác nương  
rẫy được chia thành các hệ nhỏ hơn, phụ thuộc vào chất lượng đất  
(Cầm Trọng, 1975):  
- Nương lúa trồng xen dưa bở, vừng, lạc, bầu, bí, khoai sọ.  
- Nương ngô trồng xen đậu, bầu, bí...  
- Nương kê trồng xen vừng, mạch và những khoảnh lạc.  
- Nương bông trồng xen dưa.  
- Nương sắn trồng xen ngô ngắn ngày.  
- Nương chàm trồng xen trên nương lúa...  
Các loại nương trồng lúa phải chọn loại đất tốt, màu mỡ. Đây là  
các nương mới phát đốt, đất còn giàu chất dinh dưỡng. Các loại nương  
ngô, khoai, sắn... thường ở nơi đất xấu hơn, qua 1 hoặc 2 vụ trồng lúa  
hoặc ngô.  
Người Thái nhận thức được nhiều loại đất khác nhau dựa vào chỉ  
thị thực vật, màu sắc, độ ẩm của đất... Theo tập quán, khi chọn được  
nơi để làm nương, họ đan ta leo cắm để đánh dấu chiếm hữu. Thông  
tin thu thập từ 100 hộ được phỏng vấn tại 5 phường Chiềng An,  
Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Cơi và Chiềng Đen cho biết: kinh  
nghiệm truyền thống của người Thái trong chọn địa điểm làm nương  
là chọn các khu vực rừng tốt, cây to, cỏ mọc dày, đất không quá dốc  
đứng. Một số hộ chọn đất làm nương theo tiêu chí: phía trên khoảnh  
đất chọn làm nương có rừng nhiều cây, tốt nhất là cây to, phía trên dốc  
đứng, để mưa chảy trôi đất ở trên xuống nương nhà mình, giúp nương  
thêm màu mỡ. Tránh khoảnh đất có nhiều cỏ tranh, cỏ chó đẻ, vì đây  
là các khoảnh đất xấu, “khó làm ăn”, “trồng không được ăn”. Một số  
hộ khác được phỏng vấn cho biết, kinh nghiệm chọn nương phụ thuộc  
vào đất, nếu đất có nhiều cát, sỏi thì không chọn, mà chọn loại đất có  
màu đen, “đất nhiều thịt”, không chọn vùng núi đá. Người chọn địa  
điểm làm nương thường là đàn ông.  
227  
Kết quả điều tra cho thấy, tiêu chí chung khi chọn đất làm nương  
thường là:  
- Mặt đất tương đối bằng phẳng (hơn các khu vực xung quanh).  
- Khu vực có nhiều cây, đặc biệt cây to.  
- Đất màu đen, ít có cát sỏi.  
- Tránh khoảnh đất nhiều cỏ tranh, cát, sỏi, vùng núi đá.  
Thời điểm bắt đầu phát nương bắt đầu vào khoảng tháng 2 dương  
lịch (tháng 7 lịch Thái). Nương phát xong được ủ trong khoảng 1  
tháng cho cây khô (bốm chá - công đoạn ủ nương). Sau khi ủ vào  
tháng 3 dương lịch (tháng 8 lịch Thái), trời khô, nóng, người dân bắt  
đầu đốt cây cỏ và dọn nương. Người Thái có kinh nghiệm chống cháy  
lan ra xung quanh bằng cách tạo vành đai không có cây cỏ xung quanh  
mảnh nương (quẹn hạy). Sau khi đốt, tro than được tãi đều khắp  
nương. Đến tháng 4, 5 dương lịch, bắt đầu vào mùa mưa ở Tây Bắc,  
người Thái bắt đầu mùa gieo hạt. 90% số hộ được phỏng vấn cho biết  
bắt đầu gieo hạt vào cuối tháng 4 (dương lịch). Kỹ thuật gieo hạt là  
chọc lỗ, tra hạt. Nam giới đi trước chọc lỗ, phụ nữ đi sau tra hạt, lấp  
đất. Thông tin thu thập được qua điều tra giải thích nguyên nhân của  
cách làm này như sau: đây là cách làm chống lãng phí, tránh chim, sóc  
ăn hạt, tiết kiệm lao động, không phải mất công tỉa bớt cây con đi, vừa  
để đảm bảo cây đủ khoảng cách xa nhau để sinh trưởng. Thông  
thường, mật độ chọc lỗ, tra hạt là 25-30 lỗ/m2, mỗi lỗ 5-6 hạt.  
Khi cây cao khoảng 20 cm, các hộ gia đình bắt đầu làm cỏ, cuốc  
xới nhẹ. Trong điều kiện canh tác trên thế đất dốc như vậy, đây là biện  
pháp hữu hiệu, đảm bảo đất không bị trôi khi có mưa lớn. Cây được  
“trồng theo hàng ngang” (trồng theo đường đồng mức theo ngôn ngữ  
hiện nay), cỏ tập trung thành băng ngang, có vai trò như đường băng  
cản nước, chống xói mòn khi mưa xuống. Tùy theo nương mà tiến  
hành làm cỏ 2-3 lần. Để tránh muông thú phá hoại, người Thái làm  
hàng rào theo hai cách: rào sàn (hụa san) chắc khỏe đối với nương  
dốc, rào có đòn tay (hụa hao) với nương bằng.  
Lịch thời vụ được người Thái tuân thủ nghiêm ngặt. Đốt nương  
muộn quá sẽ gặp mưa, đốt sớm quá thì cây cỏ mọc kín trước khi tra  
hạt (vào mùa mưa). Tra hạt không đúng thời điểm thì không kịp trời  
mưa, nên cây mọc kém, năng suất thấp. Người Thái cho rằng, làm cỏ  
vào lúc trời nắng thì cây cỏ mới bị tiêu diệt triệt để, đất chóng khô,  
thoáng khí, khi mưa xuống, cây trồng sinh trưởng tốt hơn. Họ không  
sử dụng phân bón hoặc thuốc trừ dịch bệnh trong quá trình canh tác  
228  
nương rẫy. Tất cả phụ thuộc vào thiên nhiên, “thuận trời thì được ăn”,  
“trời không cho thì phải đói”.  
Công cụ thu hoạch lúa, ngô, hoa màu trên nương của người Thái  
là dao, nhíp, liềm, néo bằng tay và các công cụ rất đơn giản như một  
ống tre nhỏ bằng đầu ngón tay, chặt chéo một đầu tạo độ nhọn... Với  
tất cả các cây trồng trên nương, việc thu hoạch chỉ tập trung vào các  
sản phẩm chính: hạt lúa, bắp ngô, quả đậu, bí, bầu... Các phần phụ còn  
lại để lại nương, bao gồm tất cả rơm, rạ, thân, rễ, lá, thậm chí bẹ ngô  
cũng được bóc để lại nương, một phần do nương xa nhà, đường khó  
đi, khó vận chuyển về. Ngoài ra, còn có một nguyên nhân quan trọng  
hơn lý giải điều này: người Thái để các sản phẩm phụ lại để bảo vệ  
đất, “để đất không bị trôi đi”. Kinh nghiệm truyền thống cho thấy, làm  
như vậy đất sẽ được bảo vệ tốt hơn, qua mùa sau đất không bị kém so  
với đất để trần, không có gì che phủ. Đây là một cách giữ gìn đất khá  
hiệu quả của người Thái trong điều kiện canh tác nương rẫy trên đất  
dốc, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, tự nhiên.  
Trong quá trình sử dụng hệ canh tác nương rẫy, người Thái có  
nhiều cách xen canh, luân canh, mục tiêu là không lãng phí đất, tăng  
các sản phẩm thu được và tận dụng đất (đất xấu không trồng được lúa  
thì không bỏ đi mà trồng ngô, sắn...).  
Người Thái luân canh cây trồng theo hướng: lúa, ngô, sắn, bông.  
Nghĩa là đất trồng lúa bao giờ cũng là loại đất tốt nhất. Khoảnh nương  
mới phát đốt, đất còn tốt được ưu tiên trồng lúa vào vụ đầu tiên (vụ 1-  
lao). Một số được trồng ngô nếu đất kém hơn. Sau đó, khi chất lượng  
đất đã giảm, do mưa xói mòn, do đất không được bổ sung thêm các  
chất dinh dưỡng..., nương được chuyển sang trồng ngô, sắn, bông,  
chàm... Họ cho rằng, các hoạt động đảo bới tầng đất do thu hoạch sắn  
làm đất thoáng khí, cỏ dại sẽ ít hơn. Tuy nhiên, theo truyền thống,  
người Thái chỉ luân canh cây trồng trong vòng 3 năm, được gọi tên  
thành 3 vụ: lao, lộc, lựm. Sau 3 năm, hoặc có thể một số hộ để 4 đến 5  
năm, đất nương được bỏ hóa để tự phục hồi. Các khoảng nương này  
đã được công nhận là có chủ, nên không ai trong bản, mường tranh sử  
dụng khi đến thời gian canh tác lại, dù chưa có người đến canh tác.  
Thời gian bỏ hóa thấp nhất là 3 năm, cao nhất là 15 năm.  
Tùy theo nương mà người Thái trồng xen canh như đã nói ở trên.  
Ngoài ra, trong quá trình canh tác, nếu cây trồng chính mọc quá thưa,  
không đều, các loại cây khác sẽ được trồng xen vào những chỗ trống.  
Người Thái đặc biệt đã biết chú ý đến đặc tính sinh trưởng của cây  
trồng để chọn cây xen canh thích hợp. Cây lúa, cây ngô khi lớn sẽ  
229  
vươn cao được trồng xen dưa, bầu, bí, đậu sống bò ngang mặt đất...  
Cách làm này đảm bảo đất được che phủ kỹ hơn, giảm xói mòn đất do  
mưa, lũ, đồng thời có thể cải tạo đất, tạo thêm nguồn thức ăn cho  
người, gia súc trong mùa khô.  
Hệ canh tác nương rẫy tuy đã phức tạp, thành phần loài đa dạng  
hơn so với hệ canh tác lúa nước, nhưng cũng vẫn rất đơn giản, từ  
thành phần loài, đến mối quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh,  
với tính chất phụ thuộc vào thiên nhiên là chủ yếu.  
Người Thái có câu tục ngữ: “Miếng cơm ở nơi đất, miếng ăn ở  
trong rừng” (căm khảu đú nẳng đin, căm kin đú nẳng pá), nghĩa là các  
nguồn lương thực khác, đặc biệt là thực phẩm, đều trông chờ vào  
rừng. Hoạt động hái lượm vẫn được duy trì đến ngày nay ở mức độ  
thấp hơn. Như đã phân tích ở trên, hoạt động hái lượm cung cấp đủ  
nhu cầu cần thiết cho bữa ăn hàng ngày của người Thái: rau, măng,  
thịt... Vì vậy, vườn không phải là một đối tượng canh tác quan trọng.  
Hiểu theo nghĩa vườn nhà - khoảng đất xung quanh một hộ gia  
đình, vườn của người Thái được làm theo kiểu nửa tự nhiên. Do đặc  
điểm chọn nơi ở, xung quanh nhà người Thái bao giờ cũng có sẵn một  
diện tích rộng, nhiều cây cối. “Khu vườn” này có tác dụng là lá chắn  
mưa, bão, giảm tác động thiên tai, lũ lụt, đặc biệt là lũ quét, hơn là  
nguồn cung cấp các nhu cầu cuộc sống hàng ngày, mà cụ thể là rau ăn  
như ở người Kinh. Vì vậy, người Thái rất chú ý duy trì cây cối quanh  
nhà, đặc biệt những cây lâu năm, cây lớn. Đây là một cách bảo vệ đất  
khá hữu hiệu. Trong quá trình tiếp xúc với tự nhiên, nhiều loại cây  
cũng được mang về trồng gần nhà, chủ yếu là cây ăn quả, như nhãn  
rừng, dâu gia, chuối...  
Cuộc sống cư dân Thái gắn bó với tự nhiên. Tre, nứa là một trong  
những loài cây gắn bó với gia đình Thái, có mặt trong hầu hết sinh  
hoạt hàng ngày. Thân cây dùng làm sàn nhà, các vật dụng cần thiết, từ  
bàn, ghế, rổ, rá... đến chiếc nôi của trẻ nằm. Măng là món ăn truyền  
thống cho đến ngày nay. Trong mâm cơm của người Thái, hầu như  
không khi nào thiếu loại “rau” này. Người Thái duy trì các loài tre,  
nứa trong vườn như một nguồn cung cấp đa dạng cho cuộc sống.  
Ngoài ra, vườn còn là “nơi ở” của gia súc, gia cầm. Một phần do  
cách chăn nuôi theo truyền thống là thả rông, nên vườn của người  
Thái ít được chú ý trồng nhiều loài cây, nhất là cây rau ăn, vì sợ các  
con vật nuôi phá.  
230  
Khác với “vườn nhà”, “vườn - rừng” gắn với đời sống dân cư  
Thái hơn, dù trên thực tế trước kia, khái niệm “vườn - rừng” này  
không tồn tại trong cộng đồng. Hiểu theo nghĩa vườn là nơi cung cấp  
thêm các thức ăn hàng ngày (trong cuộc sống người Kinh, vườn cung  
cấp rau, vườn là nơi thả gia cầm, làm chuồng nuôi gia súc, thậm chí  
tiếp nhận, đồng hóa chất thải...), thì rừng là khu vườn vạn năng của  
cộng đồng cư dân Thái. “Vườn - rừng” được bảo vệ, sử dụng như một  
nguồn tài nguyên chung của cộng đồng, vì vậy, nó được duy trì qua rất  
nhiều thế hệ: rừng săn tập thể, rừng lấy măng, nấm... Trong quá trình  
đô thị hóa thành phố Sơn La, khái niệm “vườn - rừng” đang dần phổ  
biến trong cộng đồng, gắn với hệ canh tác Vườn - Ao - Chuồng -  
Rừng (VACP) sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần sau - Biến động  
kiến thức bản địa trong quá trình đô thị hóa thành phố - của đề tài.  
Người Thái ở thị xã Sơn La đã tạo lập được hệ sinh thái nhân  
văn của mình khá hoàn hảo. Hệ canh tác nương rẫy đóng vai trò  
quan trọng trong đời sống hàng ngày của họ. Các hệ canh tác này  
hoàn toàn phù hợp với điều kiện môi trường, kinh tế - xã hội của  
cộng đồng, với quan điểm đề cao quyền sở hữu cộng đồng, các  
nguồn tài nguyên rừng, đất, nước đã được quản lý, bảo vệ hợp lý và  
sử dụng khá bền vững.  
2.3. Những ưu điểm của hệ canh tác của người Thái ở vùng ven  
thành phố Sơn La trong quản lý, bảo vệ, sử dụng đất dốc  
Kết quả phân tích tài liệu và điều tra, khảo sát thực tế cho thấy, hệ  
canh tác của người Thái đã thể hiện nhiều mặt tích cực trong quản lý,  
bảo vệ đất. Xem xét trên cơ sở hồi cố quá khứ, các hệ canh tác này  
hoàn toàn phù hợp với điều kiện môi trường, kinh tế - xã hội của cộng  
đồng vào thời điểm đó. Với quan điểm đề cao quyền sở hữu cộng  
đồng, các nguồn tài nguyên rừng, đất, nước đã được quản lý, bảo vệ  
hợp lý và sử dụng khá bền vững.  
Thứ nhất, đối với tài nguyên rừng: Việc duy trì các khu rừng  
thiêng, các khu rừng cộng đồng, rừng ma... đã đảm bảo cho không  
gian sống của cộng đồng luôn được che phủ với độ che phủ an toàn.  
Cách khai thác các khu rừng sử dụng cho lễ hội săn bắt, hái lượm tập  
thể trung bình 1 lần/năm đảm bảo cho các sản phẩm rừng kịp phục hồi  
và các thế hệ sau luôn còn nguồn khai thác (theo cách ông cha truyền  
lại). Cách làm nương không phát đốt trên đỉnh vừa có tác dụng duy trì  
cho nương rẫy “một chiếc mũ” che mưa nắng, vừa giữ được rừng ở  
những điểm trọng yếu.  
231  
Ông Lù Thành Inh, bản Bó, phường Chiềng An, thành phố Sơn La  
và nhiều hộ cho biết: “Chọn chỗ này đất xốp thì trồng. Mình đi xem,  
cuốc đất lên. Đất có cây cỏ dại, tốt nhất là có cây to, nhưng không  
phát nương ở rừng thiêng, rừng săn hay rừng lấy măng vì đấy là rừng  
của bản. Chọn được đất rồi thì phát, phát xong thì đốt. Cày bằng trâu  
thôi. Chỗ nào dốc quá thì chọc lỗ bỏ hạt. Không có máy cày như bây  
giờ đâu. Cuối tháng 4 là trồng. Nhưng đi phát cây thì không phát hết  
trên cao đâu”.  
Thứ hai, đối với tài nguyên nước, tài nguyên đất: Dưới sự che  
chắn của rừng, đất và nước cũng được bảo vệ. Dễ nhận thấy nhất là  
đất luôn được bổ sung chất dinh dưỡng từ lá cây, từ các loài động  
vật rừng, ít bị xói mòn, rửa trôi, khả năng phục hồi nhanh. “Nương  
chỉ trồng 1 vụ thôi, không trồng 2 vụ hay quanh năm như bây giờ.  
Để cây to trên cao lại, để bảo vệ đất. Trên nương trồng xen nhiều  
đấy. Trồng ngô với lạc, có khi trồng với các loại đậu. Khi đất xấu  
rồi, không được ăn nhiều nữa thì bỏ lại, bỏ cho mọc cỏ đã, bỏ 1 đến  
2 năm, đi làm nương khác. Đất tốt lại quay về làm” - theo ông  
Quàng Bình An, phường Chiềng Ngần, thành phố Sơn La. Nhận xét  
của nhiều hộ cũng cho thấy, trước kia thời gian nước cạn trong các  
suối tự nhiên ngắn hơn hiện nay, thậm chí, những con suối trước  
không bao giờ cạn, nay đã có tháng không còn nước. Khi còn canh  
tác nương rẫy theo phương thức truyền thống, xói mòn, rửa trôi ở  
mức độ thấp hơn và đất chậm bị thoái hóa hơn. Sau thời gian bỏ  
hóa, chất lượng đất được phục hồi khá tốt, có thể canh tác cho năng  
suất ổn định gần như khi mới phát đốt. Luân canh, xen canh cũng là  
cách sử dụng đất hợp lý. Trong điều kiện địa phương, đó là biện  
pháp bảo vệ, cải tạo đất hiệu quả.  
2.4. Biến động kiến thức bản địa của người Thái trong canh tác  
đất dốc  
Với hệ thống kinh nghiệm truyền thống, người Thái đã áp dụng  
vào nhiều hệ canh tác với nhiều phương pháp khác nhau, trong đó, ba  
hệ canh tác trên đất dốc chủ yếu được duy trì hiện nay là nương rẫy,  
vườn và trang trại.  
Nương có tầm quan trọng không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu  
lương thực, thức ăn chăn nuôi, rau màu cho đời sống hàng ngày và  
nguyên liệu cho hoạt động thủ công gia đình trong cộng đồng người  
Thái. Đặc biệt, cây bông, cây dâu tằm được trồng trên nương có ý  
nghĩa quan trọng trong giải quyết nhu cầu may mặc từ xưa đến nay.  
232  
Khi dân cư còn thưa thớt, diện tích rừng còn nhiều, người Thái  
hầu như không có hoạt động canh tác vườn, rừng. Rừng được coi là sở  
hữu chung của bản, mường, cung cấp gỗ, củi, rau, măng, thực phẩm.  
Hiện nay, trồng, chăm sóc rừng trở thành một phần quan trọng trong  
hoạt động kinh tế, bên cạnh đó còn có vườn.  
Điều dễ nhận thấy nhất khi nghiên cứu biến động kiến thức bản  
địa của người Thái trong canh tác đất dốc ở vùng ven thành phố Sơn  
La trong quá trình đô thị hóa là cơ cấu diện tích, tỷ lệ vốn đầu tư, đóng  
góp vào thu nhập hộ gia đình giữa các hệ canh tác thay đổi đáng kể.  
Trước đây, có thể nói người Thái không có “vườn” theo đúng  
nghĩa thông thường. Hiện nay, một số hộ đã kết hợp nương cũ với  
rừng khoanh nuôi, tạo thành mô hình “vườn - rừng” (mô hình VACR  
đơn giản, chưa hoàn thiện) đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Tỷ lệ thu  
nhập từ vườn, rừng tăng lên đáng kể và có xu hướng chiếm tỷ lệ lớn.  
Trên 1 ha đất, cây cà phê, hoa quả... cho thu nhập cao hơn hẳn cây  
ngô, từ lấy canh tác nương rẫy (lúa, trồng ngô, sắn...) làm chủ đạo  
(không tính đến sản xuất lúa nước), người Thái vùng ven thành phố  
Sơn La đã dần chuyển sang tập trung vào sản xuất kinh tế hộ gia đình,  
lấy vườn - rừng làm trung tâm theo mô hình VACR, tăng cường vốn  
đầu tư cho đàn gia súc, gia cầm. Với những hộ có đủ vốn, diện tích đất  
đủ lớn và nhân lực, mô hình VACR hoàn thiện và đa dạng sản phẩm  
hơn, đem lại lợi nhuận khá cao. Một số hộ có diện tích nhỏ hơn cũng  
đã đầu tư các mô hình nông lâm kết hợp đơn giản (trồng xen cây ăn  
quả, cây lấy gỗ trên nương, một số hộ kết hợp nuôi ong, bò, gà...).  
Không chỉ biến động về cơ cấu các hệ canh tác, trong từng hệ  
canh tác cũng có nhiều thay đổi dưới tác động của quá trình đô thị hóa  
- công nghiệp hóa thành phố. Song song với tăng cường quản lý rừng,  
tăng diện tích đất lâm nghiệp, quá trình đô thị hóa kéo theo những  
thay đổi lớn trong hoạt động canh tác trên đất dốc của người Thái ở  
vùng ven thành phố Sơn La.  
2.4.1. Hệ canh tác nương rẫy  
Theo truyền thống, người Thái làm nương rẫy theo hình thức đa  
canh, hiện nay chuyển sang đơn canh. Giải thích nguyên nhân của  
việc xóa bỏ xen canh, ông Lù Đoàn Inh (bản Bó, phường Chiềng An)  
và nhiều hộ gia đình khác cho biết: “Đất xấu, trồng xen không được  
ăn, được cây ngô thì hỏng cây sắn, cây khác nên không trồng xen  
nữa”. Trước đây, các loại cây xen canh với nhau được lựa chọn đảm  
bảo trong suốt quá trình sử dụng đất, “lúc nào cũng có cái rễ cây để  
giữ đất lại”. Ở tất cả các bản khảo sát, cây trồng chủ đạo trên nương  
233  
hiện nay là cây ngô (có thể thay đổi giống theo năm) hoặc sắn. Song  
song với việc người Thái mất dần thế xen canh lúa, ngô - đậu, bầu,  
bí..., đất cũng mất giá thể bám để chống đỡ trước mưa lũ, nguồn bổ  
sung chất dinh dưỡng tự nhiên, lớp phủ chống xói mòn, rửa trôi.  
Cây lúa hiện nay không được trồng trên nương. Nguồn lúa gạo  
chính là ruộng nước. Vì vậy, các giống lúa nếp, đã từng được dùng làm  
đặc sản Thái (khẩu vặn lanh, khẩu vặn lai, khẩu mã khưa) và các giống  
truyền thống khác dần bị mai một. Người dân chuyển sang trồng giống  
mới, dưới sự hướng dẫn của Hội Nông dân và cán bộ khuyến nông.  
Riêng giống ngô của người Thái vẫn được duy trì ở quy mô nhỏ, chủ  
yếu để ăn trong nhà hoặc bán (người tiêu thụ mua để ăn) với giá khá  
cao so với các loại ngô lai để chăn nuôi. Tuy nhiên, trước sức ép thị  
trường, giống ngô bản địa cũng đang đứng trước nguy cơ bị loại bỏ.  
Bảng 1. Kỹ thuật canh tác nương theo truyền thống và hiện nay  
Yếu tố so sánh  
Dọn nương  
Theo truyền thống  
Để lại rừng phía trên  
Đa canh, luân canh  
Hiện nay  
Phát hoàn toàn  
Chế độ canh tác  
Đơn canh, độc canh,  
xen canh (ít)  
Công cụ  
Giống  
Dao, gậy (chọc lỗ), nhíp...  
Giống cũ  
Dao, cuốc, nhíp...  
Giống mới  
Hình thức  
Chăm sóc  
“Trồng theo hàng ngang” Canh tác theo đường đồng mức  
Làm cỏ Làm cỏ, bón phân (hóa học)  
Tạo lớp che phủ đất bằng Tạo lớp che phủ đất bằng phần  
Thu hoạch và sau  
thu hoạch  
phần phụ của nông sản phụ của nông sản  
Bỏ hóa cho đất tự phục hồi Canh tác liên tục  
Việc chuẩn bị và chế độ sử dụng nương cũng có nhiều thay đổi. Phần  
rừng phía trên nương trước kia được duy trì như một luật tục, có vai trò  
bảo vệ nương, hiện nay đã bị phát đốt. Nguyên nhân là do dân số tăng,  
đặc biệt tăng cơ học, rừng được Nhà nước quản lý, bảo vệ, đất canh tác  
thiếu. Phương pháp cũ là nương sử dụng 3 vụ (lao, lộc, lựm), sau đó bỏ  
cho đất tự phục hồi không còn. Đất đai bị xói mòn, rửa trôi, trở nên cứng  
chắc, độ dày tầng đất mặt có thể canh tác giảm, người Thái cũng chuyển  
sang làm nương bằng cày, cuốc thay cho chọc lỗ tra hạt. Biện pháp canh  
tác này đem lại lợi nhuận thấy ngay được là năng suất cây trồng. Tuy  
nhiên, đây lại như là một biện pháp hỗ trợ xói mòn, rửa trôi trong điều  
kiện môi trường xung quanh nương đã hoàn toàn thay đổi.  
234  
2.4.2. Hệ vườn - rừng và mô hình kết hợp Vườn - Ao - Chuồng - Rừng  
Khi tiến trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, giao lưu văn hóa, thông  
thương hàng hóa được tăng cường, nhiều tín ngưỡng, tập tục văn hóa  
đặc trưng của người Thái đã bị mai một như lễ hội dân gian (săn tập  
thể, “phá cá vũng cấm”, “hội hái măng”...), lễ cúng thần chủ đất và  
nước (xên bản, xên mường)... Chủ trương xóa bỏ mê tín dị đoan và sự  
xâm chiếm, lấn át của các nền văn hóa khác, trong đó có văn hóa  
Kinh, đã làm giảm yếu tố niềm tin trong cộng đồng, kết quả là các khu  
rừng thiêng, nơi thần chủ đất, nước trú ngụ, các sông suối tự nhiên có  
quy định chỗ thờ cúng (vũng mường - văng mương)... không còn linh  
thiêng như trước, được xem như những khu rừng bình thường khác,  
nghĩa là có thể khai thác, chặt phá. Cùng với dân số tăng, người Thái  
đã không còn giữ được các khu rừng thiêng, những vùng rừng tự  
nhiên sở hữu của cả cộng đồng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến  
nguồn tài nguyên đất và nước.  
Yếu tố còn được duy trì trong tập quán khai thác nguồn tài nguyên  
rừng của cộng đồng cư dân Thái là hái lượm. Thay vì sử dụng chủ yếu  
cho bữa ăn hàng ngày, các sản phẩm này trở thành hàng hóa có giá trị  
cao, rất được ưa chuộng trên thị trường: măng các loại, mộc nhĩ, nấm,  
gà rừng, ong đất, nhộng ong, sâu chít, quả sơn tra... Cũng do nhu cầu  
thị trường, nhiều loại lâm sản đang trong tình trạng bị khai thác quá  
mức như hoa lan, các loài chim cảnh, ong đất, sâu chít, các loại nấm  
có giá trị, một số loài động vật rừng...  
Thay vì sở hữu bản, mường, rừng và đất rừng được chia cho các  
hộ gia đình quản lý, chăm sóc, bảo vệ, theo quy định mới, người chủ  
rừng không được phát đốt, chặt phá rừng làm nương rẫy. Để đảm bảo  
nguồn thu nhập cho gia đình, đồng thời quản lý tốt diện tích rừng, đất  
rừng được giao, một số hộ gia đình Thái chuyển sang hình thức trang  
trại chuyên canh cây chè, cà phê, mía, dâu, ngô, cây ăn quả..., hoặc đa  
canh theo mô hình Vườn - Ao - Chuồng - Rừng.  
Mô hình VACR của người Thái vùng ven thành phố Sơn La trong  
điều kiện mới tiếp cận có những hạn chế nhất định. Mối liên kết giữa  
các thành phần chưa chặt chẽ. Thành phần loài trong hệ khá đơn giản:  
Vườn - chủ yếu trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, cây ăn quả...;  
Ao - thả cá, gặp phải khó khăn là không có đủ nước vào mùa khô;  
Chuồng - chủ yếu chăn nuôi trâu, bò, gà với số lượng không nhiều;  
Rừng - nghèo kiệt, ít có tác dụng phòng hộ khi mưa lũ.  
Người Thái làm vườn theo phương pháp nửa trồng, nửa hoang  
dại. Hiện nay, vườn của người Thái có những thay đổi rõ rệt, bắt kịp  
với nhu cầu thị trường. Đáng chú ý nhất là rau xanh các loại và măng.  
235  
Tại các phường nghiên cứu, nhiều hộ gia đình đầu tư cải tạo vườn nhà  
trồng măng, rau, đem lại thu nhập khá cao. Diện tích rau các loại đã  
tăng đáng kể, chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu đất nông nghiệp.  
Tiêu chí chọn lựa giống vật nuôi, cây trồng của người Thái hiện  
nay là năng suất, sản lượng, thay vì chất lượng như trước đây. Giống  
truyền thống của người Thái chống chịu tốt với thời tiết, năng suất ổn  
định, ít sâu bệnh, dịch bệnh, chất lượng tốt: lúa, ngô thơm, dẻo, gà  
chắc, thơm thịt, trâu to, khỏe... Những tiêu chí truyền thống này đang  
dần bị mai một. Đó là kết quả tác động tất yếu của sản xuất đại trà  
trong nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường.  
Một trong những nguyên nhân dẫn đến mất dần các giống bản địa  
cần phải được xem xét là “quy định của Nhà nước yêu cầu trồng giống  
mới, không cho trồng giống cũ” (bà Quàng Thị Lanh, phường Chiềng  
Đen và nhiều hộ khác). Thực chất đây là chính sách của ban khuyến  
nông, khuyến lâm xã, thành phố, với mục tiêu đưa nông nghiệp vào  
sản xuất hàng hóa, tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi.  
Chính sách này liên quan mật thiết với định hướng kinh tế hàng hóa,  
hội nhập với cơ chế thị trường, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi.  
KẾT LUẬN  
Kiến thức bản địa là lời giải cho nhiều bài toán phát triển cộng  
đồng và đang được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý môi trường chú ý.  
Kết hợp kiến thức bản địa với khoa học kỹ thuật hiện đại trong các dự  
án, chương trình là hướng đi hợp lý cho các bên liên quan. Ở Việt Nam,  
hoạt động nghiên cứu kiến thức bản địa còn rất hạn chế, hướng tiếp cận  
phổ biến vẫn là từ trên xuống, nghĩa là nghiên cứu kiến thức bản địa với  
vai trò một nhà khoa học đứng ngoài cộng đồng nhìn vào.  
Dân tộc Thái đã định cư lâu đời ở Sơn La, thích ứng với điều kiện  
môi trường khu vực, hình thành một nền văn hóa Thái đặc trưng, có  
ảnh hưởng đến hầu hết các tộc người cùng chung sống trong vùng núi  
Tây Bắc. Tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng nằm  
trong vùng kinh tế trọng điểm Tây Bắc. Quá trình đô thị hóa thành  
phố diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến nhiều thay đổi lớn trong các cộng đồng  
địa phương, trong đó có cộng đồng dân tộc Thái.  
Hệ canh tác đất dốc truyền thống của người Thái ở vùng ven thành  
phố Sơn La trong thời điểm diện tích đất, rừng còn nhiều khá hợp lý, có  
nhiều yếu tố hướng tới bảo vệ, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.  
Cùng với đô thị hóa thành phố Sơn La, hệ kiến thức bản địa của  
người Thái trong canh tác đất dốc ở vùng ven thành phố đã có nhiều  
236  
biến động. Một số yếu tố có vai trò tích cực trong bảo vệ tài nguyên  
thiên nhiên không được áp dụng và dần bị mai một. Quá trình đô thị  
hóa đã kéo theo nhiều thay đổi lớn trong hoạt động sản xuất nông  
nghiệp của người Thái ở vùng ven thành phố Sơn La, đặc biệt là  
những biến động trong canh tác đất dốc. Sự biến động không chỉ thể  
hiện ở cơ cấu các hệ canh tác, tập quán quản lý, sử dụng tài nguyên  
rừng liên quan đến các vùng đất dốc, mà còn thể hiện trong chính các  
hệ canh tác. Đây là những biến động theo hướng bất lợi, nghĩa là mai  
một, mất dần những kiến thức truyền thống, trong đó bao hàm nhiều  
kiến thức quản lý, bảo vệ đất dốc hiệu quả mà những chương trình, dự  
án phát triển nông thôn chưa tính đến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Vi Trọng Liên, 2002. Vài nét về người Thái ở Sơn La. NXB Văn hóa  
Dân tộc, Hà Nội.  
2. Cầm Trọng, 1975. Một số vấn đề về nương rẫy Thái. NXB Dân tộc học,  
Hà Nội.  
3. Cầm Trọng, 2005. Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam. NXB  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Abstract  
Thai ethnicity mainly settled in the northwest mountains since the 18th  
century, formed “Thai community” with 16 groups which were  
distributed in Lai Chau, Son La and Hoa Binh provinces. Thai ethnic  
cultivated traditionally for long time, established and accumulated  
valuable indigenous knowledge, especially in effective slope soil  
protection and management. The process of urbanization in Son La  
city surrounding areas, which took place strongly since the  
establishment of Son La town in 2005, has affected on the cultivated  
activities of the Thai people, especially fluctuations in slope soil  
farming which impacts towards negative, fades, loses the traditional  
knowledge that the rural development projects and progarme have not  
yet fully estimated.  
This study collected indigenous knowledge systems of Thais in upland  
farming in Son La. The study also analyzed the advantages of  
traditional experience system for the management and sustainable use  
of water and land resources. In particular, the findings have clarified  
the movements in indigenous knowledge of Thais in upland farming in  
the Son La city surrounding areas in the urbanization process.  
237  
pdf 16 trang Thùy Anh 21220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến động kiến thức bản địa của người thái trong canh tác đất dốc ở vùng ven Thành phố Sơn La", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_dong_kien_thuc_ban_dia_cua_nguoi_thai_trong_canh_tac_da.pdf