Quốc hội lập pháp hay là hãm lập pháp
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUỐC HỘI LẬP PHÁP HAY LÀ HÃM LẬP PHÁP1
Nguyễn Đăng Dung
GS. TS. Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Lập pháp là quyền làm luật của Quốc hội, nhưng quyền này không đơn giản chỉ
là việc thông qua các dự án luật, mà còn bao hàm cả quyền hãm lập pháp. Trong
nhiều trường hợp, quyền hãm làm luật còn quan trọng hơn cả quyền thông qua
luật một khi dự án luật do Chính phủ hành pháp chuẩn bị, và một khi cần dự luật
phản ánh đúng ý muốn của thực tế cuộc sống của người dân.
Từ khóa: Quốc hội, lập pháp,
hãm lập pháp.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/5/2021
: 22/5/2021
: 27/5/2021
Article Infomation:
Abstract:
Legislation is the law-making power of the National Assembly. This legislative
power is not simple limited to the appraisal and approval of the bills, but also the
power to delay the legislative process. In several cases, the legislative power to
delay the law- makings is more important than the it is to approve the bill of law
when a bill is prepared by the executive agency of the Government and when it is
necessary to accurately reflect the realistic needs of the people.
Keywords: National Assembly;
legislation; legislation delay.
Article History:
Received
Edited
: 11 May 2021
: 22 May 2021
: 27 May 2021
Approved
Những năm gần đây xảy ra tình trạng, nhiều
dự luật đã được thông qua, chuẩn bị thi hành,
nhưng do sự phản ứng của dư luận xã hội,
Quốc hội đã phải xem xét lại. Bên cạnh Bộ luật
Hình sự năm 2015 đã phải hoãn thi hành, còn
có một số dự án luật khác liên tiếp không được
trình ra Quốc hội. Nguyên nhân của tình trạng
này nằm ở chất lượng làm luật. Việc tạm dừng
các dự luật sửa đổi khi không đảm bảo chất
lượng cũng là một việc cần thiết. Đứng trước
thực trạng này đòi hỏi cần phải xem xét một
cách thấu đáo quyền lập pháp từ khái niệm,
phạm vi cho đến cách thức thực hiện. 1
phải thuộc về nhân dân, không thể khác, rồi
thứ mới đến là của đại diện cho người dân,
người nhận được sự ủy thác của người dân.
Cái thứ nhất thì quá tốt nhưng thực sự khó
làm, với số lượng quá đông có quốc gia lên
đến hơn tỷ người, và với lãnh thổ quá rộng
so với nền dân chủ của các quốc gia cổ đại,
nơi có nền dân chủ đầu tiên của nhân loại -
nhà nước thành bang (Citystate). Vì vậy, về
cơ bản mọi quốc gia hiện nay đều lựa chọn
cách thứ hai, trừ một số trường hợp đặc biệt
như thông qua Hiến pháp mới, hay tách nhập
các phần lãnh thổ quốc gia, bằng biện pháp
phúc quyết của người dân …
Lập pháp là một trong ba nhánh quyền
do các nhà tư tưởng - triết học thời kỳ Khai
sáng J. Locke, S. Montesquieu tạo lập ra.
Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước
Nhưng ngày nay, làm luật không phải là
một công việc đơn giản, ngay cả cho những
đại biểu/nghị sĩ lành nghề chuyên nghiệp.
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ (QG21.49 - Đại học Quốc gia Hà Nội) do GS, TS.
Nguyễn Đăng Dung làm Chủ nhiệm.
Số 11(435) - T6/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Bởi lẽ, phạm vi lập pháp của Nghị viện/
Quốc hội là quá rộng. Do vậy, không phải
bất cứ một đại biểu nào cũng có khả năng
nắm vững được tất cả các dự thảo luật của
Quốc hội cần phải thảo luận thông qua.
Ngay từ năm 1861 khi viết chuyên khảo nổi
tiếng Chính thể đại diện, nhà triết học người
Anh J. S. Mill đã cảnh cáo sự khó khăn của
vấn đề lập pháp của Nghị viện:
nước tư bản phát triển. Lập pháp tức là việc
Quốc hội bàn bạc biểu quyết thông qua luật.
Việc thông qua dự luật hay không thông qua dự
luật, là 2 mặt của một vấn đề - quyền lập pháp.
Nhất là trong điều kiện dự luật lại là do Chính
phủ - hành pháp soạn thảo, hay còn được gọi là
sáng quyền lập pháp thuộc về Chính phủ. Điều
này, về mặt hình thức, dường như mâu thuẫn
với nguyên tắc của học thuyết phân quyền của
nền dân chủ phương Tây.
“Công việc làm luật cần thiết phải được
thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải
được rèn luyện và kinh qua thử thách, mà còn
phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên
cứu lâu dài và cần cù; khó tìm thấy một loại
công việc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến
như vậy đối với người thực hiện. Giá như
không có các lý do nào khác nữa, thì đây
chính là lý do đó giải thích tại sao công việc
ấy không bao giờ được thực hiện tốt được, trừ
khi có một tiểu ban ít người đảm nhiệm nó.
Một lý do nữa không kém phần quan trọng
là mỗi điều khoản của bộ luật cần phải đặt
trong khuôn khổ với một sự nhận thức chính
xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được sự tác động
của nó lên tất cả các điều khoản khác. Những
điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng ở
bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu
thông qua các bộ luật từng điều khoản tại một
hội đồng hỗn tạp”2.
Ở Việt Nam, cho dù Quốc hội, cũng như
Nghị viện của các nước phương Tây, không
hoàn toàn thực hiện các khâu từ dự thảo/soạn
thảo, thảo luận, tranh luận đến thông qua dự
luật, nhưng quyền thông qua luật của Quốc hội
không thể chia sẻ với một chủ thể nào khác.
Đây là một thành công của sự phát triển dân
chủ của nhân loại, sau nhiều năm đấu tranh từ
lý luận cho đến thực tiễn mới giành được.
Với tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến,
một phần quan trọng của nhà nước pháp
quyền, mọi quyền lực của nhà nước phải bị
giới hạn, kể cả trong nhà nước dân chủ hiện
nay. Bên cạnh quyền biểu quyết thông qua
dự luật là quyền không biểu quyết dự luật
thành luật. Trong trường hợp này, quyền lập
pháp trở thành quyền hãm lập pháp. Quốc
hội trở thành cơ quan hãm quyền lập pháp
có cơ sở ở nó:
Từ những phân tích xác đáng trên, Ông
đề xuất, Quốc hội/ nghị viện tốt nhất là việc
chỉ ra những người, một tập thể nào đáng
được làm những việc khó khăn ấy và thay
cho chức năng lập pháp không hoàn toàn
thích hợp với mình, chức năng đích thực của
Quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát
Chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai
nên các hành vi cai trị buộc Chính phủ phải
giải trình tất cả các hành vi ấy3.
Chỉ làm luật một khi cuộc sống cần. Trước
hết phải xuất phát từ nhận thức, chúng ta phải
xoay lại cách làm luật hiện tại theo “kiểu vá
xăm xe đạp”. Cái xăm còn nguyên đang đi
được thì cứ để thế mà đi đừng chọc ra để
vá. Cuộc sống đang bình yên thì hãy cứ để
chúng bình yên, sự yên lành có giá trị của nó.
Vì chúng được hình thành hàng nhiều năm,
trải qua không biết bao nhiêu những quy luật
khách quan đã được tích tụ lại, hình thành ra
cuộc sống yên lành của người dân. Chỉ khi
nào cuộc sống bình yên không được bảo đảm
Những gì dự đoán của J.S. Mill đã diễn
ra gần tương tự như hiện nay ở Quốc hội các
2 J. S. Mill: Chính thể đại diện. Nxb. Tri thức, Hà Nội 2008, tr.163-164.
3 J. S. Mill: Sđd.171- 172.
4
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thì mới cần có tác động theo ý chí chủ quan
của con người. Phải đưa cuộc sống vào pháp
luật, mà không phải là ngược lại là đưa pháp
luật vào cuộc sống.
nhiều lần, rồi đánh giá tác động, nhưng luật
vẫn không đi vào cuộc sống. Có rất nhiều lý
do, nhưng lý do căn bản nằm ở chỗ: Luật chưa
đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chưa thể hiện
được sự mong đợi của người dân. Hơn nữa,
với hơn 80% các dự luật do Chính phủ trình,
lẽ đương nhiên, dự thảo luật phải thể hiện nhu
cầu của hành pháp. Vì vậy, khi bỏ phiếu thông
qua, các đại biểu Quốc hội cần phải xem xét
cẩn trọng nhu cầu của xã hội, mong muốn của
cử tri bầu, tính hãm lập pháp cần phải được các
đại biểu cân nhắc.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật năm 2015 phân tách giai đoạn xây dựng
chính sách thành giai đoạn riêng - tách khỏi
giai đoạn quy phạm hóa. Ở Quốc hội cũng
có giai đoạn quyết định chính sách như ở
Chính phủ, nhưng giữa chúng phải có sự
khác nhau. Giai đoạn biểu quyết chính sách
là giai đoạn các đại biểu Quốc hội cần có
mục tiêu khác hơn với giai đoạn hoạch định
chính sách của Chính phủ. Và giai đoạn được
gọi là thẩm định chính sách của Quốc hội5 là
giai đoạn quan trọng nhất để lấy ý kiến rộng
rãi các bên có lợi ích liên quan bị tác động.
Ở giai đoạn này, việc lấy ý kiến của các tổ
chức xã hội, hội đoàn, tổ chức phi chính phủ
cần được làm thực chất và nghiêm túc. Hội
đoàn, tổ chức xã hội là những người gần
nhất, hiểu nhất, có nguồn lực và năng lực
đại diện tốt nhất cho tiếng nói và lợi ích của
các nhóm người dân, đặc biệt là tiếng nói
của các nhóm yếu thế.
Vì vậy, việc làm luật phải bắt đầu các công
việc nhận biết vấn đề của cuộc sống. Khi nhận
biết được vấn đề, phải tìm ra nguyên nhân của
vấn đề. Mỗi một nguyên nhân có nhiều biện
pháp giải quyết. Luật pháp chỉ là biện pháp
cuối cùng để giải quyết nguyên nhân của vấn
đề - đó là (một giải pháp chính sách được lựa
chọn để giải quyết vấn đề) giải quyết vấn đề.
Đây là trách nhiệm cần có của cơ quan hành
pháp, cơ bản là do các bộ, ngành thực hiện.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều bộ, ngành
chưa dành cho hoạt động xây dựng chính
sách pháp luật sự quan tâm cần thiết. Đây là
nguyên nhân chính của việc các bộ, ngành
chậm trễ hướng dẫn thi hành luật. Không trăn
trở với vấn đề, với chính sách để giải quyết
vấn đề, thì không thể xây dựng dự thảo luật
tốt và hướng dẫn luật thi hành tốt được.
Làm luật phải đáp ứng được sự mong
muốn của người dân. Làm luật như là bác sĩ
chữa bệnh, trước khi kê đơn thuốc để chữa
bệnh. thì phải khám theo phương pháp của
Tây y và bắt mạch theo phương pháp của
Đông y. Nếu không chữa đúng bệnh, bệnh
tình không những không được chữa mà còn
nặng thêm4. Khi cuộc sống có vấn đề thì phải
có nhiều cách giải quyết, ví dụ, động viên,
cung cấp tài chính, quy phạm đạo đức….
Ban hành luật chỉ là biện pháp giải quyết khi
mà những biện pháp trên không giải quyết
được.
Theo chuyên gia người Mỹ R. Seidman
có tới 4 lý thuyết lập pháp: (i) Lý thuyết lớn;
(ii) Lý thuyết mục tiêu - phương tiện; (iii) Lý
thuyết gia tăng từ từ; (iv) Lý thuyết từ yêu cầu
của cuộc sống6. Trong 4 lý thuyết này, ông cho
rằng, lý thuyết thứ tư là quan trọng hơn cả.
Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật đã có nhiều quy định, dự thảo luật
phải có ý kiến của người dân. Trong quy trình
xây dựng luật, dự thảo luật được sửa đi sửa lại
4 Nguyễn Sĩ Dũng, Triết lý lập pháp, Tia sáng số 7 năm 2003.
5 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Tlđd.
6
Assessing Legislation - A manual for legislators written by Ann Seidman, Robert Seidman, and Nalin
Abeysekere February 2003 Boston, Masachsetts. Coopyright by the Authors p. 64- 70.
Số 11(435) - T6/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Vấn đề đầu tiên của hoạt động lập pháp
phải gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống có thể
đang đặt ra những vấn đề nóng bỏng, nhưng
chúng ta không phản ứng được. Do đó, nhiều
vấn đề mang tính thời sự nhưng chưa được
đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, mặc
dù chương trình xây dựng pháp luật được xây
dựng hằng năm. Bên cạnh đó, các cơ quan có
liên quan lại phải tập trung mọi nỗ lực để hoàn
thành chương trình xây dựng pháp luật theo kế
hoạch đã được thông qua, nên sẽ không còn
nguồn lực để xử lý những vấn đề nóng mới
phát sinh. Sự chậm trễ và bất tương ứng như
vậy có thể làm cho nền quản trị quốc gia của
chúng ta trở nên kém hiệu năng.
Nguồn động lực rất lớn để hình thành
nên chương trình xây dựng pháp luật là
mong muốn có thêm quyền năng của các
bộ, ngành. Mà các bộ, ngành càng có thêm
quyền năng, thì người dân càng ít tự do và
càng phải xin phép nhiều hơn. Bên cạnh đó,
vẫn còn tình trạng, sau khi đã đưa được tên
dự luật vào chương trình, bộ, ngành mới tìm
kiếm nội hàm chính sách cho chúng. Đây
quả thực là cách làm ngược. Thẩm định về
sự cần thiết của một lúc hàng chục dự luật là
rất khó khăn. Trên thực tế, điều này là không
thể làm được. Mà như vậy, thì rủi ro của việc
hoạt động lập pháp bị tách khỏi cuộc sống
thật lại càng lớn hơn7.
cuộc sống của người dân, mà không phải là
yêu cầu của chính bản thân Chính phủ.
Sau khi chương trình xây dựng pháp luật
được thông qua, các cơ quan hữu quan tiến
hành soạn thảo các dự luật. Và các dự luật được
soạn thảo xong trình ra các ủy ban tương ứng
của Quốc hội để được thẩm tra. Sau khi các ủy
ban thẩm tra xong thì trình ra Quốc hội. Theo
quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật hiện hành, các dự luật được thông qua
ở hai lần đọc theo cách gọi của các nước có nền
văn hóa nghị viện, tương ứng với hai lần trình ra
phiên họp toàn thể của Quốc hội8. Ở lần đọc thứ
nhất, Chính phủ trình dự luật ra trước Quốc hội,
ủy ban Quốc hội trình ý kiến thẩm tra của mình
đối với dự luật. Quốc hội thảo luận về những
vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ở lần đọc thứ
hai, Ủy ban thường vụ Quốc hội trình dự luật ra
trước Quốc hội, sau khi đã tiếp thu ý kiến của
các vị đại biểu Quốc hội và hoàn thiện dự thảo
văn bản. Nếu kể cả lần đầu tiên của việc thông
qua chương trình làm luật hàng năm thì cũng có
thể tính tới 3 lần đọc, gần như 3 lần đọc của các
nước phương Tây.
Triết lý của 3 lần đọc ở Việt Nam là rất
khác với thế giới. Vì ở họ thường thông qua
một dự luật qua ba lần đọc: Lần đọc thứ nhất
để thẩm định sự cần thiết của dự luật (ở Việt
Nam thông qua chương trình lập pháp hàng
năm). Nếu đa số các vị đại biểu Quốc hội
thấy dự luật là không cần thiết, thì dự luật sẽ
chết yểu sau lần đọc thứ nhất; Lần đọc thứ
hai - để thẩm định chính sách lập pháp được
đề ra trong dự luật, nếu đa số các vị đại biểu
Quốc hội không đồng ý với chính sách lập
pháp được đề ra, thì dự luật sẽ chết yểu sau
lần đọc thứ hai; Lần đọc thứ ba - để thông
qua dự luật sau khi ủy ban có liên quan đã
thẩm tra về mặt kỹ thuật và hoàn chỉnh văn
bản. Nếu đa số đại biểu Quốc hội tán thành
dự luật, thì dự luật mới được thông qua.
Cách hợp lý nhất là nên dành cho Chính
phủ có quyền chủ động nhiều hơn. Chính phủ
sẽ lên kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ và định
hướng xây dựng pháp luật và trình ra Quốc
hội theo tiến độ công việc của mình. Một khái
niệm chúng ta cũng nên trang bị ở đây là: ưu
tiên của hành pháp. Ưu tiên cho hành pháp là
một trong những yêu cầu của cuộc sống. Chính
phủ phải có quyền ưu tiên trong việc xác lập
chương trình nghị sự của Quốc hội. Vấn đề là
ở chỗ Chính phủ phải thấy được yêu cầu của
7 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Lập pháp - những vấn đề về quy trình, Tia sáng Số 15 - 2016.
8 Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.
6
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
So với trước đây, việc thông qua dự luật
theo hai lần đọc của chúng ta đã một tiến bộ
và có ưu điểm so với phương Tây là rút ngắn
thời gian. Tuy vậy, cách làm này không phải
là không có vấn đề. Nếu như cách làm luật
của họ phải trải qua nhiều cửa hãm lại, thì
của Việt Nam lại quá đơn giản, thậm chí trong
nhiều trường hợp không có một chốt hãm
nào. Đây cũng là lý do tại sao chất lượng hệ
thống pháp luật của chúng ta còn chưa đáp
ứng được yêu cầu và cũng là nguyên nhân
dẫn đến các trường hợp đã nêu ở trên.
Điều rất dễ nhận thấy nhất là Chính phủ
không được theo đuổi dự luật đến cùng. Vai
trò của Chính phủ trong hoạt động lập pháp thì
cũng giống như trong nhiều hoạt động mang
tính chất quản trị quốc gia khác. Ở đó, Chính
phủ đề xuất chính sách lập pháp, soạn thảo
thành văn bản trình Quốc hội thẩm định và
thông qua. Tuy nhiên, chúng ta hiện nay chưa
thực sự minh định rõ giữa quy trình chính sách
và quy trình soạn thảo, giữa chức năng trình
chính sách của Chính phủ và thẩm định chính
sách của Quốc hội. Cách làm này không tạo
được cho Chính phủ cơ hội giải trình và bảo vệ
chính sách lập pháp trước Quốc hội.
Theo quy định hiện hành, Chính phủ chỉ
được giải trình một lần duy nhất khi trình
dự luật ra trước Quốc hội. Sau đó, việc hoàn
thiện dự luật được giao lại cho Ủy ban thường
vụ Quốc hội (UBTVQH). Sở dĩ như vậy là vì
hiện nay, vẫn phổ biến quan điểm cho rằng,
lập pháp là quyền của Quốc hội, nên việc sửa
đổi, hoàn thiện văn bản, điều chỉnh chính sách
như thế nào là quyền của Quốc hội. Thực ra
quan niệm này chỉ phản ánh một thứ lôgíc
hình thức về quyền lập pháp. Nó hoàn toàn
không phản ánh đúng động lực thật của quy
trình lập pháp9. Đây là một trong những biểu
hiện sự không phân biệt rõ ràng giữa quyền
hành pháp và quyền lập pháp theo cách hiểu
của hiện đại. Ở đây cần phải nhận thấy, nếu
như giao trách nhiệm hoàn thiện dự luật cho
UBTVQH thì UBTVQH phải đứng ra giải
trình với Quốc hội. Cơ quan trực thuộc lập
pháp giải trình trước lập pháp. Các nước phát
triển quan niệm rất khác, giải trình chính sách
với lập pháp phải thuộc về hành pháp (Chính
phủ), việc thẩm định chính sách mới thuộc
về lập pháp. Sự đổi vai như vậy cũng không
đáng quan ngại, nếu như các chính sách mới
hoặc những sửa đổi, bổ sung không làm thay
đổi bản chất chính sách của dự luật. Nếu điều
ngược lại xảy ra, tức là UBTVQH, trong quá
trình thảo luận lại sửa lại hoặc đưa ra các chính
sách hoàn toàn khác với đề xuất của Chính
phủ, thì việc triển khai thực hiện dự luật trong
cuộc sống sẽ hết sức khó khăn. Một khi các
chính sách mới chưa được nghiên cứu, chưa
phân tích và chưa được đánh giá tác động, rất
khó được thực thi. Trong khi đó, chính sách
mà Chính phủ đề ra để xử lý vấn đề đặt ra thì
lại bị bỏ ngỏ. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân sâu xa làm cho việc ban hành
nghị định để triển khai thi hành luật, pháp
lệnh bị chậm trễ, kéo dài10.
Ngoài ra, một vấn đề nữa đặt ra trong hoạt
động lập pháp của Quốc hội hiện nay đó là sự
phân định không rõ ràng giữa vấn đề chính
sách và vấn đề kỹ thuật. Ở nhiều nước trên thế
giới, các đại biểu thường chỉ quan tâm thảo
luận các vấn đề chính sách mà không đi sâu
vào các vấn đề kỹ thuật. Các phiên họp toàn
thể có mục tiêu tranh luận về chính sách, mà
không phải về kỹ thuật, câu chữ, dấu chấm,
dấu phẩy. Việc sử dụng phiên họp toàn thể để
thảo luận và quyết định cả những vấn đề kỹ
thuật như ở ta là rất rủi ro, và mất rất nhiều
thời gian. Các vấn đề kỹ thuật là công việc
của các chuyên gia, hơn là của các vị đại biểu.
Lý do là vì không thể thảo luận và quyết định
theo đa số các vấn đề kỹ thuật được
9 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.
10 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.
Số 11(435) - T6/2021
7
Bạn đang xem tài liệu "Quốc hội lập pháp hay là hãm lập pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quoc_hoi_lap_phap_hay_la_ham_lap_phap.pdf

