Đo lường cảm nhận hạnh phúc của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
MEASURING WELL-BEING FOR STUDENTS AT UNIVERSITIES  
IN DA NANG, VIET NAM  
Dinh Thi Thi, Le Thai Phuong*  
Da Nang Architecture University  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
The study aims to build a sense of well-being on the scale of students'  
perceived happiness at universities in Da Nang city. It was based on the  
PERMA model of sense of well-being. A total of 546 students from the  
universities in Da Nang participated in this survey. Data were processed  
by SPSS 20 and AMOS 20. The results have demonstrated that the  
structure of well-being is similar to previous studies. It consists of five  
main factors, including: positive emotions, engagement, relationships,  
meaning, and accomplishment. This shows that the PERMA model of  
well-being is suitable for many different types of objects and in  
different cultural contexts. Besides that, the study has demonstrated that  
students' perception of happiness at universities in Da Nang is quite  
high, and there was no difference in perceived happiness by gender or  
among students at universities, but there was a difference in students  
across the academic years.  
Received:  
Revised:  
18/12/2021  
28/12/2021  
28/12/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Well-being  
Student  
University  
PERMA  
Da Nang  
ĐO LƯỜNG CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG  
ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG, VIỆT NAM  
Đinh Thị Thi, Lê Thái Phượng*  
Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 18/12/2021  
Ngày hoàn thiện: 28/12/2021  
Ngày đăng: 28/12/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm xây dựng thang đo cảm nhận hạnh phúc của sinh  
viên tại các trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng dựa trên  
mô hình cảm nhận hạnh phúc PERMA. Tổng cộng có 546 sinh viên  
tham gia khảo sát thuộc các trường Đại học tại Đà Nẵng. Dữ liệu được  
xử lý bằng SPSS 20 và AMOS 20. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu  
trúc của cảm nhận hạnh phúc tương tự như những nghiên cứu trước;  
gồm 5 thành tố chính là cảm xúc tích cực (positive emotions), sự gắn  
kết (engagement), mối quan hệ (relationships), ý nghĩa (meaning) và  
thành tựu (accomplishment). Điều này thể hiện rằng mô hình cảm nhận  
hạnh phúc PERMA có khả năng phù hợp với nhiều dạng khách thể và  
trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng  
cho thấy cảm nhận hạnh phúc của sinh viên tại các trường Đại học tại  
Đà Nẵng khá cao; không có sự khác biệt về mức độ cảm nhận hạnh  
phúc theo giới tính hay ở sinh viên các Trường nhưng có sự khác biệt ở  
sinh viên các năm học.  
TỪ KHÓA  
Cảm nhận hạnh phúc  
Sinh viên  
Đại học  
PERMA  
Đà Nẵng  
* Corresponding author. Email: [email protected]n  
288  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Đặt vấn đề  
Hạnh phúc là mục tiêu và động lực thúc đẩy của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Chính vì thế hạnh  
phúc đã trở thành đối tượng nghiên cứu, thảo luận của nhiều ngành như triết học, xã hội học, tâm lý  
học và cả kinh tế học. Cảm nhận hạnh phúc (CNHP) được tiếp cận theo hai cách truyền thống là  
CNHP thụ hưởng (hedonic well-being) và CNHP bản chất (eudaimonic well-being) [1].  
CNHP thụ hưởng còn được gọi là CNHP chủ quan (subjective well-being) và được tạo thành  
bởi 3 yếu tố là sự hài lòng trong cuộc sống, sự hiện diện của những ảnh hưởng tích cực và sự  
vắng mặt của những ảnh hưởng tiêu cực [2]. Một người thường xuyên trải qua những cảm xúc  
tích cực, ít gặp phải những cảm xúc tiêu cực và hài lòng khi đánh giá về cuộc sống của mình  
nghĩa là họ đang có CNHP chủ quan cao [3].  
CNHP bản chất tập trung vào nhu cầu của con người. Nó xuất phát từ việc cho rằng con người  
có những nhu cầu tâm lý như cảm giác ý nghĩa trong cuộc sống của họ, quyền tự chủ, sự kết nối với  
người khác. Nếu những nhu cầu được đáp ứng thì cá nhân có thể đạt được cảm giác hạnh phúc. Một  
đại diện tiêu biểu của cách tiếp cận hạnh phúc bản chất là Carol Ryff đã cho rằng hạnh phúc không  
chỉ là có được niềm vui mà còn là sự nỗ lực vươn lên để hoàn thiện bản thân, khiến cho những tiềm  
năng thật sự của bản thân được phát triển [4]. Hạnh phúc bắt nguồn từ việc xác định các kỹ năng,  
năng lực và điểm mạnh của bản thân; sau đó trau dồi nó để giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn [5].  
CNHP bản chất và CNHP hưởng thụ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng cũng có sự khác  
biệt. Trong khi CNHP thụ hưởng liên quan đến sự hưởng thụ cảm xúc tích cực, tránh xa những cảm  
xúc tiêu cực thì cảm nhận hạnh phúc bản chất lại liên quan đến sự nỗ lực vượt qua thử thách [6].  
CNHP bản chất nhấn mạnh rằng mọi người cần phải thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau để được  
hạnh phúc ngoài nhu cầu trải nghiệm hạnh phúc và tránh những cảm xúc tiêu cực. Các hành vi  
không tốt như sử dụng ma túy hay tham gia những hoạt động thiếu đạo đức không thể dẫn đến hạnh  
phúc thực sự vì cá nhân không thỏa mãn được các nhu cầu như nhu cầu kết nối với người khác hay  
sự ý nghĩa của cuộc sống. Từ những phân tích này, tác giả đồng ý với quan điểm của Seligman khi  
xem CNHP là sự hiện diện của năm yếu tố chính gồm cảm xúc tích cực (positive emotions), sự gắn  
kết (engagement), mối quan hệ (relationships), ý nghĩa (meaning) và thành tựu (accomplishment); các  
yếu tố được đo lường bởi mô hình PERMA [7]. Mô hình PERMA về CNHP có thể coi là sự kết hợp  
của hai cách tiếp cận CNHP vì ảnh hưởng tích cực là yếu tố đầu tiên trong năm yếu tố của mô hình.  
Đối với sinh viên, thời gian theo học tại trường đại học là một giai đoạn quan trọng và nhiều  
thách thức bởi sự chuyển tiếp từ môi trường phổ thông sang môi trường đại học. Sinh viên phải  
chủ động nhiều hơn trong cuộc sống cũng như trong học tập; phải tiếp nhận một khối kiến thức  
lớn; phải đối mặt với những mối quan hệ xã hội và những quan niệm mới về nghề nghiệp… Do  
đó, vấn đề tâm lý của sinh viên, đặc biệt là CNHP của sinh viên đã được nhiều tác giả trên thế  
giới và trong nước quan tâm [8]-[10]. Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng năm khía cạnh chính  
của hạnh phúc theo mô hình PERMA [11]-[17]. Một số nghiên cứu gần đây còn quan tâm đến  
CNHP của sinh viên trong tình hình COVID-19 [18]-[20].  
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về CNHP của sinh viên còn hạn chế về số lượng và phương pháp  
nghiên cứu. Các nghiên cứu chủ yếu Việt hóa thang đo CNHP để đánh giá thực trạng CNHP của  
sinh viên trong bối cảnh gia đình, nhà trường và các yếu tố ảnh hưởng [21]. Chính vì vậy, nghiên  
cứu này nhằm xây dựng thang đo CNHP của sinh viên thông qua việc thích ứng thang đo PERMA  
đối với khách thể là sinh viên các trường Đại học tại thành phố Đà Nẵng. Điều này sẽ góp thêm vào  
nền tảng lý luận về CNHP nói chung và CNHP của sinh viên nói riêng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng  
thực hiện đánh giá CNHP của sinh viên các trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết  
quả nghiên cứu sẽ định hướng cho các trường Đại học nâng cao hơn nữa CNHP của sinh viên.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thang đo lường  
Nghiên cứu kế thừa thang đo PERMA do Butler và Kern phát triển [17]. Cảm nhận hạnh phúc  
được đo lường qua 5 khía cạnh là cảm xúc tích cực (positive emotions), sự gắn kết (engagement),  
289  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
mối quan hệ (relationships), ý nghĩa (meaning) và thành tựu (accomplishment). Thang đo Likert  
11 mức độ được sử dụng (từ 0 - Không bao giờ đến 10 – Luôn luôn).  
Để thang đo đảm bảo nội dung khi chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Việt và phù hợp với khách  
thể là sinh viên, tác giả thực hiện xây dựng thang đo theo 4 bước. Bước 1: Dịch từ tiếng Anh  
sang Việt bởi hai người độc lập. Bước 2: Điều chỉnh các câu hỏi. Bước 3: Khảo sát thử 10 sinh  
viên để kiểm tra mức độ hiểu của sinh viên đối với các câu hỏi. Bước 4: Hoàn thiện thang đo.  
Thang đo sau khi hoàn thiện được trình bày cụ thể ở Bảng 1.  
Bảng 1. Thang đo cảm nhận hạnh phúc của sinh viên  
Thang đo  
Mã hóa  
P
Cảm xúc tích cực  
Khi học ở trường Đại học, bạn có thường xuyên cảm thấy vui vẻ không ?  
Khi học ở trường Đại học, bạn có thường xuyên cảm thấy phấn chấn không ?  
Bạn có cảm thấy hài lòng khi học ở trường Đại học không ?  
Sự gắn kết  
PM1  
PM2  
PM3  
E
Bạn có thường xuyên dành nhiều tâm sức cho việc học ở Trường Đại học không ?  
Bạn có cảm thấy hứng thú với việc học ở Trường Đại học không ?  
Bạn có thường xuyên bị cuốn vào việc học đến quên cả thời gian không ?  
Mối quan hệ  
EN1  
EN2  
EN3  
R
Ở Trường Đại học, bạn có thường xuyên nhận được sự giúp đỡ của người khác khi bạn cần không?  
Ở trường Đại học, bạn có cảm thấy được quan tâm không ?  
Bạn có hài lòng với các mối quan hệ cá nhân ở Trường Đại học không ?  
Ý nghĩa  
RE1  
RE2  
RE3  
M
Bạn có thường xuyên cảm thấy bản thân sống có định hướng và có ý nghĩa không ?  
Bạn có nghĩ việc học Đại học của mình tạo ra được giá trị cho cuộc sống không ?  
Bạn có nghĩ bản thân đã phát triển đúng mục tiêu đặt ra không ?  
Thành tựu  
ME1  
ME2  
ME3  
A
Khi học ở trường, bạn có cảm thấy mình thường xuyên tiến bộ không ?  
Bạn có thường xuyên đạt được những mục tiêu học tập đề ra không ?  
Bạn có thường xuyên hoàn thành trách nhiệm học tập của mình không ?  
AC1  
AC2  
AC3  
(Nguồn: Điều chỉnh từ thang đo PERMA của Butler và Kern [17])  
2.2. Dữ liệu nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện dựa trên tiêu chí là tính dễ tiếp cận. Việc  
khảo sát được thực hiện bằng hai hình thức là khảo sát trực tiếp và khảo sát trực tuyến bằng Google  
Form. Đối tượng khảo sát là sinh viên của các trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
Về cỡ mẫu của nghiên cứu, đối với phân tích nhân tố khám phá EFA thì kích thước mẫu tối  
thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát [22]. Nghiên cứu này có 15 biến quan sát cho 5 khía cạnh  
nên số mẫu tối thiểu là 75 mẫu. Thực tế, cuộc khảo sát được thực hiện từ ngày 12 tháng 11 năm  
2021 đến 30 tháng 11 năm 2021 và thu được 573 mẫu, trong đó có 546 mẫu đạt yêu cầu (đạt tỷ lệ  
95,3%) và 27 mẫu không đạt yêu cầu do số lượng câu trả lời bị bỏ trống quá nhiều. Đặc điểm  
mẫu nghiên cứu được trình bày tại Bảng 2.  
Bảng 2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Đặc điểm  
Giới tính  
Nam  
Số lượng  
546  
226  
320  
546  
153  
155  
98  
Tỷ lệ  
100,0  
41,4  
58,6  
100,0  
28,0  
28,4  
17,9  
13,0  
12,6  
Đặc điểm  
Trường Đại học  
Đại học Bách Khoa  
Đại học Kinh tế  
Đại học Sư phạm  
Đại học Ngoại ngữ  
Đại học Kiến trúc ĐN  
Đại học Duy Tân  
Đại học Đông Á  
Số lượng  
546  
66  
Tỷ lệ  
100,0  
12,1  
30,6  
10,4  
8,4  
9,3  
13,9  
6,6  
Nữ  
167  
57  
46  
51  
76  
36  
41  
Trình độ năm học  
Năm thứ nhất  
Năm hai  
Năm ba  
Năm tư  
Năm năm  
71  
69  
Đại học FPT  
7,5  
Các trường Đại học khác  
6
1,1  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
290  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
2.3. Phương pháp xử lý dữ liệu  
Nghiên cứu sử dụng SPSS 20.0 và AMOS 20.0 để xử lý dữ liệu với 4 phương pháp phân tích  
chính gồm:  
- Thống kê mô tả: Thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu và đánh giá CNHP của sinh viên qua  
điểm đánh giá trung bình.  
- Phân tích Cronbach‟s Alpha: Kiểm định độ tin cậy của thang đo CNHP.  
- Phân tích nhân tố khám phá EFA: Khám phá các thành tố của CNHP.  
- Phân tích nhân tố khẳng định CFA: Đánh giá giá trị của thang đo CNHP.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Phân tích Cronbach’s Alpha  
Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach‟s Alpha của các thang đo nằm trong khoảng từ  
0,820 đến 0,919 và hệ số tương quan biến – tổng thấp nhất là 0,601 (Bảng 3). Như vậy, tất cả các  
thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy để đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA.  
Bảng 3. Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Thang đo  
Hệ số Cronbach’s Alpha  
Tương quan biến – tổng  
PM1  
PM2  
PM3  
EN1  
EN2  
EN3  
RE1  
RE2  
RE3  
ME1  
ME2  
ME3  
AC1  
AC2  
AC3  
0,857  
0,840  
0,804  
0,882  
0,859  
0,782  
0,789  
0,796  
0,749  
0,687  
0,718  
0,777  
0,694  
0,736  
0,601  
Cảm xúc tích cực (P)  
0,917  
Sự gắn kết (E)  
Mối quan hệ (R)  
Ý nghĩa (M)  
0,919  
0,886  
0,852  
Thành tựu (A)  
0,820  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA  
Kết quả phân tích EFA cho thấy dữ liệu nghiên cứu phù hợp (KMO = 0,836; sig = 0,000) và 5  
thành phần được trích xuất tại hệ số eigenvalue = 1,158; tổng phương sai trích = 81,614% (Bảng  
4). Các biến quan sát của mỗi thành phần đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 nên thang đo đảm  
bảo tính hội tụ và phân biệt (Bảng 5).  
Bảng 4. Kết quả phân tích EFA  
Chỉ số  
Mức độ chấp nhận [23]  
KMO ≥ 0,5  
Kết quả  
0,836  
KMO  
Sig.  
Sig. ≤ 0,05  
0,000  
Eigenvalue  
Phương sai trích  
Eigenvalue ≥ 1,0  
Phương sai trích ≥ 50%  
1,158  
81,614%  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
Bảng 5. Hệ số tải nhân tố  
Thang đo  
Sự gắn kết (P)  
0,988  
Cảm xúc tích cực (E) Mối quan hệ (R) Ý nghĩa (M) Thành tựu (A)  
EN1  
EN2  
EN3  
0,873  
0,807  
291  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
Thang đo  
PE2  
Sự gắn kết (P)  
Cảm xúc tích cực (E) Mối quan hệ (R) Ý nghĩa (M) Thành tựu (A)  
0,934  
PE1  
0,929  
PE3  
0,783  
RE1  
0,952  
RE2  
0,814  
RE3  
0,751  
ME3  
ME2  
ME1  
AC2  
AC1  
AC3  
0,955  
0,806  
0,672  
0,887  
0,792  
0,656  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
3.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Hình 1. Kết quả phân tích CFA  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
Kết quả phân tích CFA (Hình 1) cho thấy:  
- Các chỉ số đều đạt yêu cầu nên mô hình nghiên cứu phù hợp (Bảng 6).  
- Độ tin cậy tổng hợp đều lớn hơn 0,6 và phương sai trích đều lớn hơn 0,5 nên các khái niệm  
nghiên cứu đạt giá trị hội tụ (Bảng 7).  
- Căn bậc hai AVE của từng khái niệm đều lớn hơn hệ số tương quan giữa khái niệm đó với  
các khái niệm còn lại nên các cấu trúc đạt giá trị phân biệt (Bảng 7).  
Bảng 6. Kết quả phân tích CFA  
Chỉ số  
Chisq/df  
GFI  
TLI  
CFI  
Mức độ chấp nhận [24]  
Chisq/df ≤ 5,0  
Kết quả  
4,163  
0,923  
0,941  
0,955  
0,076  
GFI ≥ 9,90  
TLI ≥ 9,90  
CFI ≥ 9,90  
RMSEA ≤ 0,08  
RMSEA  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
292  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 7. Kết quả phân tích tính hội tụ và phân biệt  
Hệ số tương quan giữa các khái niệm  
Thang đo  
CR  
AVE  
P
E
R
M
A
P
E
R
M
A
0,919  
0,925  
0,885  
0,858  
0,825  
0,790  
0,806  
0,721  
0,670  
0,614  
0,889  
0,531  
0,587  
0,429  
0,259  
0,898  
0,405  
0,404  
0,277  
0,849  
0,440  
0,214  
0,819  
0,335  
0,784  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
Ghi chú: căn bậc hai của AVE nằm trên đường chéo chính  
Như vậy, thang đo PERMA gồm 15 biến quan sát thuộc 5 thành tố do Butler và Kern phát  
triển có sự tương thích với khách thể nghiên cứu. Thang đo này có thể được sử dụng để đo lường  
cảm nhận hạnh phúc của sinh viên các Trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
3.4. Đo lường CNHP của sinh viên  
Với thang đo 11 mức độ thì điểm đánh giá trung bình của sinh viên là 7,38/10 điểm. Như vậy,  
nhìn chung cảm nhận hạnh phúc của sinh viên các Trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà  
Nẵng là khá tốt. Điểm đánh giá cụ thể của từng khía cạnh được hiển thị ở Hình 2.  
- Thành tựu (accomplishment) được sinh viên đánh giá cao nhất với điểm trung bình là  
7,72/10 điểm. Sinh viên nhận thấy bản thân đã hoàn thành trách nhiệm học tập (8,10/10 điểm), có  
sự tiến bộ (7,63/20 điểm) và đạt được mục tiêu học tập đề ra (7,41/10 điểm).  
- Ý nghĩa (meaning) được sinh viên đánh giá với điểm trung bình là 7,53 điểm/10 điểm. Sinh  
viên cảm thấy việc học Đại học của bản thân tạo ra giá trị cho cuộc sống (8,02/10 điểm); bản thân  
đã phát triển đúng mục tiêu đề ra (7,29/10 điểm); bản thân sống có định hướng và có ý nghĩa  
(7,28 điểm).  
- Mối quan hệ (relationships) được sinh viên đánh giá với điểm trung bình là 7,27/10 điểm.  
Sinh viên cảm thấy thường xuyên nhận được sự giúp đỡ khi cần thiết (7,43/10 điểm); hài lòng với  
các mối quan hệ cá nhân ở Trường Đại học (7,39 điểm); được quan tâm (6,98/10 điểm).  
- Cảm xúc tích cực (positive emotions) được sinh viên đánh giá với điểm trung bình là 7,22/10  
điểm. Sinh viên cảm thấy hài lòng khi học ở Trường Đại học (7,57/10 điểm); thường xuyên cảm  
thấy vui vẻ (7,17/10 điểm); thường xuyên cảm thấy tích cực (6,93/10 điểm).  
- Sự gắn kết (engagement) được sinh viên đánh giá với điểm trung bình là 7,14/10 điểm. Sinh  
viên thường xuyên dành nhiều tâm sức cho việc học Đại học (7,38/10 điểm); cảm thấy hứng thú  
với việc học (7,28); bị cuốn vào việc học đến quên cả thời gian (6,77/10 điểm).  
Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên  
10  
7,7  
7,5  
9
8
7,2  
7,2  
7,1  
7
6
5
P
E
R
M
A
Hình 2. Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
293  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
Ngoài ra, kết quả phân tích ANOVA cho thấy cảm nhận hạnh phúc của sinh viên không có sự  
khác biệt theo giới tính và Trường Đại học nhưng lại có sự khác biệt theo năm học. Sinh viên năm  
thứ nhất và năm cuối có xu hướng cảm nhận hạnh phúc cao hơn sinh viên các năm khác (Bảng 8).  
Bảng 8. Cảm nhận hạnh phúc của sinh các năm học  
Năm học  
P
E
R
M
A
Trung bình  
8,08  
8,17  
6,07  
6,31  
8,14  
8,07  
7,84  
6,15  
6,39  
8,10  
7,92  
8,03  
6,08  
6,57  
8,17  
8,29  
8,27  
6,67  
6,73  
8,01  
8,47  
8,08  
7,28  
7,23  
8,25  
8,02  
1
2
3
4
5
6,45  
6,65  
8,13  
8,15  
(Nguồn: Kết quả khảo sát)  
4. Kết luận và hàm ý  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình cảm nhận hạnh phúc PERMA và thang đo được phát  
triển bởi Butler và Kern có sự tương thích lớn với khách thể là sinh viên các Trường Đại học trên  
địa bàn thành phố Đà Nẵng và trong bối cảnh hiện tại. Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên gồm 5  
thành tố chính là cảm xúc tích cực (positive emotions), sự gắn kết (engagement), mối quan hệ  
(relationships), ý nghĩa (meaning) và thành tựu (accomplishment). Mỗi thành tố được đo lường  
bằng 3 biến quan sát tương ứng.  
Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên các Trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là  
khá cao; đặc biệt là cảm nhận của sinh viên về thành tựu đạt được cũng như ý nghĩa của việc học  
Đại học. Tuy nhiên, một số khía cạnh hạnh phúc vẫn chưa được sinh viên cảm nhận tốt như cảm  
nhận sự quan tâm khi học ở Trường hay những cảm xúc tích cực, lạc quan khi đến Trường.  
Sinh viên nam và nữ hay sinh viên ở các Trường Đại học khác nhau không có sự khác nhau về  
cảm nhận hạnh phúc nhưng sinh viên ở các năm học khác nhau thì lại có cảm nhận hạnh phúc  
khác nhau. Sinh viên năm đầu và năm cuối có cảm nhận hạnh phúc cao hơn ở cả 5 khía cạnh.  
Ngoài nguyên nhân từ tâm lý sinh viên thì có thể từ phía Nhà trường, Thầy cô. Sinh viên năm đầu  
và năm cuối có thể nhận được sự định hướng, quan tâm nhiều hơn nên cảm nhận hạnh phúc cao  
hơn. Điều này là một vấn đề mà Nhà trường cần nghiên cứu sâu hơn để làm rõ và định hướng để  
nâng cao cảm nhận hạnh phúc cho các em sinh viên một cách đồng đều hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] H. N. Dang, “Adapting the Carol Ryff Scales of Psychological Well-being for Students,” (in  
Vietnamese), Psychology Journal, vol. 215, no. 2, pp. 77-89, 2017.  
[2] T. Gregory and S. Brinkman, “Development of the Australian Student Wellbeing survey: Measuring the  
key aspects of social and emotional wellbeing during middle childhood,” 2015. [Online]. Available:  
report.pdf?acsf_files_redirect. [Accessed October 20, 2021].  
[3] E. Diener, E. M. Suh, R. E. Lucas, and H. L. Smith, “Subjective well-being: Three decades of  
progress,” Psychological Bulletin, vol. 125, no. 2, pp. 276-302, 1999.  
[4] C. D. Ryff, “Happiness is eivrything. or is il? Explorations on the meaning of psychological Well-  
Being,” Journal of Personality and Social Psychology, vol. 57, no. 6, pp. 1069-1081, 1989.  
[5] C. Peterson, N. Park, and M. Seligman, “Orientations to happiness and life satisfaction: The full life  
versus the empty life,” Journal of Happiness Studies, vol. 6, no. 1, pp. 25-41, 2005.  
[6] L. H. Dao, “Youth Well-Being - A Multi-pronged Research,” (in Vietnamese), Psychology Journal,  
vol. 255, no. 6, pp. 43-55, 2020.  
[7] M. E. P. Seligman, Flourish: A Visionary New Understanding of Happiness and Wellbeing. New York:  
Free Press, 2011.  
[8] F. Aulia, T. D. Hastjarjo, D. Setiyawati, and B. Patria, “Student Well-being: A Systematic Literature  
Review,” Buletin Psikologi, vol. 28, no. 1, pp. 1-14, 2020.  
[9] T. Hascher, “Quantitative and qualitative research approaches to assess student well-being,”  
International Journal of Educational Research, vol. 47, no. 2, pp. 84-96, 2008.  
294  
226(18): 288 - 295  
TNU Journal of Science and Technology  
[10] A. Stanton, D. Zandvliet, R. Dhaliwal, and T. Black, “Understanding Students‟ Experiences of Well-  
Being in Learning Environment,” Higher Education Studies, vol. 6, no. 3, pp. 90-99, 2016.  
[11] M. L. Kern, L. E. Waters, A. Adler, and M. A. White, “A multidimensional approach to measuring  
well-being in students: Application of the PERMA framework,” The Journal of Positive Psychology,  
vol. 10, no. 3, pp. 262-271, 2015.  
[12] W. C. C. Au and K. J. Kennedy, “A Positive Education Program to Promote Wellbeing in Schools: A  
Case Study from a Hong Kong School,” Higher Education Studies, vol. 8, no. 4, pp. 9-22, 2018.  
[13] J. K. Coffey, L. W. Lake, D. Mashek, and B. Branand, “A Multi-Study Examination of Well-Being  
Theory in College and Community Samples,” Journal of Happiness Studies: An Interdisciplinary  
Forum on Subjective Well-Being, vol. 17, no. 1, pp. 187-211, 2016.  
[14] L. Yang and R. Bin, and S. Mohd, “Exploratory and Confirmatory Factor Analysis of PERMA for  
Chinese University EFL Students in Higher Education,” International Journal of Language Education,  
vol. 5, no. 2, pp. 51-62, 2021.  
[15] T. N. Tansey, S. Smedema, E. Umucu, K. Iwanaga, J. -R. Wu, E. S. Cardoso, and D. Strauser,  
“Assessing College Life Adjustment of Students With Disabilities: Application of the PERMA  
Framework,” Rehabilitation Counseling Bulletin, vol. 61, no. 3, pp. 131-142, 2017.  
[16] E. Umucu, J. -R. Wu, J. Sanchez, J. M. Brooks, C. -Y. Chiu, W. -M. Tu, and F. Chan, “Psychometric  
validation of the PERMA-profiler as a well-being measure for student veterans,” Journal of American  
college health, vol. 68, no. 3, pp. 271-277, 2020.  
[17] J. Butler and M. L. Kern, “The PERMA-Profiler: A brief multidimensional measure of flourishing,”  
International Journal of Wellbeing, vol. 6, no. 3, pp. 1-48, 2016.  
[18] P. R. Prasath, P. C. Mather, C. S. Bhat, and J. K. James, “University Student Well-Being During  
COVID-19: The Role of Psychological Capital and Coping Strategies,” The Professional Counselor,  
vol. 11, no. 1, pp. 46-60, 2021.  
[19] B. Morgan and L. Simmons, “A „PERMA‟ Response to the Pandemic: An Online Positive Education  
Programme to Promote Wellbeing in University Students,” Frontiers in Education, vol. 6, pp. 1-10, 2021.  
[20] G. Wasowicz, S. Mizak, J. Krawiec, and W. Białaszek, “Mental Health, Well-Being, and  
Psychological Flexibility in the Stressful Times of the COVID-19 Pandemic,” Frontiers in  
Psychology, vol. 12, pp. 1-9, 2021.  
[21] V. T. Nguyen and H. A. T. Nguyen, “Subjective well-being among students of Faculty of Education,  
University of Social Sciences and Humanities National University of Ho Chi Minh,” (in Vietnamese),  
Journal of Education and Society, Special Issue, pp. 149-155, 2020.  
[22] J. Hair, W. Black, B. Babin, R. Anderson, and R. Tatham, Multivariate data analysis, New Jersey:  
PrenticeHall International Inc, 2006.  
[23] D. T. Nguyen, The scientific method in business research. Viet Nam, Ho Chi Minh: Finance  
Publishing House, 2013.  
[24] N. K. G. Ha and N. V. Bui, Postgraduate course Scientific research methods in business - Smart PLS  
update. Viet Nam, Ha Noi: Finance Publishing house, 2019.  
295  
pdf 8 trang Thùy Anh 18100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đo lường cảm nhận hạnh phúc của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_luong_cam_nhan_hanh_phuc_cua_sinh_vien_tai_cac_truong_dai.pdf