Bàn luận và đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

BÀN LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA  
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM  
TS.Hoàng Văn Long & ThS.Nguyễn Trọng Tín  
Khoa Quản trị, Trường Đại học Luật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) nâng cao kỹ năng trong quá  
trình công tác (giảng dạy và NCKH) của giảng viên, các nhà quản trị trường học cần có cái  
nhìn tổng thể về những nhân tố tác động đến động lực NCKH từ đó đề ra các giải pháp, chính  
sách thiết thực, cụ thể khi đã xác định, đo lường được các nhân tố trên. Bài báo đề xuất mô  
hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực NCKH của giảng viên Trường Đại học  
Luật TP. HCM dựa trên các cơ sở lý thuyết cũng như các công trình khoa học có liên quan, bên  
cạnh đó phát triển các giả thuyết nghiên cứu cho mô hình nêu trên.  
1. Giới thiệu tổng quan  
Thực tiễn trong các tổ chức, doanh nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên nhiều  
nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất) và tài lực (nguồn lực  
về tài chính, tiền tệ), vv…song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát  
triển. Đối với tổ chức, việc tạo động lực lao động có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích  
nhân viên làm việc hết mình. Tuy nhiên, các nhà quản lý lại quan tâm nhiều đến lợi nhuận của  
công ty nên luôn mong muốn giảm thiểu mọi chi phí. Nhưng nếu các nhà quản lý có sự đánh  
giá chính xác các yếu tố giúp nâng cao động lực lao động của nhân viên, doanh nghiệp sẽ thu  
hút được nhiều lao động có trình độ tay nghề cao hơn trong thị trường lao động cạnh tranh.  
Người lao động làm việc hăng say hơn sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn và sẽ gắn bó lâu  
dài với doanh nghiệp, tổ chức có điều kiện làm việc tốt nhất.  
Các cơ sở giáo dục cũng không ngoại lệ, để phát triển và khẳng định thương hiệu của  
cơ sở giáo dục, ngoài những các công việc chính như đào tạo (giảng dạy) được đầu tư và ngày  
càng nâng cao thì việc nghiên cứu khoa học đóng một vai trò quan trọng và luôn bổ trợ lẫn  
nhau trong quá trình giảng dạy, hơn thế nữa động lực nghiên cứu khoa học và công bố kết quả  
nghiên cứu khoa học trên các tạp chí uy tín trong cũng như ngoài nước góp phần khẳng định  
trước hết là bản thân người làm công tác nghiên cứu khoa học và hơn thế nữa là cơ sở giáo dục,  
đào tạo có số lượng cũng như chất lượng công bố quốc tế để lọt vào các bảng xếp hạng uy tín  
80  
nhằm nâng cao vị thế của đơn vị đào tạo trong nước cũng như trên thế giới.  
2. Khái niệm và tổng qua tình hình nghiên cứu có liên quan  
2.1. Khái niệm  
Thứ nhất về động lực: Có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc, mỗi khái niệm đều  
có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nêu lên được bản chất của động lực làm  
việc. Kreitner (1995) “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân  
theo mục đích nhất định”. Higgins (1994): “Động lực là lực đẩy bên trong cá nhân để đáp ứng  
các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Bedeian (1993): “Động lực là sự cố gắng để đạt được mục  
tiêu”. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Động lực làm việc là sự khát khao và tự  
nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ  
thể”. Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động. Khi con  
người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu  
mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác  
nhau vì vậy nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động.  
Trần Kim Dung (2009): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích  
thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu  
hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của  
tổ chức, cũng như bản thân người lao động”.  
Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra cách hiểu chung nhất về động lực như sau:  
Động lực của con người là sự tác động tổng hợp các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng  
thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục  
tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức. Khi con người có động lực tốt, họ sẽ quyết tâm hơn và tự  
giác hơn, có sự hăng say, nỗ lực hơn trong quá trình làm việc nhằm đạt được những mục tiêu  
cá nhân và của tổ chức. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007): “Động lực là một  
tập hợp các thái độ ảnh hưởng đến một người hoạt động theo một cách có định hướng vào mục  
tiêu cụ thể”. Động lực do vậy là một trạng thái bên trong để tiếp sinh lực, chuyển đổi, và duy  
trì hành vi con người để đạt được các mục tiêu. Động lực làm việc gắn với các thái độ chuyển  
hành vi của con người hướng vào công việc và ra khỏi trạng thái nghỉ ngơi giải trí hoặc các  
lĩnh vực khác của cuộc sống. Động lực làm việc có thể thay đổi giống như những hoạt động  
khác trong cuộc sống thay đổi.  
Thứ hai về công tác tạo động lực làm việc: Các nhà quản lý trong tổ chức muốn xây  
dựng công ty, xí nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp kích thích người lao  
động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề về tạo  
động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Nguyễn Thanh Hội (2002): “Tạo động lực  
81  
làm việc là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao  
động, tác động đến khả năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao  
trong lao động”. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực  
trong lao động. Song trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó  
phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội.  
Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có  
hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.  
Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của người quản lý. Điều quan  
trọng nhất là thông qua các biện pháp chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát  
huy tiềm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Một khi người lao động có động lực làm việc  
thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Mà nó còn tạo ra sự  
gắn bó và thu hút lao động giỏi về với tổ chức.  
Từ phân tích trên có thể hiểu: Công tác tạo động lực làm việc là tất cả các biện pháp mà  
nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động, tác động  
đến tinh thần và thái độ làm việc của họ, nhằm mang lại hiệu quả cao trong lao động. Tuy  
nhiên, tùy vào mỗi tổ chức với những cơ chế đặc thù riêng sẽ tạo ra động lực lao động cho  
nhân viên ở những mức độ khác nhau, bằng nhiều cách khác nhau. Tạo động lực làm việc có  
vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên hành vi của người lao động. Khi có được  
động lực làm việc, người lao động sẽ có những hành vi tích cực trong công việc.Người lao  
động có động lực tích cực sẽ đạt được tâm lý làm việc thoải mái, nhẹ nhàng đồng thời cũng  
góp phần làm tăng năng suất lao động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn.  
Thứ ba về nghiên cứu khoa học: Từ những khái niệm, quan điểm về động lực và tạo  
động lực như phần trên, việc nghiên cứu khoa học của giảng viên mang tính đặc thù về nghề  
nghiệp, vậy khoa học bao gồm một hệ thống tri thức phản ánh bản chất, quy luật của các sự vật  
hiện tượng xuất hiện trong đời sống tự nhiên và xã hội. NCKH là quá trình nghiên cứu nhằm  
khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới… về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức  
hay học thuyết mới này có thể thay thế dần những kiến thức, học thuyết cũ không còn phù hợp  
với bối cảnh thực tiễn, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường tự  
nhiên và xã hội theo hướng có lợi nhất cho con người. NCKH là các thức mà con người tìm  
hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống (Babbie, 1969; Nguyễn Đình Thọ, 2011).  
NCKH gồm chuỗi các hoạt động liên tiếp bắt đầu từ việc quan sát, tổng hợp, phân tích, đánh  
giá, đúc rút ra một cách có căn cứ về bản chất, quy luật của các hiện tượng xuất hiện trong tự  
nhiên và đời sống, kinh tế - xã hội.  
2.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan  
82  
Tổng lược một số tình hình nghiên cứu về động lực làm việc cũng nhưng nghiên cứu  
khoa học, nhóm tác giả tiếp cận theo các nghiên cứu trong nước và nghiên cứu nước ngoài, cụ  
thể:  
Nghiên cứu trong nước: Động lực nghiên cứu khoa học là một vấn đề cấp thiết được  
nhiều nhà khoa học và quản lý giáo dục đặt ra trong thời gian gần đây, tuy nhiên, chủ yếu các  
nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mức tổ chức các hội thảo/tọa đàm để bàn luận về vấn đề này.  
Cụ thể, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại trường Đại học Luật TP.HCM,  
các nghiên cứu khác về chủ đề này tại Việt Nam cũng đã được công bố với số lượng rất hạn  
chế.  
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Nhã (2016) dựa vào lý thuyết Hành vi tự định (TPB -  
Theory of Planned Behavior) của Azjen (1991) để phát triển mô hình nghiên cứu các nhân tố  
ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên, bao gồm nhóm các  
biến về Nhận thức và động cơ về việc thực hiện NCKH, Chuẩn chủ quan Cảm nhận về kiểm  
soát hành vi trong NCKH (Năng lực cá nhân; Điều kiện và môi trường làm việc). Ngoài ra, các  
biến nhân khẩu học và năng lực của giảng viên cũng được thêm vào mô hình như: giới tính,  
tuổi, trình độ học vấn, thâm niên công tác. Kết quả khảo sát 125 giảng viên tại các trường cao  
đẳng công lập của thành phố Cần Thơ cho thấy, Môi trường làm việc và Nhận thức của giảng  
viên có tác động nhiều nhất đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của các giảng viên tại  
nhóm các trường này.  
Nghiên cứu của Cao Thị Thanh và Phạm Thị Ngọc Minh (2018) về động lực nghiên  
cứu của 183 giảng viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Kết quả cho thấy có ba nhân tố  
chính tác động đến động lực nghiên cứu là: Sự thích thú NCKH, Nhu cầu bản thân và Nhận  
thức về khả năng NCKH. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp để  
gia tăng động lực nghiên cứu cho giảng viên, bao gồm: tạo dựng niềm đam mê NCKH, có cơ  
chế ghi nhận, khen thưởng đúng mức và nâng cao khả năng NCKH cho giảng viên.  
Danh mục các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được xuất bản trong nước:  
Cao Thị Thanh và Phạm Thị Ngọc Minh (2018). Động lực nghiên cứu khoa học của  
giảng viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tạp chí Khoa học & Công nghệ.  
Huỳnh Thanh Nhã (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu  
khoa học của giảng viên các trường cao đẳng công lập ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học  
Trường Đại học Cần Thơ, 20-29.  
Lại Thị Phan Mai (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên  
trường Đại học kinh tế-Đại học Huế. Tạp chí Khoa học và Công nghệ.  
83  
Phạm Thị Tú Nga (2013). Thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động  
nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học Huế. Hue University Journal of Science (HU  
JOS).  
Nghiên cứu ngoài nước: Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu có liên quan như về động  
lực nghiên cứu khoa học, sau đây là một số nghiên cứu quan trọng:  
Nghiên cứu của Blackburn và Lawrence (1995) đã đưa ra mô hình về động cơ, sự mong  
đợi và sự thỏa mãn trong công việc của các giảng viên. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nhân  
tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu của giảng viên là: các yếu tố nhân khẩu học (giới tính,  
chủng tộc, tuổi tác …), chuyên môn nghề nghiệp (trường nơi giảng viên được đào tạo, thành  
tích nghiên cứu, kinh nghiệm, cấp bậc chuyên môn …) và môi trường làm việc (văn hóa  
nghiên cứu tại nơi làm việc, kinh phí, chế độ khen thưởng, hệ thống đánh giá năng lực làm việc  
của trường đại học đối với cá nhân …)  
Nghiên cứu của Sax và cộng sự (2002) đề xuất mô hình 5 nhân tố có thể tác động đến  
năng suất nghiên cứu của các giảng viên tại các trường đại học, bao gồm: các biến nhân khẩu  
học, đặc điểm nơi công tác, đặc điểm cá nhân (học hàm, lương bổng, định hướng nghiên cứu,  
stress, thái độ đối với nghiên cứu, sự mong mỏi có được sự công nhận từ người khác …), lĩnh  
vực nghiên cứu và nhóm các yếu tố về gia đình. Kết quả khảo sát của 8544 giảng viên của 57  
trường đại học toàn nước Mỹ cho thấy có 2 nhóm yếu tố tác động mạnh nhất đến động lực  
nghiên cứu của giảng viên là đặc điểm môi trường làm việc và đặc điểm cá nhân.  
Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2006) về động lực thực hiện nghiên cứu của các  
giảng viên ngành quản trị kinh doanh cho thấy các giảng viên chưa vào biên chế (untenured)  
được động viên nhiều hơn bởi các phần thưởng có giá trị vật chất, trong khi những giảng viên  
biên chế (tenured) được động viên nhiều hơn bởi các phần thưởng có giá trị tinh thần. Trong  
nghiên cứu này, các giảng viên được xem như là có điều kiện như nhau và có đầy đủ các nguồn  
lực và môi trường làm việc thích hợp để thực hiện nghiên cứu.  
Nghiên cứu của Azad và Seyyed (2007) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng  
suất nghiên cứu của 233 giảng viên tại các Tiểu vương quốc Ả Rập (GCC). Kết quả cho thấy  
có 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nghiên cứu là: các biến nhân khẩu học, năng lực  
cá nhân, môi trường làm việc và các mối quan tâm khác ngoài xã hội của giảng viên. Bên cạnh  
đó chúng tôi có tham khảo một số các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được xuất bản ở  
nước ngoài, cụ thể:  
Azad, A. N., & Seyyed, F. J. (2007). Factors influencing faculty research productivity:  
Evidence from AACSB accredited schools in the GCC countries. Journal of International  
Business Research; Blackburn, R. T., & Lawrence, J. H. (1995). Faculty at work: Motivation,  
84  
expectation, satisfaction. Johns Hopkins University Press; Bland, C. J., Center, B. A., Finstad,  
D. A., Risbey, K. R., & Staples, J. G. (2005). A theoretical, practical, predictive model of  
faculty and department research productivity. Academic Medicine; Long, R., Crawford, A.,  
White, M., & Davis, K. (2009). Determinants of faculty research productivity in information  
systems: An empirical analysis of the impact of academic origin and academic  
affiliation. Scientometrics; Sax, L. J., Hagedorn, L. S., Arredondo, M., & DiCrisi, F. A. (2002).  
Faculty research productivity: Exploring the role of gender and family-related  
factors. Research in higher education.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Thứ nhất về quy trình nghiên cứu, từ việc thừa kế của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị  
Mai Trang (2007), nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu thông qua  
khảo sát bằng câu hỏi soạn sẵn. Dữ liệu thu thập được sẽ xử lý sẽ xử lý bằng phần mềm thống  
kê SPSS. Thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám  
phá EFA. Mô hình lý thuyết được kiểm định bằng phương pháp hồi quy tuyến tính, từ đó xác  
định mức độ tác động của các yếu tố tác động đến động lực NCKH của giảng viên Trường ĐH  
Luật TP. HCM. Sau cùng, kiểm định T - test, Anova được thực hiện để đánh giá sự khác biệt  
về mức độ tác động đến động lực NCKH của các nhóm giảng viên có những đặc điểm cá nhân  
khác nhau.  
Kích thước mẫu và phương pháp chọn mẫu: Theo các nhà nghiên cứu Hair (1998), thì để  
chọn kích thức quan sát nghiên cứu phù hợp đối vơi phân tích nhân tố khám phá EFA cỡ quan  
sát tối thiểu N>5*x (x: là tổng số biến quan sát). Theo Tabachnick và Fideel (1966) để tiến  
hành phân tích hồi quy một cách tốt nhất thì cỡ quan sát tối thiểu cần đạt được tính theo công  
thức N>50+8m (trong đó m là biến độc lập). Còn theo Bentlou và Chou (1987) thì số lượng  
quan sát cho mỗi tham số ước là 5 quan sát.  
Như vậy trong nghiên cứu này để phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trên và phù  
hợp với nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng số quan sát tương ứng với 35 biến quan sát và 6  
biến độc lập (dự kiến) là: N > max (5x35; 50+6x6) = (175,86) = 175 quan sát. Dự đoán, quá  
trình phát bảng khảo sát để thu thập dữ liệu thì có những bảng không hợp lệ, vì để đảm bảo cho  
quá trình nghiên cứu, tác giả chọn số lượng quan sát tối thiểu là 200. Bên cạnh đó, mẫu được  
lấy theo phương pháp thuận tiện ngẫu nhiên bằng cách phát bảng câu hỏi cho những đối tượng  
nghiên cứu nêu trên. Đối với những câu hỏi nào mà giảng viên Trường ĐH Luật TP. HCM vẫn  
chưa rõ nghĩa thì nhóm khảo sát tiến hành giải thích cho việc đánh giá được chính xác hơn.  
85  
Mô hình nghiên cứu  
Nhận thức khả năng  
NCKH của giảng viên  
Nhận thức về lợi ích của  
việc NCKH  
H1  
H2  
H3  
Nhận thức về hoạt động  
NCKH của giảng viên  
Động lực  
nghiên cứu  
Đam mê NCKH  
H4  
khoa học  
của giảng viên  
Trường ĐH  
Luật TP. HCM  
H5  
H6  
Thủ tục hành chính về  
NCKH  
Điều kiện về vật chất  
Môi trường nghiên cứu  
H7  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất  
Giả thuyết nghiên cứu: Dựa vào mô hình nghiên cứu đề xuất (Hình 1), nhóm tác giả đưa  
ra các giả thuyết liên quan đến nghiên cứu như sau:  
H1 - Nhận thức khả năng NCKH của giảng viên: Những giảng viên có nhận thức cao về  
khả năng NCKH thì sẽ làm gia tăng động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ  
dương (+) với động lực nghiên cứu khoa học;  
86  
H2 - Nhận thức về lợi ích của việc NCKH: Những giảng viên có nhận thức tốt về lợi ích  
NCKH thì sẽ làm gia tăng động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ dương (+) với  
động lực nghiên cứu khoa học;  
H3 - Nhận thức về hoạt động NCKH của giảng viên: Những giảng viên có nhận thức tốt  
về hoạt động NCKH thì sẽ làm gia tăng động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ  
dương (+) với động lực nghiên cứu khoa học;  
H4 – Sự đam mê NCKH: Những giảng viên có sự đam mê NCKH thì sẽ làm gia tăng  
động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ dương (+) với động lực nghiên cứu khoa  
học;  
H5 – Thủ tục hành chính về NCKH: Những đơn vị có thủ tục hành chính về nCKH phù  
hợp, đơn gian sẽ làm gia tăng động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ dương (+)  
với động lực nghiên cứu khoa học;  
H6 – Điều kiện về vật chất: Những đơn vị có điều kiên về vật chất tốt sẽ làm gia tăng  
động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ dương (+) với động lực nghiên cứu khoa  
học;  
H7 – Môi trường nghiên cứu: Những đơn vị có môi trường nghiên cứu thuận lợi sẽ làm  
gia tăng động lực NCKH hay nói cách khác sẽ có mối quan hệ dương (+) với động lực nghiên  
cứu khoa học;  
4. Phương pháp phân tích dữ liệu  
Đánh giá hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha: Để đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha  
cho một thang đo thì phải có tối thiểu là 3 biến đo lường. Hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị  
biến thiên trong khoảng [0,1]. Về mặt lý thuyết, Cronbach’s Alpha càng cao thì càng tốt tức là  
thang đo có độ tin cậy cao. Tuy nhiên điều này thực sự không phải như vậy. Cronbach’s Alpha  
quá lớn (> 0,95) cho thấy có nhiều biến trong thang đo không có sự khác biệt gì nhau, nghĩa là  
chúng cùng đo lường một nội dung nào đó của khái niệm nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là  
hiện tượng trùng lắp trong đo lường.Các biến đo lường dùng để đo lường cùng một khái niệm  
nghiên cứu nên chúng phải có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy khi kiểm tra từng biến  
đo lường chúng ta sử dụng hệ số tương quan biến tổng. Hệ số này lấy tương quan của biến đo  
lường xem xét với các biến còn lại trong thang đo. Một biến thiên đo lường có hệ số tương  
quan tổng r ≥ 0,3 thì biến đó đạt yêu cầu (Nunnally & Bernstein, 1994). Tuy nhiên nếu r =1 thì  
hai biến đo lường chỉ là một và chúng ta chỉ cần dùng một trong hai biến là đủ. Vì vậy, theo  
Nunnally & Bernstein (1994) một thang đo có độ tin cậy tốt khi nó biến thiên trong khoảng  
[0,7-0,8]. Nếu Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 thì thang đó có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy  
(Nguyễn Đình Thọ, 2011).  
87  
Kiểm định thang đo bằng phương pháp EFA: Phân tích nhân tố khám phá là tên chung  
của một nhóm các thủ tục được sử dụng để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu (Hoàng Trọng & Chu  
Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Phương pháp trích hệ số sử dụng là “Principal components” với  
phép xoay “Variamax” và điểm dừng khi trích các yếu tố “Eigenvalue” =1. Bằng phương pháp  
này cho phép rút gọn nhiều biến số có tương quan lẫn nhau thành một đại lượng được thể hiện  
dưới dạng mối tương quan theo đường thẳng gọi là nhân tố. Phân tích nhân tố khám phá quan  
tâm đến các tham số sau:  
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin): Là một chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp  
của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn (giữa 0,5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố  
thích hợp. Nếu chỉ số KMO nhỏ hơn 0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với  
các dữ liệu. Kiểm định Bartlett’s xem xét giả thuyết về độ tương quan giữa các biến quan sát  
bằng không trong tổng thể. Nếu kiểm định này có ý nghĩa (Sig< 0,05) thì các biến quan sát có  
tương quan trong tổng thể. (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).  
Hệ số tải Nhân tố (Factor loading): Là hệ số tương quan giữa các biến và các nhân tố.  
Hệ số này càng lớn thì cho biết các biến và các nhân tố càng có quan hệ chặt chẽ với nhau.  
Theo Hair và cộng sự (1998), hệ số tải nhân tố lớn 0,3 được xem là đạt mức tiểu thiểu, lớn 0,4  
được xem là quan trọng và lớn 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tế. Đồng thời theo Nguyễn  
Đình Thọ (2011), trong thực tiễn nghiên cứu hệ số tải nhân tố ≥ 0,5 là chấp nhận. Tuy nhiên  
nếu hệ số tải nhân tố nhỏ nhưng giá trị nội dung của nó đóng vai trò quan trọng trong thang đo  
thì khi đó hệ số tải nhân tố bằng 0,4 thì không nên loại bỏ. Trong nghiên cứu này, chỉ chọn  
những biến quan sát có hệ số tải nhân tố ≥ 0,5.  
Phần Tổng phương sai trích: Tổng này được thể hiện các nhân tố trích được bao nhiêu  
phần trăm của các biến đo lường. Tổng phương sai trích phải đạt từ 50% trở lên, tức là phần  
chung phải lớn hơn hoặc bằng phần riêng và sai số (Nguyễn Đình Thọ, 2011). Phương pháp  
trích “Principal Component Analysis” với phép quay “Varimax” được sử dụng trong phân tích  
nhân tố thang đo các thành phần độc lập.  
Hệ số Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố): Chỉ  
những nhân tố nào có Eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữa lại trong mô hình phân tích. Nếu  
nhỏ hơn 1 sẽ không có tác dụng tóm tắt thông tin tốt hơn một biến gốc, vì sau khi chuẩn hóa  
mỗi biến gốc có phương sai là 1.  
Kiểm định sự phù hợp của mô hình  
Trước hết hệ số tương quan Pearson giữa động lực làm việc chung với các yếu tố ảnh  
hưởng đến động lực làm việc sẽ được xem xét. Tiếp đến, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến  
bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinal Least Squares – OLS) cũng  
88  
được thực hiện, trong đó biến phụ thuộc là động lực làm việc nói chung và các biến độc lập.  
Phương pháp lựa chọn biến Enter được tiến hành. Hệ số xác định R2 điều chỉnh được dùng để  
dùng để xác định độ phù hợp của mô hình, kiểm định F dùng để khẳng định khả năng mở rộng  
mô hình áp dụng cho tổng thể cũng như kiểm định t để bác bỏ giả thuyết các hệ số hồi quy của  
tổng thể bằng 0. Phương trình hồi tuyến tính bội có dạng:  
Y = β0 + β1H1 + β2H2+ β3H3 + β4H4+ β5H5 +β6H6+ β7H7 + u  
Trong đó: Y là biến phụ thuộc ; β0 là hằng số; β1, β2, β3,β4, β5, β6, β7 lần lượt là hệ số hồi  
quy của các yếu tố H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7; u là phần dư.  
Cuối cùng, nhằm đảm bảo độ tin cậy của phương trình hồi quy được xây dựng cuối cùng  
là phù hợp, một loạt các dò tìm sự vi phạm của giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính cũng  
được thực hiện. Các giả định được kiểm định trong phần này gồm liên hệ tuyến tính (dùng biểu  
đồ phân tán Scatterplot), phân phối chuẩn của phần dư (dùng Histogram và P-P plot), tính độc  
lập của phần dư (dùng đại lượng thống kê Durbin-Watson), hiện tượng đa cộng tuyến (tính độ  
chấp nhận Tolerance và hệ số phóng đại VIF), giả định phương sai của sai số không đổi (dùng  
kiểm định tương quan hạng Spearman).  
5. Kết luận  
Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giảng viên bên cạnh  
công tác giảng dạy, tuy nhiên làm thế nào để giảng viên tham gia vào công tác nghiên cứu  
khoa học với tinh thần và nhiệt huyết cao ngoài yếu tố nội tại của giảng viên thì một trong các  
yếu tố quan trọng đến từ môi trường nơi giảng viên công tác và đặc biệt là sự quan tâm đúng  
mức, đúng thời điểm của lãnh đạo Nhà trường.  
Để có cái nhìn khoa học và khách quan cũng như cơ sở khoa học trong việc thúc đẩy  
nghiên cứu khoa học của giảng viên nói chung và giảng viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí  
Minh nói riêng, nhóm nghiên cứu đề xuất thực hiện một đề tài NCKH cấp trường “Động lực  
NCKH của giảng viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh” bước đầu nghiên cứu cơ sở lý  
thuyết cũng như mô hình, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp tiếp cận, phân tích số liệu sau  
khi khảo sát từ đó có những ý kiến đóng góp cho lãnh đạo Nhà trường về công tác tạo động lực  
cho giảng viên trong công tác NCKH hiên nay của Nhà trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011). ''Thang đo động viên nhân viên''. Tạp  
chí Phát triển Kinh tế số 244 năm: 2/2011.  
2. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008). "Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực."  
89  
3. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007). "Quản trị nhân lực."  
4. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân tích nghiên cứu dữ liệu với  
SPSS”, NXB Hồng Đức.  
5. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007). Nghiên cứu khoa học Marketing -  
Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trong quản trị kinh doanh. Nxb Đại học  
Quốc Gia, TP. HCM.  
6. Cao Thị Thanh và Phạm Thị Ngọc Minh (2018) về động lực nghiên cứu của 183 giảng  
viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội  
7. Cao Thị Thanh và Phạm Thị Ngọc Minh (2018). Động lực nghiên cứu khoa học của  
giảng viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tạp chí Khoa học & Công nghệ.  
8. Huỳnh Thanh Nhã (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu  
khoa học của giảng viên các trường cao đẳng công lập ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí  
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 20-29.  
9. Lại Thị Phan Mai (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên  
trường Đại học kinh tế-Đại học Huế. Tạp chí Khoa học và Công nghệ.  
10. Phạm Thị Tú Nga (2013). Thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động  
nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học Huế. Hue University Journal of Science  
(HU JOS).  
11. Bedeian, A. G. (Ed.). (1993). Management laureates: A collection of autobiographical  
essays (Vol. 3). JAI Press (NY).  
12. Sax, L. J., Hagedorn, L. S., Arredondo, M., & DiCrisi, F. A. (2002). Faculty research  
productivity: Exploring the role of gender and family-related factors. Research in  
higher education, 43(4), 423-446.  
13. Chen, Y., Gupta, A., & Hoshower, L. (2006). Factors that motivate business faculty to  
conduct research: An expectancy theory analysis. Journal of Education for  
Business, 81(4), 179-189.  
14. Azad, A. N., & Seyyed, F. J. (2007). Factors influencing faculty research productivity:  
Evidence from AACSB accredited schools in the GCC countries. Journal of  
International Business Research, 6(1).  
15. Blackburn, R. T., & Lawrence, J. H. (1995). Faculty at work: Motivation, expectation,  
satisfaction. Johns Hopkins University Press;  
16. Bland, C. J., Center, B. A., Finstad, D. A., Risbey, K. R., & Staples, J. G. (2005). A  
theoretical, practical, predictive model of faculty and department research  
productivity. Academic Medicine;  
90  
17. Long, R., Crawford, A., White, M., & Davis, K. (2009). Determinants of faculty  
research productivity in information systems: An empirical analysis of the impact of  
academic origin and academic affiliation. Scientometrics  
91  
pdf 12 trang Thùy Anh 18820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn luận và đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_luan_va_de_xuat_mo_hinh_nghien_cuu_cac_nhan_to_tac_dong.pdf