Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam

TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA THEO  
PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
Nguyễn Văn Hợi*  
Người phản biện: TS. Hồ Thị Vân Anh  
Tóm tắt: Các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản  
gây ra là nội dung quan trọng trong chế định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài  
hợp đồng và trong hệ thống pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở  
mỗi quốc gia khác nhau, việc ghi nhận các quy định có liên quan đến trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra đƣợc thể hiện ở mức độ khác nhau.  
Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài  
sản gây ra đã đƣợc sửa đổi, bổ sung qua các lần ban hành Bộ luật dân sự. Trong quá  
trình xây dựng những quy định này, Việt Nam cũng tham khảo kinh nghiệm lập pháp  
của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do có nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và  
khách quan) khiến cho những quy định hiện hành của Việt Nam vẫn còn tồn tại những  
điểm bất cập, hạn chế nhất định. Ví dụ, chƣa có quy định khái quát về nguồn nguy  
hiểm cao độ và chƣa có hƣớng dẫn cụ thể nên còn có sự đồng nhất thiệt hại do hành vi  
gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ với thiệt hại do tự thân nguồn nguy  
hiểm cao độ gây ra. Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất ở các địa  
phƣơng và các cấp Toà trong việc giải quyết tranh chấp. Trong bài viết này, tác giả  
phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm đƣa ra những kiến hoàn  
thiện.  
Từ khoá: trách nhiệm, bồi thƣờng, thiệt hại.  
Résume: Les dispositions relatives à la responsabilité du fait des choses  
occupent une place importante dans la responsabilité extracontractuelle et ceci dans le  
système juridique de plusieurs Etats. L'encadrement de la responsabilité du fait des  
choses est différent dans chaque pays.  
Au Vietnam, les dispositions sur la responsabilité du fait des choses ont été  
révisées et complétées grâce à la publication du Code civil. Au cours de l'élaboration  
de ces dispositions, Vietnam s‟est inspiré de la législation de nombreux pays dans le  
monde.  
* TS., Giảng viên trƣờng Đại học Luật Hà Nội  
83  
Cependant comme il existe de nombreuses causes (à la fois subjectives et  
objectives), les dispositions au Vietnam comportent encore certaines lacunes et  
limites. Par exemple, il n‟existe pas de dispositions générales sur les choses  
contiennent des dangers extrêmes, ni de directives spécifiques. Il existe donc une  
homogénéité des dommages causés par des actes liés à ce type de chose et ceux causés  
par la chose elle-même. Cette réalité conduit à des incohérences dans l‟application des  
dispositions pour trancher des litiges aux différents Cours. C‟est la raison pour laquelle  
l'auteur analyse et évalue les dispositions de la législation vietnamienne dans cet  
article, afin de formuler des commentaires parfaits.  
Mots-clés: la responsabilité, indemnité, dommage.  
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra  
Theo quan điểm lập pháp dân sự hiện hành ở Việt Nam, các “Quy định về căn cứ  
phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại theo hƣớng không dựa trên cơ sở lỗi nhƣ  
trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Trƣờng hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ  
sở hữu, ngƣời chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại hoặc do có  
thoả thuận, luật có quy định khác”81.  
Tác giả cho rằng quy định theo hƣớng tiếp  
cận hiện tại của Việt Nam trong Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp hơn so với Bộ  
luật dân sự năm 2005 bởi vì:  
Thứ nhất, “xét về hình thức, lỗi là thái độ tâm lý của ngƣời có hành vi gây ra  
thiệt hại, lỗi đƣợc thể hiện dƣới dạng cố ý hay vô ý”82. Nhƣ vậy, lỗi là yếu tố gắn liền  
với hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của con ngƣời. Do đó, khi tài sản gây thiệt hại  
thì bản thân tài sản không thể bị coi là có lỗi. Bởi vì hoạt động của tài sản không thể  
coi là một hành vi. Đồng thời, “sẽ là không hợp lý khi một tài sản gây thiệt hại lại xét  
đến yếu tố hành vi …, … gắn lỗi cho tài sản khi chúng gây thiệt hại là không thể xảy  
ra”83.  
Thứ hai, trong rất nhiều trƣờng hợp, tài sản có thể gây thiệt hại mà ngay bản thân  
chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản cũng không thể kiểm soát đƣợc. Đây là  
81 Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của Bộ luật dân sự  
năm 2015 (so sánh với Bộ luật dân sự năm 2005), Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, tr.55.  
82 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân, Hà  
Nội, tr.286;  
83 Trần Thị Huệ (chủ biên, 2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt  
Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.20-21;  
84  
những trƣờng hợp mà chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản đã tuân thủ mọi  
quy định liên quan đến việc quản lý tài sản, nhƣng thiệt hại vẫn xảy ra. Điều đó cũng  
có nghĩa là chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng tài sản không có lỗi trong  
việc quản lý tài sản (không có yếu tố lỗi). Nếu nhƣ coi lỗi là một điều kiện phát sinh  
trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại thì trong những trƣờng hợp này, chủ sở hữu, ngƣời  
chiếm hữu, ngƣời sử dụng tài sản sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.  
Điều này là rất vô lý và không công bằng đối với ngƣời bị thiệt hại. Trong trƣờng hợp  
này nên coi thiệt hại xảy ra là một rủi ro mà tài sản mang lại và ai hƣởng lợi từ tài sản  
sẽ phải gánh chịu rủi ro đó. Do đó, để đảm bảo nguyên tắc công bằng thì chủ sở hữu,  
ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản phải gánh chịu rủi ro mà tài sản mang lại, tức là phải  
bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị thiệt hại ngay cả khi không có lỗi.  
2. Những quy định cụ thể về bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra  
2.1. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra  
* Về cơ sở pháp lý:  
Ở Việt Nam, cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy  
hiểm cao độ gây ra đƣợc quy định tại điều 601 bộ luật dân sự năm 2015. Song tại  
khoản 1 Điều này chỉ liệt kê các loại nguồn nguy hiểm cao độ mà chƣa ghi nhận cụ thể  
khái niệm mang tính bao quát về nguồn nguy hiểm cao độ. Cách quy định này tƣởng  
sẽ dễ áp dụng, nhƣng thực tế cho thấy việc quy định riêng biệt nhƣng chƣa rõ ràng đã  
khiến cho việc áp dụng pháp luật không thống nhất. Một số Toà án đã đồng nhất  
trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ với trƣờng  
hợp thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến việc vận dụng cơ sở  
pháp lý không chính xác. Ví dụ, tại Bản án số 14/2019/DS-ST ngày 18/4/2019 của Toà  
án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử tranh chấp về bồi thường  
thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, Hội đồng xét xử đã nhận định có “hành vi lái xe  
lấn sang bên trái đường” nhưng lại áp dụng Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 (bồi  
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra) để giải quyết vấn đề bồi thường84.  
Điều này khiến cho giá trị của việc quy định riêng biệt đối với nguồn nguy hiểm cao  
độ không đạt đƣợc giá trị nhƣ mong muốn.  
84 Xem toàn văn bản án trên trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao về công bố bản án, quyết định  
16/6/2019)  
85  
Không giống nhƣ Việt Nam, trong Bộ luật dân sự Đức không có quy định riêng  
về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, đồng thời cũng  
không đƣa ra nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản  
gây ra. Theo đó, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra  
(nếu có) chỉ đƣợc lồng ghép trong các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng  
thiệt hại do động vật gây ra (Điều 833 và Điều 834), trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại  
do nhà cửa, công trình xây dựng khác (Điều 836 và Điều 837).  
* Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:  
Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam, khi nguồn nguy  
hiểm cao độ gây thiệt hại, ngƣời phải bồi thƣờng có thể là chủ sở hữu, ngƣời đƣợc  
giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hoặc ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái  
pháp luật. Trong đó, khoản 3 Điều 601 quy định chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử  
dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thƣờng ngay cả trong trƣờng hợp không có lỗi  
bất kể những những chủ thể này là ngƣời đƣợc hƣởng lợi hoặc không đƣợc hƣởng lợi  
ích từ nguồn nguy hiểm cao độ mà mình quản lý. Điều này cho thấy, pháp luật đặc biệt  
đề cao trách nhiệm của chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng trong việc quản  
lý nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự phù hợp với chủ sở hữu  
nguồn nguy hiểm cao độ. Bởi vì chủ sở hữu là ngƣời đƣợc thực hiện các quyền năng  
đối với tài sản, trong đó có quyền khai thác công dụng và hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài  
sản. Theo lẽ công bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu đƣợc hƣởng, thì khi tài  
sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thƣờng là hoàn toàn phù hợp. Song, khi nguồn  
nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà ngƣời đƣợc giao chiếm hữu, sử dụng không có lỗi  
trong quản lý, đồng thời họ không đƣợc hƣởng lợi ích từ việc quản lý nguồn nguy  
hiểm cao độ mà vẫn phải bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là  
chƣa phù hợp với lẽ công bằng mà Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam đã ghi  
nhận.  
Trách nhiệm của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật có thể là trách nhiệm  
độc lập hoặc trách nhiệm liên đới. Theo quy định tại khoản 4 điều 601 Bộ luật dân sự  
2015, trách nhiệm liên đới sẽ phát sinh nếu chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng có  
lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Chính  
sự kết hợp giữa hành vi bất cẩn của chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng với hành vi  
86  
của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ đó là nguyên  
nhân dẫn đến nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại nên việc họ phải chịu trách nhiệm  
liên đới bồi thƣờng thiệt hại là hoàn toàn phù hợp.  
Theo quy định trong Bộ luật dân sự Đức, khi các tài sản đƣợc coi là nguồn nguy  
hiểm cao độ gây thiệt hại, việc xác định chủ thể cũng không có điểm gì đặc biệt so với  
trƣờng hợp các tài sản khác gây thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thƣờng đặt ra với  
chủ sở hữu và ngƣời chiếm hữu tài sản. Ngoài ra, Bộ luật dân sự Đức cũng không đề  
cập đến trách nhiệm của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, và đây cũng là điểm  
khác biệt so với Bộ luật dân sự Việt Nam. Song khái niệm ngƣời chiếm hữu tài sản  
cũng có thể bao hàm khái niệm ngƣời chiếm hữu trái pháp luật nhƣ Bộ luật dân sự  
Việt Nam đã đề cập.  
2.2. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra  
* Về cơ sở pháp lý  
Ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra đƣợc quy định cụ  
thể tại Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 và hoàn toàn tách biệt với trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại do các loại gia cầm hoặc thú dữ gây ra. Trong đó, nếu gia cầm gây  
thiệt hại, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc giải quyết theo quy định chung về  
trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 Bộ luật dân sự  
năm 2015. Nếu thú dữ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc giải quyết  
theo quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại Điều 601  
Bộ luạt dân sự năm 2105.  
Tác giả cho rằng, sự tách biệt các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do động vật  
gây trong bộ luật dân sự của Việt Nam đảm bảo việc xác định căn cứ phát sinh trách  
nhiệm bồi thƣờng trong các trƣờng hợp khác nhau một cách chi tiết hơn. Tuy nhiên,  
việc tách biệt sẽ rơi vào việc liệt kê các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do động vật  
gây ra, mà việc liệt kê sẽ không thể bao quát đƣợc tất cả các trƣờng hợp động vật gây  
thiệt hại, dẫn đến việc khi giải quyết tranh chấp về bồi thƣờng thiệt hại sẽ phải viện  
dẫn quy định tƣơng tự pháp luật để giải quyết. Hơn nữa, nhà làm luật không đƣa ra bất  
cứ cách giải thích nào về các khái niệm nhƣ súc vật, gia súc, gia cầm, bò sát, … dẫn  
đến thực thế có thể xảy ra tình trạng không thống nhất trong việc áp dụng. Ví dụ, tại  
Bản án số 100/2005/DS-PT ngày 07/6/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Hội  
87  
đồng xét xử đã xác định “ngỗng là súc vật” nên đã áp dụng quy định về bồi thường  
thiệt hại do súc vật gây ra để giải quyết.  
Trong khi đó ở Đức, Bộ luật dân sự quy định chung về trách nhiệm bồi thƣờng  
của ngƣời nuôi giữ và ngƣời giám sát động vật khi động vật gây thiệt hại mà không  
tách biệt thành súc vật, gia cầm, thú dữ nhƣ ở Việt Nam. Tác giả cho rằng việc quy  
định thống nhất nhƣ Bộ luật dân sự Đức sẽ giúp cho việc áp dụng thống nhất trong  
thực tiễn, tránh những trƣờng hợp vận dụng cơ sở pháp lý không chính xác.  
* Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:  
Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015, khi súc vật gây thiệt hại,  
trách nhiệm bồi thƣờng có thể thuộc về chủ sở hữu, ngƣời đƣợc giao chiếm hữu, sử  
dụng súc vật, ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật hoặc là ngƣời thứ ba.  
Trong đó, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm khi trực tiếp quản lý súc vật tại thời điểm  
súc vật gây thiệt hại hoặc không trực tiếp quản lý súc vật gây thiệt hại nhƣng có lỗi  
làm cho súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật hoặc để ngƣời thứ ba tác động  
làm cho súc vật gây thiệt hại. Ngoài ra, ngay cả khi chủ sở hữu chuyển giao quyền  
chiếm hữu, sử dụng súc vật cho chủ thể khác thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thƣờng thiệt  
hại do súc vật gây ra nếu có thoả thuận. Ngƣời chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi  
thƣờng thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật bất kể có lỗi hay không có  
lỗi trong việc quản lý súc vật, trừ trƣờng hợp có thỏa thuận với chủ sở hữu về việc chủ  
sở hữu phải bồi thƣờng thiệt hại. Ngoài chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng hợp  
pháp súc vật phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thì ở Việt Nam, ngƣời chiếm hữu, sử  
dụng trái pháp luật phải bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra trong thời gian chiếm  
hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Trong khi đó, Bộ luật dân sự của Pháp không quy  
định riêng về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp  
luật động vật mà chỉ quy định trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc ngƣời sử dụng.  
Đặc biệt theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam, trƣờng hợp  
ngƣời thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho ngƣời khác thì ngƣời thứ  
ba phải bồi thƣờng thiệt hại; nếu ngƣời thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới  
bồi thƣờng thiệt hại. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, điều này là không hợp lý  
bởi vì trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời thứ ba đƣợc đề cập trong Bộ luật dân sự năm  
2015 của Việt Nam thực chất là trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do hành vi trái pháp  
88  
luật gây ra mà không phải do súc vật gây ra. Cách quy định chủ thể chịu trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại nhƣ Bộ luật dân sự Việt Nam khiến cho các quy định trở nên mâu thuẫn  
với nhau. Các quy định chung thì thể hiện quan điểm lập pháp theo hƣớng không coi lỗi  
là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra.  
Nhƣng chính các quy định cụ thể có thể dẫn đến cách hiểu rằng lỗi vẫn là một trong các  
điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do súc vật (một trong các loại tài  
sản) gây ra. Với những phân tích này có thể thấy việc quy định trách nhiệm bồi thƣờng  
chỉ thuộc về chủ sở hữu hoặc ngƣời sử dụng động vật nhƣ trong Bộ luật dân sự Pháp sẽ  
hạn chế đƣợc sự mâu thuẫn giữa các quy định mà Việt Nam đang gặp phải. Còn ở Đức,  
Bộ luật dân sự quy định khá đơn giản về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại  
do động vật gây ra. Theo đó, khi động vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thƣờng,  
trƣờng hợp chủ sở hữu đã chuyển giao cho ngƣời khác giám sát thì ngƣời giám sát  
phải bồi thƣờng. Song trách nhiệm bồi thƣờng không đặt ra nếu các chủ thể đã tuân  
theo sự cẩn trọng cần thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra kể cả khi đã  
vậng dụng sự cẩn trọng này85.  
2.3. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra  
* Về cơ sở pháp lý:  
Ở Việt Nam, bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra đƣợc quy định cụ thể tại Điều  
604 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó “Chủ sở hữu, ngƣời chiếmh, ngƣời đƣợc giao quản  
lý phải bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra”. Theo quy định này, nếu cây cối gây  
thiệt hại (bất kể do đổ, gẫy, cháy, độc tố phát ra, hoặc do bất cứ nguyên nhân nào) mà  
đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thì chủ sở hữu hoặc các chủ thể có  
liên quan phải bồi thƣờng thiệt hại. Quy định này bao quát đƣợc toàn bộ các trƣờng  
hợp bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra, giúp cho Tòa án có cơ sở pháp lý rõ ràng để  
giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh trên thực tiễn.  
Theo quan điểm của tác giả, việc ghi nhận cơ sở pháp lý riêng biệt nhƣ Bộ luật  
dân sự Việt Nam sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc áp dụng vào thực tiễn, tránh  
tình trạng mâu thuẫn trong việc đánh giá mức độ phù hợp của quy định chung đối với  
từng trƣờng hợp cụ thể. Bởi vì, cây cối và các loại tài sản khác có sự khác biệt về cơ  
85 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.684-  
685.  
89  
chế gây thiệt hại. Hầu hết hoạt động gây thiệt hại của các loại cây cối đều nằm trong  
sự kiểm soát của con ngƣời, trong khi đó hoạt động gây thiệt hại của súc vật hay  
nguồn nguy hiểm cao độ có thể nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Tuy nhiên,  
việc quy định này cũng dẫn đến những sự trùng lặp giữa quy định chung về bồi thƣờng  
thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 với quy định cụ thể về bồi thƣờng thiệt  
hại do cây cối gây ra tại Điều 604, đặc biệt là sự trùng lặp về các trƣờng hợp phải bồi  
thƣờng và chủ thể phải bồi thƣờng.  
* Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:  
Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam, khi cây cối  
gây thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại có thể là chủ sở hữu hoặc  
ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý cây cối. Nhà làm luật Việt Nam không quy  
định thứ tự chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại. Theo đó, việc xác định chủ sở  
hữu hay ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý phải bồi thƣờng thiệt hại phải xem  
xét tại thời điểm cây cối gây thiệt hại ai là ngƣời đang chịu trách nhiệm quản lý cây cối.  
Mặc dù việc xác định các chủ thể phải bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra trong Bộ  
luật dân sự năm 2015 đã có thay đổi tích cực hơn Bộ luật dân sự trƣớc đó, song rõ ràng  
việc sử dụng cả cụm từ “ngƣời chiếm hữu” và cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý” để xác  
định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng là không cần thiết và thể hiện sự lặp đi lặp lại  
các thuật ngữ có cùng nội dung. Bởi vì chiếm hữu đƣợc hiểu là “nắm giữ và quản lý tài  
sản”86, tức là khái niệm “chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “quản lý”, nên khái niệm  
“ngƣời chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “ngƣời đƣợc giao quản lý”.  
2.4. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra  
* Cơ sở pháp lý và các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại:  
Ở Việt Nam, bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra  
vừa tuân theo quy định chung, vừa đƣợc quy định riêng tại Điều 605 Bộ luật dân sự  
năm 2015. Trong đó, nhà làm luật Việt Nam không còn xác định các trƣờng hợp bồi  
thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nhƣ trƣớc đó mà quy định  
theo hƣớng mọi trƣờng hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì trách nhiệm  
bồi thƣờng đều phát sinh nếu không thuộc các trƣờng hợp loại trừ trách nhiệm bồi  
thƣờng. Trong Bộ luật dân sự Đức, nhà làm luật ghi nhận cơ sở pháp lý riêng đối với  
86 Viện khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb từ điển Bách khoa – Nxb Tƣ pháp, tr.136.  
90  
trƣờng hợp thiệt hại do nhà cửa, công trình khác gắn liền với đất bị sụp đổ, rơi vỡ  
gây thiệt hại.  
Nhƣ vậy, vừa có sự tƣơng đồng vừa có sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự Việt  
Nam và Bộ luật dân sự Đức. Sự tƣơng đồng thể hiện ở chỗ Bộ luật dân sự của hai  
quốc gia đều sử dụng thuật ngữ nhà cửa (toà nhà) và công trình xây dựng khác (công  
trình khác gắn liền với đất). Sự khác biệt thể hiện ở chỗ theo Bộ luật dân sự của Việt  
Nam thì nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng  
có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng. Trong khi đó, Bộ luật dân sự Đức lại  
ghi nhận hai trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại đó là toà nhà hoặc công trình khác bị  
sụp đổ và trƣờng hợp các phần của toà nhà hoặc công trình khác bị vỡ ra.  
Theo cách quy định này, có thể nhận thấy rằng quy định về bồi thƣờng thiệt hại  
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam  
mang tính khái quát cao hơn. Quy định này là cơ sở để Toà án có thể giải quyết tranh  
chấp trong mọi trƣờng hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại trên thực tế.  
Việc chỉ quy định hai trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do công trình xây dựng gây ra  
trong Bộ luật dân sự Đức nếu áp dụng tại Việt Nam có thể khiến cho Toà án sẽ thiếu  
cơ sở để giải quyết các tranh chấp liên quan đến công trình xây dựng gây thiệt hại  
nhƣng không do sụp đổ, vỡ ra (ví dụ nhà hoặc công trình khác bị cháy gây thiệt hại,  
…). Tuy nhiên, việc sử dụng cả hai cụm từ là nhà cửa (toà nhà) và công trình xây dựng  
khác (công trình khác gắn liền với đất) nhƣ cả hai Bộ luật dân sự của hai quốc gia lại  
chƣa thực sự phù hợp. Bởi vì, ở Việt Nam “nhà cửa cũng là một loại công trình xây  
dựng”87 và đều là bất động sản88.  
* Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại:  
Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ thể chịu  
trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra có thể là chủ  
sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý, sử dụng hoặc có thể là ngƣời thi  
công. Trong đó, ngƣời thi công chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi, các chủ thể khác phải  
chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự của Việt Nam  
không xác định cụ thể thứ tự chịu trách nhiệm của các chủ thể (ai trƣớc, ai sau). Khiến  
87 Xem khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2015 và khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014  
88 Xem khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015  
91  
cho thực tế có thể tồn tại nhiều quan điểm trái ngƣợc nhau liên quan đến việc xác định  
chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng, gây khó khăn cho việc áp dụng. Nếu dựa trên lập  
luận cho rằng tại thời điểm xảy ra thiệt hại chủ thể nào đang quản lý thì chủ thể đó  
phải bồi thƣờng thì sẽ giải quyết nhƣ thế nào nếu tại thời điểm đó cả chủ sở hữu và  
chủ thể khác cùng đang quản lý, sử dụng hoặc trƣờng hợp ngƣời quản lý là ngƣời  
“trông nhà hộ” mà không đƣợc hƣởng lợi. Nếu dựa trên lập luận cho rằng chủ thể nào  
đang hƣởng lợi từ việc khai thác nhà cửa, công trình xây dựng thì chủ thể đó bồi  
thƣờng thì sẽ giải quyết nhƣ thế nào nếu nhà cửa, công trình xây dựng mới bàn giao đã  
gây thiệt hại.  
Trong Bộ luật dân sự Đức, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng  
thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra đƣợc thể hiện trong các quy định khác  
nhau. Trong đó, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng bao gồm ngƣời chiếm hữu mảnh  
đất (Điều 836), ngƣời chiếm hữu tòa nhà hoặc công trình trên đất (Điều 837) và ngƣời  
bảo trì (Điều 838). Tuy nhiên, tùy từng trƣờng hợp cụ thể mà chủ thể phải bồi thƣờng  
thiệt hại đƣợc xác định cụ thể: Nếu nhà cửa, công trình khác gây thiệt hại mà liên quan  
đến hoạt động bảo trì thì ngƣời bảo trì bồi thƣờng; Nếu tòa nhà hoặc công trình đang  
thuộc sự chiếm hữu của ngƣời nào thì ngƣời đó phải bồi thƣờng thay cho ngƣời chiếm  
hữu mảnh đất; Nếu ngƣời chiếm hữu mảnh đất đồng thời là ngƣời chiếm hữu tòa nhà  
hoặc công trình khác gây thiệt hại thì ngƣời chiếm hữu mảnh đất bồi thƣờng. Tuy  
nhiên, trƣờng hợp ngƣời chiếm hữu mảnh đất đã thôi chiếm hữu mảnh đất thì trong  
vòng một năm kể từ ngày thôi chiếm hữu, nếu tòa nhà hoặc công trình khác gây thiệt  
hại thì họ vẫn phải bồi thƣờng thiệt hại.  
Nhƣ vậy, quy định của pháp luật Đức cũng có điểm tƣơng đồng nhất định với  
pháp luật Việt Nam. Điều đó thể hiện ở chỗ việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại dựa trên nguyên tắc chủ thể nào có quyền chi phối đối với tài sản thì  
chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra. Tuy nhiên, Bộ  
luật dân sự Việt Nam không buộc chủ thể đã chuyển quyền sở hữu ngôi nhà cho ngƣời  
khác phải chịu trách nhiệm trừ khi thời hạn bảo hành nhà vẫn còn. Ngoài ra, theo Bộ  
luật dân sự Đức thì ngƣời bảo trì toà nhà có thể phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt  
hại, trong khi Bộ luật dân sự Việt Nam lại quy định ngƣời thi công có thể phải bồi  
thƣờng thiệt hại nếu có lỗi trong thi công. Những sự khác nhau này cho thấy quan  
92  
điểm lập pháp của hai quốc gia có những điểm khác biệt cơ bản, xuất phát từ sự khác  
biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và nền văn hoá ở mỗi quốc gia.  
2.5. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra  
Ở Việt Nam, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc quy định  
chung tại khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm: (i) Thiệt hại xảy ra do  
sự kiện bất khả kháng; (ii) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của ngƣời bị thiệt hại. Đây  
là căn cứ đƣợc áp dụng với cả trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại và tài sản gây thiệt hại.  
Tuy nhiên, đối với trƣờng hợp tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, căn cứ  
loại trừ trách nhiệm đƣợc ghi nhận riêng tại khoản 3 Điều 601. Theo đó, trách nhiệm  
bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đƣợc loại trừ trong ba trƣờng  
hợp: (i) Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng; (ii) Thiệt hại xảy ra trong tình thế  
cấp thiết; (iii) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của ngƣời bị thiệt hại. Nhƣ vậy,  
mặc dù không ghi nhận lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại, song ở Việt Nam việc xác định lỗi của ngƣời bị thiệt hại lại là một  
trong những căn cứ để xác định mức độ thiệt hại mà họ không đƣợc bồi thƣờng, thậm  
chí là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng. Ngoài ra, Bộ luật dân sự Việt Nam còn  
quy định: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy  
ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại  
cho chính mình”. Quy định này là phù hợp bởi vì nó buộc ngƣời bị thiệt hại phải có ý  
thức tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trƣớc khi bị xâm phạm. Đồng thời,  
quy định này thể hiện sự phù hợp với một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
dân sự đó là “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ  
dân sự của mình một cách thiện chí”89.  
Ở Đức, nhà làm luật quy định vấn đề loại trừ và giảm nhẹ trách nhiệm tại Điều  
827. Song nội dung điều này chỉ hƣớng dẫn việc loại trừ trách nhiệm hoặc giảm nhẹ  
trách nhiệm trong trƣờng hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra trong hai trƣờng  
hợp: (1) Khi ngƣời gây thiệt hại ở trong tình trạng rối loạn tâm thần bệnh lý làm không  
thể hình thành ý chí tự do; (2) Ngƣời dùng đồ uống có cồn hoặc các loại tƣơng tự mà  
tạm thời rơi vào tình trạng dạng nhƣ vậy, nhƣng không có lỗi khi rơi vào tình trạng  
89 Xem khoản 3 Điều 3 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015.  
93  
đó90. Tuy nhiên, các căn cứ này không áp dụng với trƣờng hợp tài sản gây thiệt hại mà  
nhà làm luật lại xây dựng căn cứ loại trừ trách nhiệm với từng trƣờng hợp tài sản gây  
thiệt hại. Ví dụ, Điều 833 quy định trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời nuôi giữ động  
vật đƣợc loại trừ nếu vật nuôi trong nhà nhằm phục vụ nghề nghiệp, hoạt động kinh tế  
hoặc sinh sống của ngƣời nuôi giữ, và ngƣời nuôi giữ đã tuân theo sự cẩn trọng cần  
thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra khi đã vận dụng sự cẩn trọng  
này91; Điều 836 quy định trách nhiệm bồi thƣờng do toà nhà, công trình xây dựng khác  
gây ra đƣợc loại trừ nếu ngƣời chiếm hữu đã tuân thủ sự cẩn trọng cần thiết nhằm mục  
đích phòng tránh nguy cơ92.  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra  
Thứ nhất, về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra  
(i) Việc ghi nhận cụ thể quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm  
cao độ gây ra là phù hợp bởi nó tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng khi áp dụng. Tuy nhiên,  
để áp dụng hiệu quả thì nhà làm luật Việt Nam cần phải cân nhắc để cụ thể hoá hơn  
nữa quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo hƣớng  
tách biệt với trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao  
độ. Đặc biệt, cần có một định nghĩa hoàn chỉnh mang tính bao quát về nguồn nguy  
hiểm cao độ thay vì liệt kê nhƣ khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt  
Nam.  
(ii) Bộ luật dân sự Việt Nam chƣa hoàn thiện khi quy định về chủ thể chịu trách  
nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Điểm hạn chế trong  
pháp luật Việt Nam là mặc dù có sự rõ ràng về cơ sở để buộc chủ thể phải chịu trách  
nhiệm bồi thƣờng, đặc biệt là ngƣời chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ nhƣng lại  
buộc chủ thể không có lỗi và không đƣợc hƣởng lợi từ việc chiếm hữu mà vẫn phải bồi  
thƣờng thiệt hại. Theo đó, nhà làm luật của Việt Nam có thể khắc phục những hạn chế  
thông qua việc xác định rõ cơ sở áp dụng trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn  
90 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.679.  
91 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.684.  
92 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.685-  
686.  
94  
nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên cơ sở những lợi ích mà họ đƣợc hƣởng từ việc khai  
thác nguồn nguy hiểm cao độ.  
(iii) Việc ghi nhận các căn cứ loại trừ trách nhiệm chung với mọi trƣờng hợp  
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại nhƣ ở Bộ luật dân sự Việt Nam sẽ không phù  
hợp. Bởi vì, căn cứ thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết dƣờng nhƣ chỉ phù hợp với  
loại nguồn nguy hiểm cao độ là phƣơng tiện cơ giới vận tải mà không phù hợp với các  
loại nguồn nguy hiểm cao độ khác. Trong khi đó, việc ghi nhận riêng biệt các căn cứ  
loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại nhƣ trong Bộ luật dân sự Đức sẽ phù hợp hơn  
bởi vì mỗi loại tài sản có những cơ chế hoạt động gây thiệt hại khác nhau nên các căn  
cứ loại trừ trách nhiệm cũng cần xác định một cách phù hợp. Các nhà làm luật của  
Việt Nam nên cân nhắc đến vấn đề này để có thể hoàn thiện pháp luật trong thời gian  
tới.  
Thứ ba, về bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra  
(i) Nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc đến việc ghi nhận quy định chung về bồi  
thƣờng thiệt hại do động vật gây ra nhƣ trong Bộ luật dân sự Đức, nhằm bảo đảm việc  
bao quát các trƣờng hợp động vật gây thiệt hại, tránh việc áp dụng không thống nhất  
trong thực tế.  
(ii) Việc Bộ luật dân sự Đức không ghi nhận trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời  
thứ ba là phù hợp hơn. Bởi vì xét về bản chất đây là trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại  
do hành vi trái pháp luật của con ngƣời gây ra mà không phải trách nhiệm bồi thƣờng  
do súc vật gây ra. Do đó, nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc để có những sửa đổi cho  
phù hợp với thực tế.  
Thứ tư, về bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra  
Việc sử dụng cả cụm từ “ngƣời chiếm hữu” và cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý”  
trong Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam là không cần thiết và thể hiện  
sự lặp đi lặp lại các thuật ngữ có cùng nội dung. Bởi vì, ngƣời chiếm hữu bao gồm  
ngƣời chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật. Hơn nữa, căn cứ  
quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 có thể xác định  
ngƣời đƣợc giao quản lý tài sản là ngƣời chiếm hữu có căn cứ pháp luật đối với tài sản  
đƣợc giao. Nên suy cho cùng khái niệm “ngƣời chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm  
“ngƣời đƣợc giao quản lý”. Do đó, chỉ cần sử dụng khái niệm ngƣời chiếm hữu là đủ.  
95  
Theo đó, tác giả cho rằng cần loại bỏ cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý” khỏi Điều 604  
Bộ luật dân sự 2015.  
Thứ năm, bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra  
(i) Việc sử dụng đồng thời các thuật ngữ “nhà cửa” và “công trình xây dựng  
khác” nhƣ trong Bộ luật dân sự Việt Nam mặc dù không gây ra sự nhầm lẫn, nhƣng  
thiết nghĩ rằng điều đó là không cần thiết. Nhà làm luật Việt Nam nên cân nhắc việc sử  
dụng thống nhất một cụm từ “bất động sản” nhƣ trong Bộ luật dân sự Pháp để tránh  
rƣờm rà và trùng lặp.  
(ii) Việc sử dụng quá nhiều thuật ngữ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi  
thƣờng thiệt hại nhƣ trong Điều 605 Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam dễ gây ra sự  
nhầm lẫn trong việc xác định chính xác chủ thể. Hơn nữa, các khái niệm này là trùng  
lặp với nhau về bản chất. Bởi vì khái niệm “ngƣời chiếm hữu” đƣợc bổ sung trong  
Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam có thể bao hàm cả ngƣời đƣợc giao  
quản lý, bởi vì chiếm hữu là nắm giữ và quản lý tài sản.Trong một số trƣờng hợp khái  
niệm “ngƣời chiếm hữu” cũng chính là ngƣời ngƣời đƣợc giao sử dụng, bởi vì thƣờng  
thì phải chiếm hữu đƣợc mới sử dụng đƣợc. Thậm chí, bản thân chủ sở hữu cũng thực  
hiện quyền chiếm hữu tài sản theo quy định pháp luật. Do đó, nhà làm luật Việt Nam  
nên cân nhắc sử dụng một số cụm từ nhƣ chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng  
để bảo đảm tránh rƣờm rà và tạo sự nhất quán trong việc áp dụng.  
96  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội, Bộ luật dân sự năm 2015.  
2. Bộ luật dân sự Pháp (sửa đổi năm 2016)  
3. Trần Thị Huệ (chủ biên, 2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản  
gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành  
chính, Hà Nội.  
4. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2),  
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.  
5. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định  
nghĩa vụ), Nxb Lao động.  
6. Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới  
chủ yếu của Bộ luật dân sự năm 2015 (so sánh với Bộ luật dân sự năm 2005), Nxb Tƣ  
pháp, Hà Nội.  
6. Nhà Pháp luật Việt – Pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tƣ pháp, Hà  
Nội.  
97  
pdf 15 trang Thùy Anh 13020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_boi_thuong_thiet_hai_do_tai_san_gay_ra_theo_phap.pdf