Bồi thường thiệt hại về ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu gây ra
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG BIỂN
DO DẦU TỪ TÀU GÂY RA
Nguyễn Thị Hà
Người phản biện:TS. Lê Thị Thảo
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề cơ bản các quy định
về bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu của Việt nam, thực tiễn bồi thƣờng thiệt hại về
ô nhiễm môi trƣờng biển do dầu từ tàu gây ra. Trong phần kết luận tác giả đƣa ra một
số nhận định và đề xuất về kiến nghị đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để cải
thiện việc bồi thƣờng thiệt hại ô nhiễm dầu ởViệt Nam.
Từ khóa: Bồi thƣờng thiệt hại, ô nhiễm do dầu
Résumé: L‟article analyse les questions juridiques essentielles, relatives à la
réparation du dommage de l'environnement marin causé par la pollution par les
hydrocarbures au Vietnam, ainsi que la réalité de la mise en œuvre de ces réparations.
Dans la conclusion, l‟auteur commente ces éléments et suggère des recommandations
visant à améliorer le système juridique concernant la réparation du dommage de
l‟environnement marin causé par la pollution par les hydrocarbures au Vietnam.
Mots clés: Réparation du dommage, pollution par les hydrocarbures
Đặt vấn đề
Nhận thức rõ đƣợc sự trong sạch của môi trƣờng biển có tầm quan trọng sống
còn, Việt Nam đã tham gia các công ƣớc quốc tế và ban hành các văn bản trong nƣớc
về phòng ngừa, khắc phục sự cố ô nhiễm môi trƣờng (ÔNMT) biển, trong đó có
ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra. Tuy nhiên trên thực tế, thiệt hại do ÔNMT biển vẫn
xảy ra dù chúng ta đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa. Và phần lớn những thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển của nƣớc ta đều chƣa đƣợc đánh giá đúng
mức và đƣợc bồi thƣờng thỏa đáng vì những bất cập trong hệ thống pháp luật cũng
nhƣ cơ chế thực hiện. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật bồi thƣờng thiệt hại về
ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra là một đòi hỏi cấp thiết về lý luận cũng nhƣ thực tiễn.
ThS.GV Trƣờng Đại học Luật
44
1. Tình hình ô nhiễm môi trƣờng biển do dầu từ tàu gây ra tại Việt Nam
Hoạt động bình thƣờng của tàu thuyền (nƣớc sinh hoạt, rác, dầu..) và các sự cố,
tai nạn hàng hải đều là các nguồn gây ÔNMT biển rất nặng nề. Tuy nhiên, khi nói đến
ô nhiễm do hoạt động tàu thuyền, chúng ta thƣờng liên tƣởng ngay đến ô nhiễm do dầu
vì đây là loại ô nhiễm gây tác hại ngay lập tức và thƣờng là đặc biệt nghiêm trọng.
Việt Nam nằm cạnh tuyến đƣờng hàng hải quan trọng Thái Bình Dƣơng, có mật độ tàu
thuyền qua lại lớn nên khả năng ÔNMT biển do tàu thuyền gây ra cũng rất lớn. Số
lƣợng dầu chuyên chở qua Biển Đông hàng năm vào khoảng 2,1 tỷ tấn và vào bất cứ
thời điểm nào cũng có khoảng 51 tàu chở dầu cỡ lớn hoạt động trong khu vực42. Ƣớc
tính, lƣợng dầu rò rỉ từ các tàu chở dầu trên tuyến hàng hải vào khoảng 23.001 tấn43.
Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến ÔNMT biển xảy ra tại các cảng biển và
vùng biển Việt Nam mà hậu quả rất nghiêm trọng, đó là sự cố tràn dầu. Sự cố tràn dầu
là tai nạn xảy ra trên biển do các hoạt động chuyên chở, tàng trữ hoặc khai thác dầu
khí và các sản phẩm hoá dầu. Hậu quả là dầu bị tràn ra biển và gây ô nhiễm nghiêm
trọng đến môi trƣờng biển. Do tính chất nghiêm trọng và mức độ độc hại cao tác động
đến môi trƣờng, nên số lƣợng dầu tràn ra từ 100 lít trở lên đƣợc coi là sự cố tràn dầu.
Thống kê các vụ tai nạn hàng hải tại Việt Nam cho thấy, các sự cố do các vụ tai
nạn hàng hải ngày một tăng. Các nguyên nhân chính dẫn đến sự cố tràn dầu xảy ra ở
các cảng biển nƣớc ta là do các nguyên nhân thời tiết, nguyên nhân kỹ thuật và có đến
hơn nửa các sự cố tràn dầu là do yếu tố con ngƣời gây ra. Theo đánh giá của Viện
Khoa học và Tài nguyên môi trƣờng biển -Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thì
từ năm 1989 đến nay, vùng biển Việt Nam có khoảng trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn
tàu, các vụ tai nạn này đều đổ ra biển từ vài chục đến hàng trăm tấn dầu. Những vụ
tràn dầu thƣờng xảy ra vào tháng 3 và tháng 4 hàng năm ở miền Trung; từ tháng 5 đến
tháng 6 ở miền Bắc44.
Thống kê cho thấy, giai đoạn từ năm 1992 - 2014, lƣợng dầu tràn trên biển Việt
Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Cụ thể nhƣ những vụ tràn dầu với
lƣợng từ 07 - 700 tấn thƣờng tập trung chủ yếu do tàu mắc cạn. Còn các vụ tràn dầu
42 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
43 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
44 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
45
với số lƣợng lớn hơn 700 tấn chủ yếu là do quá trình vận chuyển dầu và va chạm tàu
trên biển45.
Hậu quả các vụ ÔNMT do dầu sẽ làm hủy hoại các hệ sinh thái, động thực vật
trên biển, ven biển, trên sông, các hệ sinh thái nhạy cảm nhƣ san hô, rừng ngập mặn,
đặc biệt nó tác động trực tiếp và gây nên những thiệt hại kinh tế rất lớn cho các tổ
chức, cá nhân sinh sống và có các hoạt động phát triển ven sông, ven biển nhƣ các
hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch biển, làm muối, nông nghiệp… Ô
nhiễm dầu còn gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe, tính mạng của
ngƣời dân ven biển. Theo đánh giá của các chuyên gia, nồng độ dầu trong nƣớc đạt 0,1
mg/l có thể gây chết các loài sinh vật phù du, cá, chim biển, ảnh hƣởng lớn đến các
con non và ấu trùng của các sinh vật đáy; làm giảm tỷ lệ sống sót của san hô, làm rừng
ngập mặn bị chết; dầu bám vào cơ thể hoặc sinh vật hấp thu qua quá trình lọc nƣớc
làm giảm giá trị sử dụng và cản trở các hoạt động kinh tế vùng ven biển46. Khi có sự
cố tràn dầu, theo tốc độ gió và dòng chảy, dầu sẽ trôi theo dòng chảy mặt nƣớc, trôi
dạt vào vùng biển ven bờ, bám vào kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan và gây mùi
khó chịu đối với các du khách tham quan du lịch, do vậy, doanh thu của ngành du lịch
sẽ bị ảnh hƣởng nặng nề. Ngoài ra, ô nhiễm dầu còn làm ảnh hƣởng đến nguồn giống
tôm cá, sự phát triển và sinh sản của các nguồn thủy hải sản nên làm chúng bị chết,
dẫn đến giảm năng suất nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản ven biển.
Sự cố tràn dầu trên biển thƣờng đƣợc xem là thảm họa đối với môi trƣờng, sinh
thái biển và vùng bờ, tài sản, sức khoẻ, tính mạng của tổ chức, cá nhân. Hai nhóm thiệt
hại chính do ô nhiễm dầu tràn gồm: (1) thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích
của môi trƣờng; (2) thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con ngƣời, tài sản và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích
của môi trƣờng gây ra.47
Do đó, sự cố môi trƣờng tràn dầu có thể xem là một trong những dạng sự cố gây
ra tổn thất kinh tế lớn nhất trong các loại sự cố môi trƣờng do con ngƣời gây ra. Hiện
nay, việc xác định vị trí dầu tràn và khắc phục sự cố này ở Việt Nam còn nhiều hạn
45 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
46 Cục Hàng hải Việt Nam (20015), Báo cáo tổ chức thực hiện Công ƣớc về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại
ô nhiễm môi trƣờng do dầu từ tàu tại Việt Nam.
47
Điều 163 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014
46
chế, cả về cơ sở pháp luật và các trang thiết bị, phƣơng tiện kỹ thuật chuyên dụng để
khắc phục ô nhiễm tràn dầu.
2. Pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại ô nhiễm môi trƣờng biển do dầu từ tàu
gây ra
Để giảm thiểu thiệt hại và khắc phục hậu quả của sự cố tràn dầu trên biển, các
chủ thể gây ra ô nhiễm phải bồi thƣờng thiệt hại trừ các trƣờng hợp bất khả kháng theo
quy định của pháp luật. Việt Nam đƣợc xem là một trong 3 quốc gia có sự cố tràn dầu
xảy ra nhiều nhất trên thế giới, tuy nhiên, việc đòi bồi thƣờng thiệt hại thì lại quá
khiêm tốn, 77% thiệt hại chƣa đƣợc bồi thƣờng hoặc đang trong quá trình giải quyết48.
Có nhiều nguyên nhân, trong đó một trong những nguyên nhân là việc xác định thiệt
hại và quy trình đòi bồi thƣờng thiệt hại do hậu quả của sự cố ô nhiễm dầu trên biển
phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm khác nhau. Cụ thể, các quy định về xác định
thiệt hại đối với môi trƣờng đƣợc quy định trong pháp luật về môi trƣờng; xác định
thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đƣợc
quy định trong pháp luật dân sự; ngoài hình thức tự thoả thuận việc bồi thƣờng với
ngƣời gây thiệt hại thì hình thức giải quyết bồi thƣờng bằng trọng tài hoặc toà án đƣợc
quy định trong pháp luật trọng tài và pháp luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, việc bồi
thƣờng thiệt hại ô nhiễm dầu trên biển còn tuân thủ quy định của điều ƣớc quốc tế mà
Việt Nam là thành viên.
Đối với mỗi quốc gia ven biển, sự trong sạch của môi trƣờng biển có tầm quan
trọng sống còn. Việt Nam cũng đã nhận thức rõ sự phát triển kinh tế phải đi đôi với
việc bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên biển. Tại Hội nghị Rio de Janerio, Việt Nam
tuyên bố Chiến lƣợc phát triển của quốc gia mình: “Việt Nam nhận thức rõ thực tế
rằng, biển và đại dƣơng có ý nghĩa đặc biệt đối với sự sống trên hành tinh của chúng
ta, và nƣớc chúng tôi ủng hộ cuộc đấu tranh chống việc biến biển hay đại dƣơng thành
các bãi phế thải và rác vì điều này sẽ nhanh chóng huỷ hoại các hệ sinh thái biển và tài
nguyên thiên nhiên, hậu quả là gây ra các ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khoẻ con ngƣời.
Cần phải có các biện pháp thống nhất để quản lý biển và đại dƣơng thông qua việc
48 Báo cáo Tổng kết Dự án “Nghiên cứu, đề xuất Việt Nam tham gia các điều ƣớc quốc tế về ứng phó, khắc phục
và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu trên biển”, năm 2011, chủ nhiệm Dự án Hoàng Duy Đông
47
tăng cƣờng sự hợp tác quốc tế và khu vực, và thông qua các cố gắng có phối hợp nhằm
giảm bớt tình trạng ô nhiễm biển và duy trì tính đa dạng sinh học của biển”49.
Là thành viên của Công ƣớc Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, của Tổ chức
Hàng hải quốc tế - IMO, Việt Nam có quyền đồng thời có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn
môi trƣờng biển. Việt Nam đã tham gia nhiều công ƣớc của IMO về tiêu chuẩn kỹ
thuật và con ngƣời nhƣ: Công ƣớc quốc tế về Mạn khô - Loadlines 1966, Công ƣớc
quốc tế về Đo dung tích tàu biển - Tonnage 1969; Công ƣớc quốc tế về Phòng ngừa va
chạm trên biển - Colreg 72; Công ƣớc quốc tế về Ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu - Marpol
73/78; Công ƣớc quốc tế về An toàn sinh mạng ngƣời trên biển - Solas 74; Công ƣớc
quốc tế về Tiêu chuẩn huấn luyện, thi, cấp chứng chỉ chuyên môn và bố trí chức danh
đối với thuyền viên - STCW 78/95… Tuy nhiên, trên thực tế tai nạn vẫn xảy ra, dù tàu
và thuyền viên đáp ứng đủ những chuẩn mực mà các công ƣớc quốc tế nêu ra. Là quốc
gia ven biển, quốc gia có cảng, quốc gia tàu mang cờ, Việt Nam hoàn toàn có quyền
nhận đầy đủ các khoản bồi thƣờng cho các thiệt hại do ô nhiễm dầu từ tàu gây ra trong
vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia mình. Xuất phát từ quyền và nghĩa vụ, xuất
phát từ ý nghĩa của việc đền bù, Việt Nam cần phải có một cơ sở pháp lý vững chắc để
đảm bảo đƣợc đền bù thoả đáng, đầy đủ cho những thiệt hại do ÔNMT nói chung và
ÔNMT biển nói riêng.
Bên cạnh việc tích cực tham gia các điều ƣớc quốc tế về phòng, chống ÔNMT
biển do dầu từ tàu gây ra, Việt Nam cũng đã xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật trong nƣớc điều chỉnh về vấn đề này. Đến nay, ngoài Hiến pháp năm 2013,
hệ thống các văn bản pháp luật chung quy định về phòng, chống ÔNMT biển do dầu
từ tàu gây ra bao gồm 32 văn bản quy phạm pháp luật50; các văn bản pháp luật riêng
49 Cục Hàng hải Việt Nam (20015), Báo cáo tổ chức thực hiện Công ƣớc về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại
ô nhiễm môi trƣờng do dầu từ tàu tại Việt Nam.
50 02 bộ luật (Bộ luật Hình sự năm 1999, đƣợc sửa đổi năm 2009; Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015); 05 luật
(Luật Dầu khí năm 1993, đƣợc sửa đổi năm 2000, 2008; 2013, Luật Thủy sản năm 2016; Luật Biển Việt Nam
năm 2012; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014); 01 pháp lệnh (Pháp
lệnh lực lƣợng Cảnh sát biển năm 2008); 11 nghị định (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của Chính
phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng biển, hải đảo; Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày
8/7/2010 của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi
trƣờng ....); 02 quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ (Quyết định số 256/2003/QĐ-TTG ngày 22/12/2003 của
Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng
đến năm 2020; Quyết định số 166/2003/QĐ-TTg ngày 21/01/2014 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt
chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030); 11 quyết định, thông tƣ của Bộ
trƣởng (Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy
định về quản lý chất thải nguy hại; Thông tƣ số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ trƣởng Bộ Tài
48
biệt về phòng, chống ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra bao gồm 12 văn bản quy phạm
pháp luật51. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh cũng đã ban hành các văn bản
hành chính riêng biệt về phòng chống ÔNMT biển do dầu nói chung và phòng, chống
ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra nói riêng.
Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014 quy định về nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối
với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trƣờng,52 theo đó, ô nhiễm môi trƣờng và hậu
quả do ô nhiễm môi trƣờng phải đƣợc cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền
nghiên cứu, điều tra và kết luận kịp thời; hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng
của tổ chức, cá nhân phải đƣợc phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật
Nghị định số 03/2015NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2015của Chính phủ hƣớng
dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trƣờngquy định về trách nhiệm yêu cầu bồi thƣờng thiệt
hại và xác định thiệt hại đối với môi trƣờng bao gồm: thu thập dữ liệu, chứng cứ để
xác định thiệt hại đối với môi trƣờng, tính toán thiệt hại đối với môi trƣờng và xác
định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đối với môi trƣờng do ô nhiễm, suy thoái gây ra.
Đối với thiệt hại về tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác, Bộ luật
dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Ngƣời
nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của ngƣời khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thƣờng và
trƣờng hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu tài sản phải chịu trách
nhiệm bồi thƣờng thiệt hại, trừ trƣờng hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả
kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại(ngoại trừ trƣờng hợp có thỏa thuận
nguyên và Môi trƣờng quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của
Chính phủ quy định về đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc, đánh giá tác động môi trƣờng, cam kết bảo vệ môi
trƣờng ...).
51 01 nghị định (Nghị định số 162/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trên các vùng biển, dảo và thềm lục địa của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); 05 quyết định của Thủ
tƣớng Chính phủ (Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày 29/8/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Kế
hoạch quốc gia ứng cứu sự cố tràn dầu giai đoạn 2001-2020; Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14/01/2013
của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu ...); 06 quyết định, thông tƣ của
Bộ trƣởng (Thông tƣ liên tịch số 12/2005/TTLT-BTNMT-BGTVT ngày 8/7/2005 của Bộ Thƣơng Mại - Bộ Tài
nguyên và Môi trƣờng - Bộ Giao thông vận tải hƣớng dẫn điều kiện an toàn môi trƣờng biển đối với hoạt động
cung ứng dầu cho tàu biển; Quyết định số 59/2005/ QĐ-BGTVT ngày 21/11/2005 của Bộ trƣởng Bộ Giao thông
vận tải ban hành quy định về trang thiết bị an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trƣờng biển lắp đặt trên
tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa...); 01 nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
(Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn
áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng).
52 Điều 164 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014
49
khác hoặc luật có quy định khác53. Thiệt hại thực tế phải đƣợc bồi thƣờng toàn bộ và
kịp thời; các bên có thể thoả thuận về mức bồi thƣờng54. Ngoài ra, Bộ luật dân sự còn
quy định cụ thể xác định thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm hại. Đây là cơ sở để tổ chức, cá nhân bị thiệt hại xác định các thiệt
hại để yêu cầu bồi thƣờng do sự cố dầu tràn trên biển.
Nhƣ vậy, hiện nay chúng ta đã có cơ sở pháp lý về bồi thƣờng thiệt hại ÔNMT
biển do dầu từ tàu gây ra, nhƣng các quy định này chỉ tồn tại ở dạng những văn bản
quy phạm mang tính đơn lẻ, không thống nhất và còn nhiều hạn chế, bất cập nhƣ:
Thứ nhất, hiện nay, chúng ta chƣa có quy định cụ thể về lƣợng giá tổn thất, giám
định thiệt hại; mức chi phí xử lý một đơn vị diện tích, thể tích hoặc khối lƣợng nƣớc,
đất bị ô nhiễm đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trƣờng đối với chất lƣợng môi trƣờng
nƣớc; định mức chi phí phục hồi một đơn vị diện tích hệ sinh thái bị suy thoái... gây
nên những bất cập khi tính toán thiệt hại đối với môi trƣờng. Ngoài ra, chúng ta cũng
chƣa có quy định cụ thể về căn cứ, nguyên tắc tính toán thiệt hại làm cơ sở xác định
bồi thƣờng thiệt hại về ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra.
Thứ hai, chúng ta chƣa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh một cách đầy đủ
và chuyên biệt về vấn đề bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu; việc khởi kiện hay
khiếu nại và xác định các thiệt hại về môi trƣờng cũng nhƣ thiệt hại về kinh tế do các
hành vi gây ÔNMT biển do dầu vẫn dựa trên các nguyên tắc cơ bản quy định tại Bộ
luật Dân sự năm 2015. Mặc dù Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng đã có Thông tƣ
số 2262/1995/TT-MTG hƣớng dẫn về vấn đề bồi thƣờng do ô nhiễm dầu, song các thủ
tục không thống nhất trong hệ thống các cơ quan, dẫn đến việc bồi thƣờng diễn ra
chậm chạp, luôn phải đợi ý kiến của cấp trên hƣớng dẫn; chƣa có quy định về lƣợng
giá tổn thất khi có thiệt hại xảy ra; chƣa có cơ chế giám sát… Ngoài ra, phạm vi của
Luật Bảo vệ môi trƣờng vẫn còn hẹp và chung chung. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể chƣa đƣợc bao quát hết. Đặc biệt, vấn đề trách nhiệm và bồi thƣờng thiệt
hại không đƣợc quy định rõ ràng, không có biện pháp cƣỡng chế dẫn đến sự hạn chế,
tiêu hao quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Việc quy trách nhiệm pháp lý trong sự cố
tràn dầu chƣa đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng cho ai, chủ thể nào. Hiện nay, Việt Nam
53 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015
54Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015
50
đã ban hành Luật Biển Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trƣờng, Luật Dầu khí, nhƣng chƣa
có quy định cụ thể về bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu từ tàu. Trong thực tế, khi có
các vụ tràn dầu trên biển xảy ra, cơ quan chức năng mới có văn bản hƣớng dẫn thực
hiện.
Thứ ba, trách nhiệm pháp lý trong sự cố tràn dầu, khiếu nại yêu cầu bồi thƣờng
thiệt hại và những biện pháp đảm bảo tài chính cho việc bồi thƣờng, giải quyết hậu
quả do ô nhiễm dầu không đƣợc quy định rõ ràng, cụ thể. Thực tế là những biện pháp
cƣỡng chế thi hành sau khi xảy ra sự cố đối với những chủ thể có liên quan hầu hết
còn thiên về mệnh lệnh hành chính, tiền phạt không đủ răn đe và không chú trọng đến
vấn đề đền bù. Việc quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành
vi vi phạm pháp luật trong hoạt động hàng hải và trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
nhƣ hiện nay là ngắn (quy định thời hiệu 1 - 2 năm) và có nguy cơ bỏ lọt hành vi vi
phạm pháp luật. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm nhƣ
hiện nay là thấp. Mức phạt tiền (mức trần) đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực hàng hải chỉ là 100 triệu đồng, trong lĩnh vực giao thông đƣờng thủy nội địa
là 75 triệu đồng và mức phạt tiền (mức trần) đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực
bảo vệ môi trƣờng chỉ là 01 tỷ đồng. Mức xử phạt thấp này không thể so sánh với
những hậu quả nghiêm trọng mà các hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Ngoài ra, thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính của Giám đốc cảng vụ hàng hải còn thấp và chƣa
phù hợp. Trên thực tế, nhiều vụ vi phạm pháp luật diễn ra thƣờng vƣợt quá thẩm
quyền xử phạt của Giám đốc cảng vụ. Theo quy định, vụ việc sẽ phải chuyển lên Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý, điều đó ít nhiều gây khó khăn, phát sinh các chi phí
cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có liên quan.
3. Thực tiễn bồi thƣờng thiệt hại về ô nhiễm môi trƣờng biển do dầu từ tàu
gây ra
Theo số liệu thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam năm 2016, chỉ tính riêng giai
đoạn năm 1995 - 2014, trên các vùng biển Việt Nam đã ghi nhận đƣợc gần 50 sự cố
tràn dầu với lƣợng dầu tràn khoảng 120.000 tấn. Trong đó, chỉ có 14 vụ đƣợc bồi
thƣờng với tổng số tiền 5.501.000 USD và 886.500.000 đồng Việt Nam55. Dầu tràn
gây ảnh hƣởng nặng nề về nhiều mặt. Đơn cử vụ tàu chở dầu Neptune Aries
55 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
51
(Singapore) đâm vào cầu tàu cảng Cái Tiên trên sông Sài Gòn hồi tháng 10/1994, làm
tràn 1.584 tấn dầu DO và hơn 150 tấn xăng dầu các loại từ đƣờng ống dẫn dầu của cầu
cảng. Thiệt hại từ sự cố tràn dầu ƣớc tính 28 triệu USD, nhƣng chủ tàu chỉ bồi thƣờng
4,2 triệu USD. Khi tiềm lực tài chính của chủ tàu còn hạn chế thì chi phí xử lý ô nhiễm
môi trƣờng mà ngân sách nhà nƣớc phải gánh chịu là rất lớn, vụ sà lan dầu Hồng Anh
06 bị đắm tại phao số 7, luồng Vũng Tàu - Sài Gòn ngày 20/3/2003, để tràn 40 tấn dầu
không thu hồi đƣợc là một ví dụ. Chủ tàu là Công ty Trọng Nghĩa, Bình Dƣơng chỉ
mua bảo hiểm thân tàu với mức 500 triệu đồng, trong khi kinh phí trục vớt sà lan và xử
lý phòng, chống tràn dầu đã tốn hơn 2 tỷ đồng. Mặc dù chủ tàu phải chịu trách nhiệm
hình sự, song Nhà nƣớc cũng mất một khoản tiền không nhỏ, chƣa kể tác hại cho môi
trƣờng khó mà khắc phục đƣợc một sớm một chiều56. Hay nhƣ vụ tàu Mimosa của
Petro Việt Nam bị tàu Trinity quốc tịch Liberia đâm đắm ngày 12/5/2005 ở khu vực
mỏ Đại Hùng, cách thành phố Vũng Tàu 180 hải lý, với hơn 100 tấn dầu trong bụng.
Mặc dù chủ tàu đã đặt 02 triệu USD, nhƣng không có nghĩa là với số tiền đó có thể
giải quyết đƣợc hậu quả tràn dầu gây ra cho môi trƣờng biển Vũng Tàu57.
Qua thực tiễn giải quyết đền bù và kết quả thu đƣợc sau mỗi lần giải quyết cho
thấy, sau mỗi vụ tai nạn tàu chở dầu, thiệt hại cho môi trƣờng biển trƣớc mắt cũng nhƣ
lâu dài và thiệt hại mà những ngƣời liên quan trực tiếp phải gánh chịu - nhƣ đánh bắt,
du lịch là rất lớn, nhƣng mức bồi thƣờng không đáng kể. Việc bồi thƣờng chủ yếu dựa
trên cơ sở thoả thuận, nhân nhƣợng giữa các bên. Chính quyền địa phƣơng còn gặp
nhiều lúng túng trong quá trình giải quyết khiếu nại, đòi bồi thƣờng. Sở dĩ nhƣ vậy là
do:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thƣờng thiệt hại ÔNMT
biển do dầu từ tàu gây ra còn chung chung và rải rác ở các văn bản quy phạm pháp
luật khác nhau. Việt Nam chƣa tham gia Công ƣớc quốc tế về việc thành lập Quỹ quốc
tế về Bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (FUND 92), vì vậy, đối với những vụ
tràn dầu vƣợt quá giới hạn trách nhiệm mà chủ tàu phải chi trả thì ngân sách nhà nƣớc
phải gánh chịu. Đây là thiệt hại không đáng có, chất thêm gánh nặng cho ngân sách
của chúng ta vốn đã rất hạn hẹp.
56 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
57 Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển trong hoạt động hàng hải
52
Thứ hai, do năng lực của các cán bộ làm công tác bồi thƣờng thiệt hại về ÔNMT
biển do dầu từ tàu gây ra, cụ thể:
(i) Điểm yếu nhất hiện nay là chúng ta không có đủ năng lực để xây dựng một bộ
hồ sơ pháp lý chính xác và thuyết phục, cũng nhƣ không đủ năng lực để tiến hành thụ
lý các vụ án gây ÔNMT do dầu từ tàu phải đƣợc đền bù, nhất là các vụ án môi trƣờng
có yếu tố nƣớc ngoài.
(ii) Việt Nam thiếu đội ngũ cán bộ quản lý môi trƣờng biển có năng lực chuyên
môn cao, thiếu các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm về bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm
dầu từ tàu, do đó, chúng ta khó có thể đòi đƣợc sự bồi thƣờng đầy đủ và thoả đáng đối
với sự cố ô nhiễm dầu trong vùng biển Việt Nam.
5. Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bồi thƣờng thiệt hại về
ô nhiễm môi trƣờng do dầu từ tàu gây ra
Trƣớc những tồn tại, bất cập của hệ thống pháp luật bồi thƣờng thiệt hại về
ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện nhƣ
sau:
Một là, cần nhanh chóng xây dựng các quy phạm pháp luật để xác định, lƣợng
giá các thiệt hại do ô nhiễm dầu đối với môi trƣờng tự nhiên và các chi phí để khắc
phục, làm sạch môi trƣờng. Đặc biệt là những tác động của ô nhiễm dầu đối với các hệ
sinh thái biển và ven biển tiêu biểu. Ngoài ra, cần đánh giá các thiệt hại gián tiếp tình
trạng ô nhiễm dầu đối với sức khỏe và những tổn thất về tinh thần của ngƣời dân. Khi
sự cố tràn dầu xảy ra, đi cùng với nó là sự giảm sút về sản lƣợng đánh bắt cá, sản
lƣợng muối, giảm lƣợng khách du lịch... không chỉ ảnh hƣởng đến thu nhập và đời
sống của hàng triệu ngƣ dân ven biển, ngƣời dân làm dịch vụ du lịch mà còn tác động
đến những ngƣời sống phụ thuộc họ. Đó là những tổn thất không dễ dàng để có thể
thống kê và tính toán.
Hai là, hiện nay, trình tự giải quyết các vụ kiện dân sự về bồi thƣờng thiệt hại do
ô nhiễm dầu về cơ bản vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên,
chúng ta cần nhìn nhận và nghiên cứu các đặc thù của việc kiện đòi bồi thƣờng thiệt
hại liên quan đến các hoạt động trên biển mà nhất là liên quan đến việc ô nhiễm dầu,
để có hƣớng xây dựng quy định riêng và thành lập Toà án chuyên giải quyết các tranh
chấp liên quan đến biển. Mặt khác, cần nghiên cứu các quy định về tổ chức, hoạt động
53
của Toà án quốc tế, Trọng tài quốc tế về Luật Biển để sẵn sàng đƣa các vụ kiện liên
quan đến tổ chức, cá nhân Việt Nam ra giải quyết theo trình tự tố tụng thay vì giải
quyết theo trình tự thƣơng lƣợng, ngoại giao nhƣ hiện nay.
Ba là, cần xem xét, sửa đổi quy định về thời hiệu xử phạt. Theo đó, căn cứ để xác
định thời hiệu dài hay ngắn là tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm
cũng nhƣ hậu quả để lại cho môi trƣờng biển (hậu quả trƣớc mắt và lâu dài). Bên cạnh
đó, cần nâng mức xử phạt vi phạm hành chính và nên sửa đổi mức phạt tiền theo
hƣớng không quy định trần nhƣ hiện nay, mà quy định theo tỷ lệ gây thiệt hại cho môi
trƣờng. Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan
cũng nhƣ cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý và giảm bớt các chi phí
phát sinh không đáng có trong quá trình chuyển hồ sơ vụ việc thì việc nâng mức xử
phạt thuộc thẩm quyền của Giám đốc cảng vụ là cần thiết.
Bốn là, ban hành một Luật chuyên biệt bồi thƣờng thiệt hại về ÔNMT biển do
dầu từ tàu gây ra, trong đó cần tập trung và làm rõ ràng những vấn đề pháp lý sau:
i) Giải thích và làm rõ các khái niệm ÔNMT biển, ÔNMT biển do dầu, bồi
thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu;
ii) Quy định các biện pháp phòng ngừa, xử lý và khắc phục các sự cố tràn dầu;
iii) Quy định trình tự, thủ tục đòi bồi thƣờng thiệt hại về ÔNMT biển do dầu từ
tàu gây ra;
iv) Đƣa ra khung cụ thể cho việc yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại và khắc phục thiệt
hại, tức là cần phải lƣợng hóa (bằng các số liệu) về mặt kinh tế đối với các thiệt hại do
ô nhiễm dầu để làm căn cứ cho việc yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại. Tuy nhiên, cũng tùy
vào đặc điểm của từng ngành kinh tế mà áp dụng các cách tính toán thiệt hại cho phù
hợp. Vì vậy, trong đơn yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại cần phải thể hiện rõ tổng số tiền
yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại và khắc phục thiệt hại do sự cố gây ô nhiễm dầu là bao
nhiêu?
v) Quy định những biện pháp đảm bảo tài chính đối với các bên liên quan để đáp
ứng nghĩa vụ đền bù thiệt hại, mà cụ thể là việc thành lập một Quỹ quốc gia về bồi
thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu, với nguồn thu là từ việc đóng bảo hiểm trách nhiệm
dân sự bắt buộc với các chủ tàu có nguy cơ gây ô nhiễm dầu.
54
vi) Quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục tố tụng và xét xử tại tòa án (hoặc
trọng tài) đối với các yêu cầu đòi bồi thƣờng thiệt hại do ô nhiễm dầu.
vii) Quy định cụ thể về cơ cấu, tổ chức, quyền hạn, nghĩa vụ của từng cơ quan,
đơn vị có liên quan trong việc chỉ đạo, tổ chức ứng cứu và ngăn ngừa các sự cố tràn
dầu, tránh tình trạng chồng chéo giữa các cơ quan nhƣ hiện nay./.
KẾT LUẬN
Nhƣ vậy, việc xác định và bồi thƣờng thiệt hại do sự cố tràn dầu trên biển đƣợc
nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhiều chỉnh. Điều này thực sự gây khó
khăn cho các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại để yêu cầu đòi bồi thƣờng. Để việc đòi bồi
thƣờng thiệt hại đƣợc thuận lợi nhằm khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt
hại gây ra từ sự cố tràn dầu, việc nghiên cứu ban hành văn bản quy phạm pháp luật
riêng điều chỉnh vấn đề này hoặc ban hành tài liệu hƣớng dẫn quy trình xác định thiệt
hại và đòi bồi thƣờng là rất cần thiết trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hồng Thao, Ô nhiễm môi trƣờng biển Việt Nam - luật pháp và thực
tiễn, Nxb. Thống kê, Hà Nội. 2003
2. Cục Hàng hải Việt Nam (2016), Báo cáo Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng biển
trong hoạt động hàng hải.
3. Cục Hàng hải Việt Nam (20015), Báo cáo tổ chức thực hiện Công ƣớc về trách
nhiệm dân sự đối với thiệt hại ô nhiễm môi trƣờng do dầu từ tàu tại Việt Nam.
55
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại về ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu gây ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
boi_thuong_thiet_hai_ve_o_nhiem_moi_truong_bien_do_dau_tu_ta.pdf

