Nghiên cứu tổng quan về vỏ hầm metro tiết diện ngang hình chữ nhật cong

68  
Journal of Mining and Earth Sciences Vol. 62, Issue 4 (2021) 68 - 78  
An overview of research on metro tunnel lining in the  
sub-rectangular shape  
Kien Van Dang *, Anh Ngoc Do, Tien Tai Nguyen, Duy Anh Huynh  
Nguyen, Vi Van Pham  
Faculty of Civil Engineering, Hanoi University of Mining and Geology, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Article history:  
Circular tunnels are the most popular shapes used in urban underground  
transportation systems when mechanized tunneling is used for tunnel  
excavation. However, circular tunnels have a small space utilization ratio.  
With the material development, non - circular tunnels such as sub -  
rectangular, U - shaped lining, etc. are now common, and their cross -  
section helps to improve the underground space utilization. However,  
there have been not many studies on the structure and the calculation  
method of the metro tunnels with the above cross - sections. The paper  
uses the analytical synthesis method to find out the advantages and  
disadvantages, the application conditions of the sub - rectangular shape,  
as well asthe development direction forthe complete calculation methods  
for this cross - section in Vietnamese conditions.  
Received 24th Apr. 2021  
Accepted 17th July 2021  
Available online 31st Aug. 2021  
Keywords:  
Circular tunnel,  
HRM,  
FEM,  
Metro tunnel,  
Sub – rectangular.  
Copyright © 2021 Hanoi University of Mining and Geology. All rights reserved.  
_____________________  
*Corresponding author  
DOI: 10.46326/JMES.2021.62(4).10  
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 62, Kỳ 4 (2021) 68 - 78  
69  
Nghiên cứu tổng quan về vỏ hầm metro tiết diện ngang hình  
chữ nhật cong  
Đặng Văn Kiên *, Đỗ Ngọc Anh, Nguyễn Tài Tiến, Nguyễn Huỳnh Anh Duy, Phạm  
Văn Vĩ  
Khoa Xây dựng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Đường hầm với tiết diện hình tròn được sử dụng phổ biến nhất trong hệ  
thống giao thông ngầm đô thị khi đào hầm bằng phương pháp khiên đào.  
Tuy nhiên, các hầm tròn có tỷ lệ sử dụng không gian hữu ích nhỏ. Với sự phát  
triển của các loại vật liệu chống giữ, các đường hầm không tròn như hình  
chữ nhật cong, hình móng ngựa,… ngày càng phổ biến. Với mặt cắt ngang  
trên cho phép nâng cao hiệu quả sử dụng không gian ngầm nhờ tăng tỷ lệ  
không gian hữu ích đồng thời vẫn đảm bảo khả năng làm việc của vỏ hầm.  
Mặc dù vậy, các nghiên cứu về các loại hình kế cấu và phương pháp tính toán  
của các loại hầm metro với tiết diện không tròn như trên chưa được phổ  
biến. Bài báo sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích để chỉ ra những ưu  
nhược điểm, điều kiện áp dụng của vỏ chống metro tiết diện hình chữ nhật  
cong, cũng như hướng phát triển hoàn thiện các phương pháp tính toán cho  
tiết diện loại này trong điều kiện Việt Nam.  
Nhận bài 24/4/2021  
Chấp nhận 17/7/2021  
Đăng online 31/8/2021  
Từ khóa:  
Hầm hình tròn,  
Hầm hình chữ nhật cong,  
Hầm metro,  
HRM,  
FEM.  
© 2021 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
nhau trên cùng một tuyến, phương án hai đường  
hầm đào song song thường được sử dụng (ví dụ:  
1. Mở đầu  
Đường hầm metro với tiết diện ngang hình  
tròn có ưu điểm là độ ổn định của kết cấu vỏ chống  
đường hầm lớn, dễ thi công bằng cơ giới (khiên  
đào) nên được sử dụng nhiều trong thực tế. Tuy  
nhiên, hệ số sử dụng tiết diện ngang (tỷ số giữa  
phần diện tích thực tế sử dụng và diện tích đào)  
của tiết diện trên nhỏ. Ngoài ra, để đảm bảo yêu  
cầu có hai làn đường hầm metro chạy ngược chiều  
dự án Nhổn - Ga Hà Nội, dự án Bến Thành - Suối  
Tiên và nhiều dự án khác trên thế giới). Điều này  
làm tăng khối lượng đào và chống giữ các đường  
hầm. Để khắc phục các nhược điểm của phương  
án sử dụng đường hầm tiết diện tròn, đường hầm  
tiết diện ngang hình chữ nhật cong (kết hợp giữa  
hình tròn và hình chữ nhật “sub - rectangular”) đã  
và đang được chú ý nghiên cứu và lựa chọn sử  
dụng (Nguyễn Xuân Mãn, 2015). Loại hình tiết  
diện này cho phép nâng cao hệ số sử dụng hữu ích  
diện tích tiết diện ngang so với đường hầm hình  
tròn, đồng thời tránh được sự tập trung ứng suất  
ở bốn góc so với tiết diện hình chữ nhật. Mặt khác,  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
DOI: 10.46326/JMES.2021.62(4).10  
70  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
tiết diện chữ nhật cong cũng thích hợp khi thiết kế  
hai làn đường tàu chạy trong cùng một đường  
hầm nhờ giảm chi phí đào và chống giữ đường  
hầm do giảm tổng khối lượng đào. Ngoài ra, tiết  
diện hình chữ nhật cong cũng phù hợp để áp dụng  
cho lối vào metro, đường dành cho người đi bộ  
dưới lòng đất. Mặc dù có nhiều ưu điểm trong sử  
dụng đã được chỉ ra, nhưng đến nay các kết quả  
nghiên cứu tính toán độ ổn định của vỏ chống lắp  
ghép từ các cấu kiện bê tông đúc sẵn bên trong  
đường hầm tiết diện hình chữ nhật cong còn rất  
hạnchế và mới chủ yếu dừng lại ở các kết quả thực  
nghiệm trong phòng thí nghiệm trên mô hình kích  
thước thực hoặc mô hình thu nhỏ, chưa có  
phương pháp tính toán lý thuyết hoàn chỉnh được  
đề xuất. Các chỉ dẫn thiết kế trong các bộ tiêu  
chuẩn thiết kế chuyên ngành ở các nước trên thế  
giới cho loại hình vỏ chống này cũng chưa được đề  
cập. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất một phương  
pháp tính mới cho kết cấu vỏ chống lắp ghép bên  
trong các đường hầm metro tiết diện ngang hình  
chữnhậtcong nhằm mục đích tính toán, tối ưu hóa  
các thông số mặt cắt ngang trong quá trình thiết  
kế đường hầm metro là rất cần thiết.  
mới, lần đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam. Kinh  
nghiệm thiết kế cũng như thi công của các đơn vị  
tư vấn và nhà thầu thi công của Việt Nam hầu như  
chưa có dẫn đến rất nhiều khó khăn cho công tác  
thiết kế, quản lý, tổ chức thi công, giám sát và  
nghiệm thu.  
Các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam chủ yếu  
cho đối tượng vỏ hầm bê tông liền khối chống cố  
định cho hầm giao thông, hầm thủy điện, các  
đường lò chính, các khu vực sân ga, ngã ba,… của  
mỏ với tiết diện phổ biến là hình tròn và hình vòm  
tường thẳng hoặc tường cong (Nguyễn Xuân Mãn,  
2010, 2012, 2015). Một số tác giả như Võ Trọng  
Hùng, Nguyễn Xuân Mãn, Đỗ Như Tráng,… đã  
nghiên cứu các loại vỏ hầm nhiều lớp, tương tác  
khối đá - vỏ chống tiết diện ngang hình tròn. Tuy  
nhiên, các kết quả mới chỉ đề ra các hướng áp  
dụng cho các dự án hầm giao thông và hầm thủy  
điện, các nghiên cứu cho vỏ chống metro còn hết  
sức hạn chế. Ngoài ra, các kết quả đạt được từ các  
nghiên cứu trên của các tác giả chủ yếu tập trung  
vào việc nghiên cứu tối ưu hóa kích thước vỏ  
chống, tương tác giữa khối đá và vỏ chống mà  
chưa chú ý nhiều đến việc nghiên cứu sự thay đổi  
trạng thái ứng suất, khả năng mang tải của vỏ  
chống khi thay đổi hình dạng tiết diện ngang  
đường hầm.  
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu phương  
pháp tính toán hầm metro tiết diện chữ nhật  
cong  
Do phạm vi sử dụng hẹp và chưa từng được  
xây dựng ở Việt Nam nên các công trình nghiên  
cứu trong nước về vỏ chống đường hầm metro  
mới chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý thuyết,  
các phương pháp thiết kế quy hoạch và cấu tạo  
một số loại hình công trình ngầm đô thị, trong đó  
có hầm metro (Nguyễn Xuân Mãn, 2010, 2012,  
2015). Một hướng nghiên cứu cũng được nhiều  
tác giả trong nước quan tâm là dự báo các tác động  
bề mặt do quá trình thi công và vận hành hầm  
metro như lún bề mặt do ảnh hưởng của đào hầm  
metro phía dưới lòng thành phố, ảnh hưởng đến  
các công trình lân cận tồn tại trước đó, chẳng hạn  
như các móng của các công trình trên bề mặt (Đỗ  
Như Tráng, 2011; Nguyễn Thế Phùng, 2004; Đoàn  
Thế Tường, 2012; Bùi Văn Dưỡng, 2007; Nguyễn  
Anh Tuấn, 2012, 2017; Phan Sỹ Liêm và Nguyễn  
Bá Hoàng, 2016). Một vài công trình nghiên cứu  
chú ý đến sự rung động của nền và công trình lân  
cận do chuyển động của đoàn tàu khi vận hành và  
đưa ra các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu  
cực của chúng (Nguyễn Tăng Thanh và Trần  
Nguyễn Hoàng Hùng, 2011; Nguyễn Quang Dũng,  
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt  
Nam  
Tại Việt Nam, cùng với việc nghiên cứu áp  
dụng cải tiến các quy trình công nghệ thi công hầm  
thì hướng nghiên cứu xây dựng phương pháp tính  
toán nhằm cải tiến, tối ưu hoặc phát triển các loại  
kết cấu chống mới cũng được quan tâm trong thời  
gian qua. Một số tiêu chuẩn thiết kế và thi công kết  
cấu chống giữ cho hầm giao thông, hầm thủy  
công,… cũng đã được ban hành nhằm kịp thời,  
chuẩn hóa và là cơ sở cho công tác thiết kế, tổ chức  
thi công, nghiệm thu cho các dự án. Trong những  
năm gần đây, các dự án xây dựng công trình ngầm  
lớn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: dự  
án hầm giao thông đường bộ qua đèo Hải Vân,  
hầm Thủ Thiêm qua sông Sài Gòn và gần đây là các  
dự án hầm metro tại Thành phố Hồ Chí Minh và  
Thủ đô Hà Nội,… thường phải áp dụng các tiêu  
chuẩn thiết kế của nước ngoài. Khác với đường  
hầm giao thông, hầm đường bộ qua núi, hầm  
metro là một loại hình công trình ngầm thành phố  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
71  
2013). Gần đây, nhóm tác giả Đỗ Ngọc Anh đã phát  
triển trên cơ sở phương pháp lực kháng đàn hồi  
HRM (Hyperstatic Reaction Method) để tính toán  
khảo sát vỏ hầm metro dạng lắp ghép có tiết diện  
tròn (Do Ngoc Anh và nnk., 2013, 2014b,c,d; Đỗ  
Ngọc Anh, 2014, 2016; Do Ngoc Anh, Dias Daniel,  
2017). Bằng phương pháp xây dựng đã được các  
tác giả tiến hành khảo sát ảnh hưởng của mối nối  
giữa các đốt vỏ hầm được mô phỏng trực tiếp nhờ  
sử dụng hệ số liên kết, xác định dựa vào độ cứng  
chống xoay. Phương pháp tính toán này cho phép  
mô phỏng mối nối vỏ hầm tại vị trí bất kỳ. Ngoài  
ra, độ cứng chống xoay của mối nối vỏ hầm đã  
được mô phỏng sử dụng hàm phi tuyến, gần với  
điều kiện làm việc thực tế. Các kết quả phân tích  
đã áp dụng cho 3 giả thiết khác nhau về tương tác  
giữa các vòng vỏ chống đã được so sánh và kiểm  
chứng bằng kết quả thu được từ mô hình số 3  
chiều, cho phép xác định giả thiết phù hợp nhất  
(Đỗ Ngọc Anh, 2014). Kết quả các nghiên cứu chỉ  
ra phương pháp mới HRM có thể sử dụng để khảo  
sát sự làm việc của kết cấu vỏ hầm lắp ghép. Sau  
khi đạt được các kết quả mới cho vỏ hầm lắp ghép  
có tiết diện hình tròn, các tác giả tiếp tục sử dụng  
phương pháp HRM để khảo sát các thông số, trên  
cơ sở đó tối ưu hóa các thông số cho hầm có tiết  
diện hình chữ U (Du Dianchun và nnk., 2018a,b;  
Dianchun, 2019, 2020). Các công bố mới cho thấy:  
nhóm tác giả Đỗ Ngọc Anh đang quan tâm nghiên  
cứu nhiều đến vỏ hầm lắp ghép dạng hình chữ  
nhậtcong(Do Ngoc Anh và nnk., 2020;NguyenTai  
Tien và nnk., 2020). Kết quả trong (Do Ngoc Anh  
và nnk., 2020; Nguyen Tai Tien và nnk., 2020) cho  
thấy: HRM có thể được sử dụng một cách hiệu quả  
để đánh giá ứng xử của vỏ hầm lắp ghép đường  
hầm hình vuông hoặc hình chữ nhật cong. Nghiên  
cứu cũng đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của hệ  
số áp lực đất và mô đun Young đến nội lực và biến  
dạng trong kết cấu cũng như chú ý đến ảnh hưởng  
hình dạng đường hầm bằng cách sử dụng các bán  
kính tường hầm khác nhau.  
metro trong đô thị với tiết diện ngang không tròn  
như: hình móng ngựa, hình chữ nhật, hình ovan,  
đặc biệt là hình chữ nhật cong, có ý nghĩa về mặt  
kinh tế kỹ thuật như phân tích ở trên, mới bắt đầu  
được một số ít các nhà khoa học chú ý nghiên cứu.  
Do vậy, việc phát triển các công cụ tính toán bao  
gồm các thuật toán và phần mềm hỗ trợ tính toán  
kết cấu vỏ hầm metro, đặc biệt là vỏ hầm metro  
tiết diện hình chữ nhật cong tại Việt Nam trong  
thời gian tới là rất cần thiết và cấp bách.  
2.2. Tình hình nghiên cứu của các nước trên thế  
giới  
Hiện nay, trên thế giới đã có khoảng 60 nước  
xây dựng và khai thác hình thức giao thông ngầm  
bằng hệ thống hầm metro. Công tác thiết kế kết  
cấu vỏ hầm cũng như công nghệ thi công đã được  
chú ý nghiên cứu và đạt được những thành tựu  
quan trọng. Trong lịch sử phát triển của lĩnh vực  
xây dựng hầm metro, các đường hầm metro được  
xây dựng với các hình dạng khác nhau như: hình  
tròn, hình vòm móng ngựa, hình chữ nhật, hình  
elíp,… Hình dạng đường hầm được lựa chọn dựa  
trên nhiều yếu tố khác nhau như: chức năng, mục  
đích sử dụng, đặc tính cơ lý của đất đá, áp lực nước  
ngầm, phương pháp thi công, đặc tính của loại vỏ  
chống được sử dụng, đặc điểm quy hoạch dự án  
gồm một hay hai đường hầm song song,… Ngoài  
ra, mặt cắt ngang đường hầm cũng ảnh hưởng bởi  
quá trình thi công. Hình dạng mặt cắt được coi là  
kinh tế khi chi phí đào và chống giữ được coi là  
nhỏ nhất, thiết bị đào hoạt động hiệu quả. Một số  
dạng hình học mặt cắt ngang đường hầm đã được  
sử dụng phổ biến nhất gồm hình tròn, hình chữ  
nhật cho hầu hết các dự án hầm metro trên thế  
giới. Tại các nước phát triển, hầu hết hầm metro  
với tiết diện hình tròn thường được chọn khi hầm  
được đào bằng khiên đào qua môi trường đất yếu  
và ở độ sâu nhỏ tại khu vực thành phố do có độ ổn  
định (Nguyễn Anh Tuấn, 2012; Phan Sỹ Liêm và  
Nguyễn Bá Hoàng, 2016). Hình tròn có ưu điểm  
lớn là hình có tiết diện cong trơn trên toàn biên  
nên có thể phân bố đều ứng suất sinh ra trong quá  
trình làm việc của vỏ chống, khắc phục sự tập  
trung ứng suất ở bốn góc so với hình chữ nhật, do  
đó có khả năng chịu lực tốt hơn (Nakamura và  
nnk., 2003). Tuy nhiên, so với các đường hầm có  
tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật hay gần chữ  
nhật, tỷ lệ sử dụng diện tích hữu ích thấp hơn dẫn  
đến làm tăng chi phí đào chống, nhất là các tuyến  
Tóm lại, các nghiên cứu được thực hiện trong  
nước liên quan đến tính toán kết cấu vỏ chống  
đường hầm metro xây dựng ở khu vực thành phố  
lớn còn khá khiêm tốn, chủ yếu xoay quanh việc  
tính toán cho các kết cấu vỏ chống đường hầm  
hình tròn, tương tác vỏ hầm với môi trường khối  
đất, quy hoạch tuyến và các giải pháp hạn chế lún  
bề mặt. Các nghiên cứu về phương pháp tính toán  
áp dụng cho kết cấu vỏ chống của đường hầm  
72  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
metro có chiều dài lớn. Để khắc phục các nhược  
điểm trên của phương án sử dụng đường hầm tiết  
diện tròn, đường hầm tiết diện ngang hình chữ  
nhật cong (kết hợp hình tròn và hình chữ nhật  
“sub - rectangular”) đã và đang được chú ý nghiên  
cứu và lựa chọn sử dụng (Zhang và nnk., 2019)  
như Hình 1.  
Loại hình tiết diện này cho phép nâng cao hệ  
số sử dụng hữu ích diện tích tiết diện ngang so với  
đường hầm hình tròn, đồng thời tránh được sự  
tập trung ứng suất ở bốn góc so với tiết diện hình  
chữ nhật (Nakamura và nnk., 2003). Do vậy, các  
đường hầm có hình dạng đặc biệt như đường hầm  
tiết diện hình vuông hoặc hình chữ nhật, hình chữ  
nhật cong được chú ý nghiên cứu trong thời gian  
gần đây nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng không  
gian ngầm. Các đường hầm có tiết diện trêncó một  
số ưu điểm như khả năng sử dụng không gian  
ngầm hiệu quả và khối lượng đào giảm và giảm  
thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung (Zhang và  
nnk., 2019) như trên Hình 2. Mặt cắt ngang hình  
chữ nhật thường được áp dụng thi công lộ thiên  
theo hình thức (cut and cover) cho các nhà ga hầm  
metro có kích thước lớn. Đặc biệt, các đường hầm  
tiết diện chữ nhật cong rất thích hợp khi thiết kế  
dự án có hầm đôi nhờ giảm chi phí đào và chống  
giữ đường hầm do giảm tổng khối lượngđào, giảm  
thiểu ảnh hưởng đến mô trường xung quanh và  
trên bề mặt tại các khu vực có mật độ xây dựng  
lớn. Tiết diện hình chữ nhật cong cũng phù hợp  
cho các hạng mục hầm phụ dẫn lối vào ga metro,  
đường hầm cho người đi bộ như ở Hình 3. Do vậy,  
dạng tiết diện trên được quan tâm nghiên cứu  
trong thời gian gần đây nhằm nâng cao hiệu quả  
xây dựng các dự án hầm metro tại khu vực có mật  
độ xây dựng cao trên bề mặt. Tuy nhiên, đến nay  
kết quả đạt được về phương pháp tính toán kết  
cấu vỏ lắp ghép cũng như tối ưu các thông số hình  
học mặtcắtngang củadạng tiếtdiện trên chưađầy  
đủ dù đã được Nhật Bản nghiên cứu mô hình thực  
nghiệm từ năm 1996 (Ngoc Anh Do và nnk., 2020)  
và phát triển cho dự án hầm metro tại Tokyo có  
hầm đôi vào năm 2003. Ngoài ra, tiết diện trên  
cũng được các nhà khoa học Trung Quốc chú ý  
nghiên cứu trong những năm gần đây. Mặc dù vậy,  
đến nay các phương pháp tính toán thiết kế với  
các dạng mặt cắt ngang hình chữ nhật cong chưa  
hoàn chỉnh.  
a
b
Hình 1. So sánh phương án chiều rộng đường hầm khi sử dụng tuyến đôi với (a) hai đường hầm đơn  
song song và (b) hai đường hầm chung vách.  
Hình 2. So sánh chiều rộng đào của hai phương án metro tiết diện hình tròn và hình chữ nhật cong.  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
73  
Hình 3. Các thông số cơ bản của tiết diện metro tiết diện chữ nhật cong.  
Việc nghiên cứu tìm ra các tỉ lệ kích thước phù  
hợp về mặt cắt hình chữ nhật cong trong các điều  
kiện địa chất khác nhau vẫn tiếp tục được nghiên  
cứu. Hiện nay, khi nghiên cứu, tính toán, thiết kế  
kết cấu vỏ chống của đường hầm metro thường  
được thực hiện bằng ba phương pháp chính gồm  
giải tích, thực nghiệm hay mô hình vật lý và  
phương pháp số. Giải tích là một trong các phương  
pháp được sử dụng từ rất sớm để nghiên cứu  
trạng thái ứng suất, nội lực và chuyển vị trong vỏ  
chống và khối đất xung quanh của các đường hầm  
với tiết diện ngang hình tròn. Với các dạng hầm có  
tiết diện không phải là hình tròn, việc tính toán  
ứng suất, biến dạng trong kết cấu chống gặp rất  
nhiều khó khăn. Một nhóm nhà khoa học Nga đã  
sửdụng phương phápbiến hình bảo giác cho phép  
chuyển từ hình dạng bất kỳ về hình tròn để áp  
dụng các lời giải giải tích sẵn có trong tính toán.  
Mặc dù vậy, việc áp dụng phép biến hình vào giải  
các bài toán còn gặp nhiều khó khăn. Phương  
pháp đo đạc thực nghiệm hiện trường được sử  
dụng có hiệu quả trong việc nghiên cứu kết cấu vỏ  
hầm metro tiết diện ngang hình tròn hay tiết diện  
ngang khác. Chẳng hạn, Molins C. và Arnau O.  
(2011) đã tiến hành các thử nghiệm toàn diện tại  
hiện trường trên vỏ hầm lắp ghép của tuyến tàu  
điện ngầm mới Barcelona 9, Tuyến 9 (L9) (Tây  
Ban Nha). Các thí nghiệm được tiến hành với mô  
hình tương tự thực tế có thể khắc phục được các  
ảnh hưởng về tỉ lệ khi tiến hành nghiên cứu bằng  
phương pháp thực nghiệm, kiểm tra đầy đủ đặc  
tính cơ học và mô phỏng các mô hình ảnh hưởng  
các mô hình lắp ghép khác nhau giống như điều  
kiện thực tế. Một bộ hoàn chỉnh của thiết bị thí  
nghiệm được đặt bên trong và bên ngoài cho phép  
mô tả ứng xử của các đoạn vòng chống dưới tác  
dụng tải trọng từ các kích thủy lực. Nakamura và  
nnk. (2003) đã tiến hành các thử nghiệm trên mô  
hình khiên đào hầm metro hình chữ nhật dạng  
hầm đôi lần đầu tiên áp dụng tại Thành phố Kyoto  
(Nhật Bản) với kích thước giống như thực tế.  
Huang và nnk. (2018) đã tiến hành thực nghiệm  
trên mô hình vỏ hầm metro dạng lắp ghép đào  
bằng khiên đào có tiết diện hình chữ nhật cong  
(dạng gần chữ nhật) với kích thước mô hình bằng  
kích thước kết cấu trong thực tế 1:1. Đây cũng là  
lần đầu tiên các ứng xử cơ học của các đoạn vỏ  
hầm metro dạng lắp ghép do ảnh hưởng của tự  
trọng được khảo sát đầy đủ thông qua phương  
pháp thực nghiệm. Xu hướng thí nghiệm trên mô  
hình thực nghiệm như điều kiện thực tế cũng  
được Zhang và nnk. (2019) tiến hành cho vỏ hầm  
lắp ghép có hình dạng đặc biệt để nghiên cứu ứng  
xử cơ học của vỏ hầm lắp ghép có hình dạng đặc  
biệt đào bằng khiên đào trong điều kiện tuyến  
hầm đặt ở độ sâu nhỏ. Kết quả cũng đã chỉ ra ảnh  
hưởng của hệ số áp lực hông của đất đá đến nội  
lực trong kết cấu vỏ chống. Cụ thể, ảnh hưởng của  
áp lực đất đá hông và tương tác khối đất đá đến sự  
làm việc của kết cấu đã được khảo sát toàn diện  
thông qua thí nghiệm chất tải đầy đủ. Kết quả thử  
nghiệm cho thấy sự phân bố nội lực và biến dạng  
74  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
trong vỏ chống do tự trọng khi thay đổi độ sâu đặt  
đường hầm. Kashima và nnk. (1996) đã tiến hành  
thực nghiệm trên mô hình khiênđào có tênDPLEX  
có thể đào các hầm metro với các dạng mặt cắt  
khác nhau như: hình chữ nhật, hình ô van,… nhờ  
được trang bị một vài đầu cắt trên tiết diện ngang  
của đường hầm cần đào, trong đó mỗi đầu cắt  
được xoay quanh một liên kếtkiểu (parallel - link).  
Các đoạn vỏ hầm lắp ghép sử dụng với mô hình  
khiên đào DPLEX có hình dạng cắt ngang hình chữ  
nhật cong được chất tải như trong điều kiện thực  
tế. Kết quả giá trị chuyển vị của các vòng chống khi  
so sánh với giá trị chuyển vị đạt được bằng  
phương pháp lý thuyết theo thiết kế thông thường  
và giá trị lý thuyết theo mô hình thanh lò xo là  
tương đối phù hợp. Do đó, mô hình vỏ lắp ghép  
cho khiên đào dạng DPLEX là đủ cơ sở để có thể sử  
dụng trong điều kiện thực tế. Vỏ hầm lắp ghép cho  
đường hầm đào bằng mô hình khiên đào DPLEX  
lần đầu tiên được áp dụng xây dựng một đường  
hầm thoát nước kiểm soát lũ lụt ở khu vực  
Narashino ở ngoại ô thành phố Tokyo (Nhật Bản).  
Theo hướng trên, các tác giả khác cũng tiến hành  
sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm để  
nghiên cứu ứng xử cơ học của các loại hầm metro  
có tiết diện hình chữ nhật cong trong các điều kiện  
địa chất khác nhau. Liu và nnk. (2018) cũng tiến  
hành nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình khiên  
đào có kích thước hình chữa nhật cong cho dự án  
tuyến hầm metro số 4 tại thành phố Ninh Ba, Chiết  
Giang (TrungQuốc) với kíchthước nhưtrong thực  
tế. Xu hướng sử dụng tiết diện ngang hình chữ  
nhật cong nhằm tăng hiệu quả sử dụng mặt cắt  
ngang đường hầm tại các khu vực thành phố cũng  
được áp dụng cho các đường hầm nhỏ đào bằng  
hệ thống kích đẩy. Du và nnk. (2019) đã thực  
nghiệm trên mô hình khiên đào loại nhỏ có tiết  
diện hình chữ nhật cong tại điều kiện phòng thí  
nghiệm và nghiên cứu tại hiện trường kết hợp với  
phương pháp khoan phun ép vữa trên bề mặt cho  
đường hầm nhỏ có kích thước phủ ngoài dài x  
rộng là 1407x2120 mm. Với các kết quả đạt được  
có thể thấy, hướng nghiên cứu thực nghiệm sử  
dụng để nghiên cứu các kết cấu vỏ hầm metro  
đang được rất nhiều các nhà khoa học và phòng  
thí nghiệm trên thế giới quan tâm, đầu tư, nghiên  
cứu với chi phí đầu tư lớn. Mô hình thực nghiệm  
trên kết cấu thực, tỷ lệ 1:1, có ưu điểm là cho phép  
nghiên cứu trực quan, đo đạc chi tiết các ứng xử  
cơ học của kết cấu vỏ chống đường hầm. Đây cũng  
là phương pháp nghiên cứu quan trọng trong việc  
phát triển kiểm chứng các nghiên cứu trên mô  
hình số. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp  
này là chi phí tiến hành thử nghiệm cao và đòi hỏi  
những trang thiết bị hiện đại, phức tạp với giá  
thành lớn. Bên cạnh các phương pháp giải tích hay  
thực nghiệm, phương pháp mô hình số được sử  
dụng phổ biến trong thời gian gần đây do đảm bảo  
độ chính xác cao, sử dụng được cho mọi loại hình  
dạng tiết diện ngang đường hầm khác nhau, cho  
phép chú ý tới nhiều thông số ảnh hưởng mà các  
phương pháp giải tích hay thực nghiệm trong  
phòng không chú tới được. Các phần mềm số  
chuyên dụng ra đời và không ngừng được nâng  
cấp trở thành công cụ đắc lực cho phép mô phỏng  
các kết cấu vỏ hầm phức tạp như: bộ phần mềm  
Rocscience, Plaxis, MIDAS - GTS NX, Abaqus, Flac,  
UDEC, Matlab,… Trên cơ sở sử dụng mô hình số  
phục vụ cho công tác nghiêncứu, tính toán thiết kế  
và mô phỏng quá trình thi công các đường hầm,  
nhiều kết quả nghiên cứu mới đã được công bố.  
Phương pháp số cho phép khảo sát ảnh hưởng của  
đặc tính đất đá, thông số hình học đường hầm, đặc  
tính vỏ chống đến đặc tính nội lực, chuyển vị trong  
vỏ chống.  
Các kết quả nghiên cứu cho dạng mặt cắt  
ngang hầm loại trên được thể hiện rõ trong các kết  
quả nghiên cứu. Hiện tại, một số tuyến hầm metro  
tại Tokyo (Nhật Bản) đã sử dụng các tiết diện loại  
trên và đang có xu hướng được sử dụng nhiều  
hơn. Do vậy, cần đẩy nhanh các nghiên cứu trong  
thời gian tới nhằm hoàn thiện phương pháp tính  
toán vỏ hầm lắp ghép hầm metro tiết diện hình  
chữ nhật cong.  
Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu bằng mô  
hình số đối với đường hầm metro tiết diện ngang  
có hình chữ nhật cong còn rất hạn chế.  
Do đó, các nghiên cứu ứng xử của vỏ hầm  
metro lắp ghép tiết diện chữ nhật cong trong các  
điều kiện địa chất khác nhau cần được tiến hành  
nhiều hơn nữa để tiết diện loại này được sớm áp  
dụng trong điều kiện thế giới và ở Việt Nam.  
3. Tính cấp thiết và định hướng nghiên cứu tại  
Việt Nam và trên thế giới  
3.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu  
Ngày nay, xây dựng và phát triển không gian  
ngầm, trong đó có đường hầm metro, tại các đô thị  
đang là nhu cầu tất yếu và cấpbách của nhiều quốc  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
75  
gia trên thế giới nhằm giải quyết căn bản các vấn  
đề liên quan đến phát triển hạ tầng cơ sở, giao  
thông đô thị phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội  
và đảm bảo an ninh quốc phòng. Tại Việt Nam, với  
sự gia tăng nhanh chóng của số lượng các phương  
tiện giao thông dẫn đến mật độ giao thông tại các  
đô thị lớncủaViệtNam tăngcao, đặc biệtlàtại Thủ  
đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại hai  
thành phố này đã và đang triển khai hàng loạt các  
dự án đường hầm metro với hy vọng khi đưa vào  
khai thác sẽ giải quyết căn bản vấn đề được vấn đề  
ùn tắc giao thông đô thị.  
Do đặc điểm thi công gần bềmặt và trong khối  
đất yếu nên tại các dự án thi công hầm metro trên  
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chủ yếu  
sử dụng các thiết bị khoan hầm cơ giới hóa  
(Tunnel Boring Machine - TBM) với gương đào  
tiết diện ngang hình tròn và kết cấu vỏ chống bê  
tông lắp ghép để giữ ổn định đường hầm sau khi  
đào. Đường hầm với tiết diện ngang hình tròn có  
ưu điểm là độ ổn định của kết cấu vỏ chống đường  
hầm lớn, dễ thi công bằng cơ giới nhưng lại có  
nhược điểm chính là hệ số sử dụng tiết diện ngang  
(tỷ số giữa phần diện tích thực tế sử dụng và diện  
tích đào) nhỏ. Ngoài ra, để đảm bảo yêu cầu có hai  
làn đường hầm metro chạy ngược chiều nhau trên  
cùng một tuyến, phương án hai đường hầm đào  
song song, mỗi hầm có một làn đường tàu chạy,  
thường được sử dụng (ví dụ: dự án Nhổn - Ga Hà  
Nội, dự án Bến Thành - Suối Tiên và nhiều dự án  
khác trên thế giới).  
Điều này làm tăng khối lượng đào và chống  
giữ các đường hầm. Để khắc phục các nhược điểm  
trên của phương án sử dụng đường hầm tiết diện  
tròn, đường hầm tiết diện ngang hình chữ nhật  
cong đã và đang được chú ý nghiên cứu và lựa  
chọn sử dụng (Liu, 2018; Zhang và nnk., 2019).  
Loại hình tiết diện này cho phép nâng cao hệ số sử  
dụng hữu ích diện tích tiết diện ngang so với  
đường hầm hình tròn, đồng thời tránh được sự  
tập trung ứng suất ở bốn góc so với tiết diện hình  
chữ nhật (Nakamura và nnk., 2003).  
Mặt khác, tiết diện chữ nhật cong cũng thích  
hợp khi thiết kế hai làn đường tàu chạy trong cùng  
một đường hầm nhờ giảm chi phí đào và chống  
giữ đường hầm do giảm tổng khối lượng đào.  
Ngoài ra, tiết diện hình chữ nhật cong cũng phù  
hợpđểápdụngcho lối vào metro, đường dành cho  
người đi bộ dưới lòng đất. Mặc dù có nhiều ưu  
điểm trong sử dụng đã được chỉ ra nhưng đến nay  
các kết quả nghiên cứu tính toán độ ổn định của vỏ  
chốnglắp ghép từcác cấu kiệnbê tông đúc sẵn bên  
trong đường hầm tiết diện hình chữ nhật cong còn  
rất hạn chế và mới chủ yếu dừng lại ở các kết quả  
thực nghiệm trong phòng thí nghiệm trên mô hình  
kích thước thực hoặc mô hình thu nhỏ (Zhang và  
nnk., 2019; Kashima và nnk., 1996; Liu, 2018; Do  
Ngoc Anh và nnk., 2103; Du và nnk., 2018) chưa  
có phương pháp tính toán lý thuyết hoàn chỉnh  
được đề xuất. Các chỉ dẫn thiết kế trong các bộ tiêu  
chuẩn thiết kế chuyên ngành ở các nước trên thế  
giới cho loại hình vỏ chống này cũng chưa được đề  
cập. Do đó, việc nghiên cứu đề xuất một phương  
pháp tính mới cho kết cấu vỏ chống lắp ghép bên  
trong các đường hầm metro tiết diện ngang hình  
chữnhậtcong nhằm mục đích tính toán, tối ưu hóa  
các thông số mặt cắt ngang trong quá trình thiết  
kế đường hầm metro là rất cần thiết.  
Hiện nay, phương pháp lực kháng đàn hồi  
(HRM) được sử dụng rất hiệu quả để tính toán vỏ  
chống lắp ghép của đường hầm hình tròn (Oreste,  
2007; Do và nnk., 2103; Du và nnk., 2018).  
Phương pháp HRM đặc biệt phù hợp cho mục đích  
thiết kế sơ bộ, khảo sát nhanh các thông số ảnh  
hưởng của môi trường đất (chỉ tiêu cơ lý đất, tính  
đồng nhất, phân lớp đất,…) và thông số hình học  
của bản thân kết cấu chống (chiều dày vỏ chống,  
đường kính đào đường hầm,…) đến chuyển vị, nội  
lực gây ra trong vỏ chống lắp ghép của đường  
hầm. Phương pháp này được đề xuất và phát triển  
bởi các tác giả để nghiên cứu ứng xử của vỏ chống  
lắp ghép bên trong đường hầm tiết diện ngang  
hình tròn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy  
phương pháp HRM cho kết quả tính toán đạt độ  
chính xác tương tự các phần mềm thương mại  
khác như: FLAC3D, Plaxis, RS2,… nhưng với thời  
gian tính toán ít hơn rất nhiều. Với những ưu điểm  
nổi bật của phương pháp HRM đã được khẳng  
định trong bài toán thiết kế đường hầm tiết diện  
tròn, việc phát triển cơ sở lý thuyết và thuật toán  
trong phương pháp này để áp dụng tính toán vỏ  
chống lắp ghép của đường hầm tiết diện hình chữ  
nhật cong góp phần nâng cao hiệu quả cho công  
tác thiết kế thi công hầm metro trong điều kiện  
Việt Nam là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học  
và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.  
3.2. Định hướng nghiên cứu liên quan hoàn  
thiện công tác thiếtkế metro hìnhchữ nhật cong  
Để đáp ứng mục tiêu trên, một số công việc  
76  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
cần được thực hiện như sau:  
kính đào đường hầm,…) đến mức độ ổn định của  
vỏ hầm lắp ghép bằng phương pháp đạt được ở  
trên:  
- Nghiên cứu tổng quan về các loại hình tiết  
diện ngang đường hầm metro, phương pháp tính  
toán vỏ chống lắp ghép của đường hầm metro, bao  
gồm:  
+ Tổng hợp các cơ sở xác định kích thước tiết  
diện ngang đường hầm metro;  
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hình  
dạng, kích thước hợp lý của tiết diện ngang công  
trình ngầm;  
+ Phân tích khả năng ứng dụng, ưu và nhược  
điểm của các phương pháp tính toán kết cấu  
chống giữ công trình ngầm.  
+ Sử dụng phương pháp tính toán mới xây  
dựng để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các  
yếu tố môi trường khối đất, độ sâu đặtđườnghầm,  
thông số hình học (chiều dày, vị trí mối nối trong  
vỏ hầm lắp ghép) của kết cấu chống đến ổn định  
của vỏ hầm lắp ghép. Từ đó rút ra các quy luật ảnh  
hưởng đến độ ổn định của vỏ hầm lắp ghép bên  
trong đường hầm làm cơ sở cho các đề xuất, kiến  
nghị điều chỉnh trong quá trình tính toán, thiết kế  
và thi công đường hầm metro;  
- Nghiên cứu, đề xuất phương pháp mới tính  
toán vỏ chống lắp ghép của đường hầm metro tiết  
diện hình chữ nhật cong; kiểm chứng độ tin cậy  
của phương pháp bằng các phần mềm thương mại  
khác hoặc bằng các số liệu thực nghiệm:  
+ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, phát triển thuật  
toán mới trên cơ sở phương pháp phần tử hữu  
hạn để tính toán kết cấu vỏ chống lắp ghép bên  
trong đường hầm metro tiết diện hình chữ nhật  
cong;  
+ Tiến hành xây dựng các chương trình tính  
toán trên cơsở ngôn ngữ lậptrình Matlab hoặc các  
ngôn ngữ tương đương;  
+ Kiểm chứng độ chính xác của chương trình  
tính toán mới bằng cách so sánh kết quả tính toán  
độ ổn định (nội lực, biến dạng) của kết cấu vỏ  
chống lắp ghép đường hầm metro với các phần  
mềm thương mại khác như FLAC3D, Plaxis, hoặc  
các số liệu thực nghiệm.  
+ Sử dụng phương pháp tính toán mới đã đề  
xuất để tính toán thử nghiệm kết cấu vỏ hầm  
metro trong một số điều kiện cụ thể tại các dự án  
metro của Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
+ Nghiên cứu trên các trường hợp cụ thể: sử  
dụng điều kiện địa chất tại các dự án metro của  
Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tiến  
hành tính toán, tối ưu hóathôngsố tiếtdiện ngang,  
cấu tạo của kết cấu vỏ chống lắp ghép bên trong  
các đường hầm tiết diện hình chữ nhật cong. So  
sánh và phân tích kết quả tính toán kết cấu chống  
đạt được bằng phương pháp tính toán mới so với  
phương án thiết kế hiện tại của các dự án này  
trong điều kiện tương đương nhằm chỉ ra được  
hiệu quả kỹ thuật và kinh tế mang lại từ các kết  
quả nghiên cứu của cho loại tiết diện này.  
5. Kết luận  
- Nghiên cứu tối ưu các thông số hình học của  
đường hầm metro tiết diện hình chữ nhật cong  
theo yêu cầu độ ổn định của vỏ hầm lắp ghép:  
+ Sử dụng phương pháp tính toán mới xây  
dựng để thực hiện khối lượng lớn các tính toán  
(thay đổi các điều kiện đầu vào về tiết diện ngang  
đường hầm), trong một số điều kiện địa chất và  
địa chất công trình cụ thể, nhằm tối ưu hóa thông  
số hình học mặt cắt ngang đường hầm theo yêu  
cầu về kỹ thuật và kinh tế. Cụ thể là tìm ra các tiết  
diện ngang đường hầm có diện tích đào nhỏ, đồng  
thời giảm được nội lực, biến dạng phát sinh trong  
kết cấu chống.  
Bài báo đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu  
chính về các kết quả đạt được cũng như những  
mặt hạn chế trong nghiên cứu tính toán kết cấu  
hầm metro có tiết diện hình chữ nhật cong trên  
thế giới và tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu  
trên cho phép rút ra các kết luận sau:  
- Việc sử dụng hầm metro tiết diện hình chữ  
nhật cong cho phép giảm diện tích đào đồng thời  
vẫn đảm bảo khả năng chịu lực, do đó rất phù hợp  
trong các dự án metro tuyến đối ở các khu vực đô  
thị có mật độ xây dựng cao như Thủ đô Hà Nội và  
Thành phố Hồ Chí Minh;  
- Các phương pháp tính hầm metro tiết diện  
hình chữ nhật cong chưa được chú ý nghiên cứu  
nhiều tại Việt Nam và các nước trên thế giới đòi  
hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể hơn;  
- Với điều kiện địa chất của một số thành phố  
lớn tại Việt Nam như Thủ đô Hà Nội và Thành phố  
- Nghiên cứu khảo sát một số thông số ảnh  
hưởng của môi trường khối đất (mô đun biến  
dạng, hệ số áp lực ngang, tính phân lớp của môi  
trường,…), độ sâu đặt đường hầm, thông số hình  
học của kết cấu chống (chiều dày vỏ hầm, đường  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
77  
Hồ Chí Minh, mật độ các tòa nhà và dân cư đông  
đúc, việc sử dụng kết cấu metro tiết diện chữ nhật  
cong có nhiều thuận lợi và phù hợp để triển khai  
áp dụng;  
- Cần có những nghiên cứu sâu hơn nhằm đưa  
ra các phương pháp tính toán mới kết hợp hoàn  
thiện phương pháp tính toán đang có để xây dựng  
được những quy trình tính toán hợp lý, ban hành  
các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn cấp quốc gia làm cơ  
sởpháp lý để việc sử dụng metro với tiết diện hình  
chữ nhật cong được phổ biến hơn tại Việt Nam.  
tunnelling in soft ground. Tunnelling and  
Underground Space Technology, 42: 40 - 51.  
Do Ngoc Anh, Dias, D., Oreste, P.P. and Djeran -  
Maigre, I. (2014)d. Three - Dimensional  
numerical simulation for mechanized  
tunnelling in soft ground - The influence of the  
joints, Acta Geotechnica, in press.  
Đỗ Ngọc Anh, (2014). Một phương pháp mới tính  
toán kết cấu vỏ hầm lắp ghép. Tuyển tập Hội  
nghị Khoa học Đại học Mỏ - Địa chất lần thứ 21.  
Hà Nội - 2014.  
Đóng góp của các tác giả  
Đỗ Ngọc Anh, (2016). Một số phương pháp tính  
toán kết cấu chống lắp ghép trong công trình  
ngầm. Tuyển tập các công trình khoa học kỷ  
niệm 50 năm thành lập Bộ môn "Xây dựng Công  
trình ngầm và Mỏ" 1996 - 2016, Nhà xuất bản  
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội  
Đặng Văn Kiên: tập hợp tài liệu lên ý tưởng và  
viết bản thảo; Đỗ Ngọc Anh: tập hợp tài liệu, kiểm  
tra bản thảo; Nguyễn Tài Tiến, Nguyễn Huỳnh Anh  
Duy, Phạm Văn Vĩ: tập hợp tài liệu, viết phần giới  
thiệu.  
Đỗ NhưTráng, (2011.)Tính toán kết cấu vỏ hầm có  
kể đến ảnh hưởng do lưu biến của môi trường  
đất đá xung quanh trong trường hợp tiếp xúc  
toàn phần. Tạp chí Địa kỹ thuật. Số 4. 12  
Tài liệu tham khảo  
Dianchun Du, Daniel Dias, Do Ngoc Anh, (2020).  
Effect of a surcharge loading on horseshoe  
shaped tunnels excavated in saturated soils,  
Journal of Rock Mechanics and Geotechnical  
Engineering, 12, 5, 1674 - 7755, 2020;  
Du Dianchun, Dias Daniel, Do Ngoc Anh, (2018).  
Hyperstatic reaction method for the design of U  
- shaped tunnel supports, International journal  
of Geomechanics, 18, 6, .  
Dianchun Du, Daniel Dias, Do Ngoc Anh, (2019)  
Lining performance optimization of sub -  
rectangular tunnels using the Hyperstatic  
Reaction Method, Computers and Geotechnics.  
Du Dianchun, Dias Daniel, Do Ngoc Anh, (2018).  
Designing U - shaped tunnel linings in stratified  
soils using the Hyperstatic Reaction Method,  
European Journal of Environmental and  
CivilEngineering.  
Do Ngoc Anh, Dias Daniel., (2017). Influence of  
segmental joints in lining and ground  
deformability on surface settlements above  
tunnels.JournalofMiningandEarthSciences,56,  
1 - 10.  
Huang X., Zhu Y., Zhang Z., Zhu Y., Wang S., Zhuang  
Q., (2018). Mechanical behaviour of segmental  
lining of a sub - rectangular shield tunnel under  
self- weight. Tunnelling and Underground Space  
Technology, 74: 131 - 144.  
Do Ngoc Anh, Dias, D., Oreste, P.P. and Djeran -  
Maigre, I. (2013). 2D numerical investigation of  
segmental tunnel lining behaviour. Tunnelling  
and Underground SpaceTechnology, 37, pp 115 -  
127.  
Kashima Y., Kondo N., Inoue M., (1996)  
Development and application of the DPLEX  
shield method: Results of experiments using  
shield and segment models and application of  
the method in tunnel construction. Tunnelling  
and Underground Space Technology, 11(1): 40 -  
50.  
Do Ngoc Anh, Dias, D., Oreste, P.P. and Djeran -  
Maigre, I. (2014b). The Behaviour of the  
Segmental Tunnel Lining Studied by the  
Hyperstatic Reaction Method. European Journal  
of Environmental and Civil Engineering.  
Liu X., Ye Y., Liu Z., Huang D.,(2018). Mechanical  
behavior of Quasi - rectangular segmental  
tunnel linings: First results from full - scale ring  
tests. Tunnelling and Underground Space  
Do Ngoc Anh, Dias, D., Oreste, P.P. and Djeran -  
Maigre, I. (2014c). Three - dimensional  
numerical simulation for a twin mechanized  
78  
Đặng Văn Kiên và nnk/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(4), 68 - 78  
Technology, 71: 440 - 454.  
Nguyễn Tăng Thanh và Trần Nguyễn Hoàng Hùng,  
(2011). Đặc trưng của đất - xi dùng công nghệ  
phụt vữa cao áp (Jet - Grouting) để giảm lún bề  
mặt khi thi công tuyến Metro số 1 bằng máy  
khiên đào TBM ở TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Giao  
thông vận tải (12/2011), 23 - 26;  
Do Ngoc Anh, D. Dias, Z. Zhang, X. Huang, T. T.  
Nguyen, V. V. Pham and O. Nait - Rabah, (2020).  
"Study on the behavior of squared and sub -  
rectangular tunnels using the Hyperstatic  
Reaction Method, Transportation Geotechnics,  
vol. 22.  
Nguyễn Thế Phùng, Nguyễn Quốc Hùng, (2004).  
Thiết kế công trình giao thông ngầm, Nhà xuất  
bản Giao thông vận tải.  
Molins C, Arnau O., (2011). Experimental and  
analytical study of the structural response of  
segmental 3 tunnel linings based on an in situ  
loading test 4 Part 1: Test configuration and  
Nguyễn Xuân Mãn, Nguyễn Ngọc Huệ, Phạm Đức  
Hinh, Nguyễn Hải Hưng, Trần Tuấn Minh,  
Nguyễn Duyên Phong, (2015). Cơ sở xây dựng  
hệ thống tàu điện ngầm đô thị, Hội thảo Viện  
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện  
Cơ học và tin học ứng dụng, Hồ Chí Minh, 2015.  
execution.  
Tunneling  
technology  
and  
underground space, 26 (6): 764 - 777.  
Nakamura H., Kubota T., Furukawa M., (2003).  
Unified construction of running track tunnel  
andcrossovertunnelforsubwaybyrectangular  
shape double track cross - section shield  
machine. Tunnelling and Underground Space  
Technology, 18(2): 253 - 262.  
NguyễnXuânMãn,(2012).Nghiêncứuxâydựnghệ  
thốngmetrotạithànhphố HàNội. Báocáo đềtài  
cấp Bộ. Viện Cơ học và tin học ứng dụng, Hồ Chí  
Minh.  
Nguyễn Anh Tuấn, Lê Thanh Bình, (2012). Phân  
tích ảnh hưởng lún của việc xây dựng đường  
hầm metro đến các công trình lân cận khu vực  
TP.HCM. Tạp chí Giao thông vận tải số tháng  
9/2012.  
Oreste, P.P., (2007). A numerical approach to the  
hyperstatic reaction method for the  
dimenshioning of tunnel supports. Tunnelling  
andUndergroundSpaceTechnology,22,pp185  
- 205.  
Nguyễn Anh Tuấn, (2017). Phân tích ổn định khối  
đất trước gương hầm. LATS Kỹ Thuật. Đại học  
Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh. Hồ Chí  
Minh - 2017.  
Đoàn Thế Tường, (2012). Một số vấn đề địa kỹ  
thuật môi trường trong xây dựng hầm tầu điện  
ngầm ở Việt Nam, Tạp chí khoa học công nghệ  
xây dựng số 2/2012.  
Nguyễn Quang Dũng, (2013). Nghiên cứu rung  
động và biện pháp giảm rungđộng trong nền do  
khai thác hệ thống tàu điện ngầm. LATS Kỹ  
thuật. Học Viện Kỹ thuật quân sự. Hà Nội.  
Phan Sỹ Liêm và Nguyễm Bá Hoàng, (2016). Sử  
dụngcôngnghệJet- Grouting giacố xungquanh  
hầm bảo vệ công trình móng nông tại tuyến  
Đường sắt Đô thị số 1 – TP.HCM. Tạp chí Khoa  
học Công nghệ Giao thông vận tải, 26 - 30.  
Nguyen Tai Tien, Do Ngoc Anh, Karasev Maxim  
Anatolyevich, Dang Van Kien, Daniel Dias,  
(2020). Tunnel Shape Influence on the Tunnel  
Zhang Z., Zhu Y., Huang X., (2019). Standing full -  
scale loading tests on the mechanical behavior  
ofaspecial- shapeshieldliningundershallowly  
Lining Behavior, Proceeding of ICE  
-
Geotechnical Engineering.  
-
buried conditions. Tunnelling and  
Underground Space Technology, 86(1): 34 - 50.  
pdf 11 trang Thùy Anh 17100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tổng quan về vỏ hầm metro tiết diện ngang hình chữ nhật cong", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tong_quan_ve_vo_ham_metro_tiet_dien_ngang_hinh_ch.pdf