Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng

Lâm Ngọc Thùy  
Trường Đại học Tài chính Marketing  
Ngày nhận: 07/03/2021  
Ngày nhận bản sửa: 25/03/2021  
Ngày duyệt đăng: 22/04/2021  
Tóm tắt: Khách hàng có tầm quan trọng đối với thành công của doanh nghiệp, nhất  
là doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích những  
yếu tố tác động đến ý định mua quần áo thời trang thương hiệu nội địa của giới trẻ  
tại tỉnh Lâm Đồng. Mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm tra các giả  
thuyết bằng việc phân tích dữ liệu của 251 người tiêu dùng. Kết quả chỉ ra rằng các  
tiền tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng đến ý định mua các  
thương hiệu thời trang nội địa của giới trẻ. Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu  
củng cố lý thuyết hành vi hợp lý và hành vi dự định. Trên thực tế, các doanh nghiệp  
cần nâng cao nhận thức dùng hàng Việt cho giới trẻ; các cơ quan và bộ phận chức  
năng cần xem xét thái độ của khách hàng, cụ thể là thế hệ Z, đến các thương hiệu  
thời trang và cần đưa ra các chương trình thúc đẩy sản phẩm nội địa.  
Từ khóa: Hành vi mua, Mô hình SEM, Thế hệ Z, Thời trang nội địa, Ý định sử dụng.  
Intention to buy domestic fashion products: a study of generation Z in Lamdong province  
Abstract: Customers are important to the success of businesses, especially domestic businesses.  
The objective of this study is to analyze the factors influencing the intentions of buying domestic  
branded fashion clothes of young people in Lam Dong province. The structural linear model was used  
to test hypotheses by analyzing data from 251 consumers. The results indicate that the proposed  
research prefixes in the research model influence the intentions of buying domestic fashion brands  
by young people. Theoretically, the report reinforce the theory of rational behavior and the intended  
behavior. In fact, businesses need to raise awareness of using Vietnamese goods for youth; Agencies  
and functional departments need to consider the attitude of generation Z customers specifically to  
fashion brands and need to offer local product promotion programs.  
Keywords: Buying behavior, SEM model, Generation Z, Domestic fashion, Usage intention.  
Lam, Ngoc Thuy  
Email: lamthuy@ufm.edu.vn  
University of Finance and Marketing  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 230- Tháng 7. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
77  
ISSN 1859 - 011X  
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng  
1. Giới thiệu  
Nam, nghiên cứu về ý định và hành vi  
mua các sản phẩm thời trang nói chung và  
thời trang nội địa nói riêng nhận được sự  
quan tâm khá nhiều từ phía doanh nghiệp  
và cơ quan ban ngành, nhưng các vấn đề  
liên quan đến khía cạnh này vẫn chưa được  
các học giả nghiên cứu và thử nghiệm đầy  
đủ (Nguyễn & Huỳnh, 2015; Trần, 2015).  
Do đó mục tiêu nghiên cứu này nhằm xác  
định các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành  
vi chấp nhận và ý định sử dụng sản phẩm  
thời trang trong nước của thế hệ Z trong bối  
cảnh nghiên cứu tại Lâm Đồng.  
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với  
tốc độ cao, các doanh nghiệp trong nước  
phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay  
gắt, ngành hàng quần áo thời trang (QATT)  
cũng không nằm ngoài xu thế đó. Hơn 200  
thương hiệu thời trang nước ngoài (chiếm  
hơn 60% thị phần thời trang tại Việt Nam)  
như Zara, H&M, Uniqlo; các thương hiệu  
bình dân như GAP, Mango, Topshop cũng  
không ngừng mở rộng hệ thống (Công,  
2018). Điều này gây sức ép cho các doanh  
nghiệp thời trang trong nước. Mặt khác,  
các thương hiệu thời trang tại Việt Nam  
đều hướng tới các khách hàng trẻ ở phân  
khúc trung bình khá.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Tổng quan lý thuyết  
Forbes và thời báo Ailen tuyên bố rằng  
Thế hệ Z “bao gồm những người sinh từ  
năm 1995 đến năm 2010” (Deep, 2017),  
lớn lên và phát triển theo xu hướng hoàn  
toàn mới, với những hành động và hành vi  
mới khác hẳn với thế hệ khác (Koulopoulos  
and Keldsen, 2016). Theo Stillman (2017),  
thế hệ Z có các đặc điểm sau: Phigital (kết  
hợp thế giới vật chất và thế giới số); Siêu  
tùy chỉnh; FOMO (hội chứng sợ bỏ lỡ);  
DIY (tự mình làm mọi thứ). Đối tượng này  
sẽ tạo ra làn sóng mới trong hành vi mua  
và thay đổi thói quen mua; đồng thời đây  
là đối tượng khách hàng chủ yếu của các  
thương hiệu thời trang trong tương lai. Các  
đặc điểm về hành vi và nhu cầu của thế hệ  
Z cũng thúc đẩy sự nghiên cứu, tìm hiểu và  
thay đổi của doanh nghiệp.  
Các nghiên cứu trước đây làm rõ ý định sử  
dụng sản phẩm thời trang nói chung (Trần,  
2015; Cham et al., 2018); tiếp cận làm rõ  
hành vi dưới nhiều góc cạnh, áp dụng nhiều  
mô hình lý thuyết cũng như kinh tế lượng  
khác nhau và kết quả kiểm định phù hợp  
trong những tình huống cụ thể (Mayangsari,  
2020; Lam và các cộng sự, 2017; Wu, Zhu,  
and Dai, 2010). Mặc dù ở thị trường Việt  
Lý thuyết về hành vi tiêu dùng  
Hành vi mua sắm của người tiêu dùng thể  
hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng,  
đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong  
đợi sẽ thỏa mãn như nhu cầu cá nhân  
(Bennett, 1988). Hành vi người tiêu dùng  
được hiểu là một loạt các quyết định về  
việc mua hàng hoá mà mỗi cá nhân, nhóm  
người tiêu dùng phải có quyết định qua thời  
gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ,  
ý tưởng hoặc các hoạt động (Munnukka,  
2008). Philip and Gary (2017) nghiên cứu  
hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận  
biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, để  
xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy  
người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch  
vụ. Fishbein and Ajzen (1975) đề xuất mô  
hình Hành vi Hợp lý (TRA) giải thích và  
dự đoán ý định hành vi trong các trường  
hợp chấp nhận một sản phẩm. Lý thuyết  
này chỉ ra rằng “ý định” là dự đoán tốt  
nhất của hành vi cuối cùng và ý định đồng  
thời được xác định bởi thái độ và các quy  
chuẩn chủ quan. Lý thuyết TPB của Ajzen  
(1991)1985, Ajzen, 1987 cho rằng con  
người thực hiện một hành vi nhất định nếu  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021  
78  
LÂM NGỌC THÙY  
họ tin rằng hành vi này sẽ mang lại kết quả  
có giá trị. Lý thuyết TPB gồm một tập các  
mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn chủ quan,  
nhận thức về kiểm soát và dự định hành vi.  
độ và ý định mua của người tiêu dùng đối  
với hàng ngoại. Mức vị chủng tiêu dùng  
cũng tương quan âm với hành vi mua hàng  
ngoại nhưng cường độ thấp hơn vì còn  
nhiều yếu tố khác chi phối. Tuy nhiên theo  
Nijssen và Douglas, (2004) khi nghiên cứu  
về việc thang đo được sử dụng trong nghiên  
cứu xuyên quốc gia, mà cụ thể là thang đo  
CETSCALE áp dụng tại Hà Lan, kết luận  
mức độ ảnh hưởng của tính vị chủng đối  
với hành vi mua của người Hà Lan khác  
biệt so với kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ,  
chủ yếu là do sự khác nhau về ngữ cảnh văn  
hoá, kinh tế của mỗi quốc gia.  
Lý thuyết về tính vị chủng  
Với sự gia tăng của toàn cầu hóa và phát  
triển cạnh tranh trong lĩnh vực sản phẩm và  
dịch vụ quốc tế, người tiêu dùng đang ngày  
càng trở nên quan tâm nhiều hơn về bản sắc  
văn hóa dân tộc của họ. Những tình cảm  
dân tộc được phản ánh trong hành vi tiêu  
dùng thông qua khuynh hướng về các sản  
phẩm tiêu dùng trong nước - định hướng  
chủ nghĩa vị chủng (Vida and Fairhurst,  
1999). Tính vị chủng của người mua là  
niềm tin, quan niệm sẵn có về sự đúng  
đắn, phù hợp về mặt đạo đức trong việc  
mua hàng nước ngoài (Shimp and Sharma,  
1987). Thang đo CETSCALE được Shimp  
và Sharma (1987) phát triển vào năm 1987  
qua nghiên cứu thực tiễn gồm bốn nghiên  
cứu thành phần tại Hoa Kỳ. Kết quả cho  
thấy đây là thang đo đơn hướng, đạt được  
độ tin cậy và giá trị yêu cầu. Sau khi thực  
hiện kiểm định cho thấy mức độ vị chủng  
tiêu dùng tương quan âm với niềm tin, thái  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Trên cơ sở lý thuyết nền tảng và các công  
trình nghiên cứu liên quan, tác giả đề xuất  
các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng  
thương hiệu QATT nội địa của người tiêu  
dùng, gián tiếp thông qua thái độ của họ đối  
với việc lựa chọn các hãng thời trang. Tác  
giả phân tích ảnh hưởng trực tiếp của các  
yếu tố thuộc hành vi của người tiêu dùng  
thế hệ Z đến ý định mua sắm thời trang  
trong nước tại khu vực tỉnh Lâm Đồng. Mô  
Hình 1. Mô hình đề xuất  
Nguồn: Nghiên cứu tổng quan, 2020  
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
79  
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng  
hình nghiên cứu được đề xuất như Hình 1.  
QATT thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại  
tỉnh Lâm Đồng”.  
2.2.1. Chuẩn chủ quan  
Ý định sử dụng một sản phẩm có tương  
quan chặt chẽ với chuẩn chủ quan, nhận  
thức kiểm soát hành vi và thái độ sử dụng  
2.2.3. Chất lượng cảm nhận  
Chất lượng cảm nhận là sự đánh giá về  
những điểm nổi bật, vượt trội của sản phẩm  
hoặc dịch vụ (Zeithaml, 1988). Khách hàng  
đánh giá sản phẩm dựa trên một vài thông  
tin được ký hiệu và sau đó xây dựng niềm  
tin ngược lại đối với sản phẩm (Cham et  
al., 2018). Chất lượng cảm nhận có mức độ  
trừu tượng và khó giải thích hơn là thuộc  
tính xác định của sản phẩm và hoàn toàn  
khác với chất lượng thật sự mà sản phẩm  
mang lại cho khách hàng (Hjorth-Andersen,  
1984). Chất lượng sản phẩm được xem xét  
theo hai góc độ, đó là chất lượng hoạt động  
và chất lượng tương thích. Trong đó, chất  
lượng hoạt động là cấp độ hoạt động mà  
những đặc tính cơ bản của sản phẩm đạt  
được và chất lượng tương thích mức độ  
đồng nhất những đặc điểm kỹ thuật đúng  
như nhà sản xuất đã hứa hẹn (Kolter and  
Keller, 2012).  
(Davis, 1989). Chuẩn chủ quan là nhận  
thức của một cá nhân về chuẩn mực xã hội,  
áp lực bạn bè, niềm tin của những người  
khác có liên quan như bạn bè và người  
thân, những thành phần bên ngoài cho rằng  
người đó nên hay không nên thực hiện một  
số hành vi nhất định (Fishbein and Ajzen,  
1975). Ngoài ra, các yếu tố hình mẫu được  
tạo ra từ môi trường của gia đình và bạn bè,  
các mối quan hệ xung quanh khách hàng  
cũng chính là những yếu tố khiến cho họ  
đưa ra các ý định liên quan đến hành vi  
mua hàng.  
Giả thuyết H1: “Chuẩn chủ quan” có tác  
động cùng chiều đến “Ý định mua QATT  
thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại tỉnh  
Lâm Đồng”.  
2.2.2. Thái độ đối với sản phẩm  
Giả thuyết H3: “Chất lượng cảm nhận”  
có tác động cùng chiều đến “Ý định mua  
QATT thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại  
tỉnh Lâm Đồng”.  
Thái độ đối với sản phẩm là đánh giá tích  
cực hay tiêu cực về hành vi đó (Fishbein  
and Ajzen, 1975). Thuyết hành vi dự định  
của TPB cho rằng dự định hành vi được  
hình thành bởi sự kết hợp giữa thái độ hành  
vi và chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi có  
cảm nhận của con người (Dean, Roth, and  
Bobko, 2008). Theo một nghiên cứu khác,  
thái độ là hướng đi tâm lý của người tiêu  
dùng để đánh giá một đối tượng có được  
mức độ sự ưu ái, yêu thích, niềm tin của họ  
(Dean et al., 2008). Thái độ được phát triển  
thông qua kinh nghiệm có thể thay đổi khi  
có kinh nghiệm mới xảy ra (Ajzen, 2001;  
Chen, 2007; Armstrong et al., 2009). Chính  
vì vậy yếu tố thái độ chính là bước đệm lớn  
để dẫn đến ý định mua hàng của cá nhân.  
Giả thuyết H2: “Thái độ đối với sản phẩm”  
có tác động cùng chiều đến “Ý định mua  
2.2.4. Giá trị cảm xúc  
Giá trị cảm xúc là những cảm xúc được tạo  
ra từ sản phẩm trong quá trình tiêu dùng  
sản phẩm (Sweeney and Soutar, 2001).  
Những khía cạnh cảm xúc được biểu hiện  
rõ rệt thông qua sự kết nối với người tiêu  
dùng khi sử dụng sản phẩm (Rodríguez,  
2016). Giá trị cảm xúc là giá trị mà cá nhân  
có được khi trải nghiệm một thứ mới mẻ  
và khác biệt. Dodds và cộng sự, (1991)  
cho rằng giá trị cảm xúc tác động tích cực  
đến ý định mua hàng của người tiêu dùng.  
Nhận thức của người tiêu dùng đối với một  
thương hiệu nước ngoài so với một thương  
hiệu địa phương cũng được xây dựng dựa  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021  
80  
LÂM NGỌC THÙY  
trên các thành phần mang giá trị cảm xúc  
(Kumar, Lee, and Kim, 2009).  
Giả thuyết H4: “Giá trị cảm xúc” có tác  
động cùng chiều đến “Ý định mua QATT  
thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại tỉnh  
Lâm Đồng”.  
Giả thuyết H6: “Sự quan tâm đến các sản  
phẩm quần áo” có tác động cùng chiều đến  
“Ý định mua QATT thương hiệu nội địa  
của thế hệ Z tại tỉnh Lâm Đồng”.  
2.2.7. Tính vị chủng  
Theo Sumner, tính vị chủng là quan điểm  
về một nhóm riêng là trung tâm của mọi  
thứ; tất cả những thứ khác bị thu nhỏ và  
đánh giá thấp hơn (Sumner, 1907). Tính vị  
chủng ban đầu chỉ mang tính khái niệm, tuy  
nhiên sau đó trở thành một cấu trúc thuộc  
tâm lý xã hội liên quan đến cấp độ tâm lý cá  
nhân cũng như để phân tích tổng quát văn  
hóa xã hội (Pettigrew, T. F., LeVine, R.  
A., & Campbell, 1973). Shimp và Sharma  
đã giải thích mở rộng cho khái niệm này  
bằng mô hình CETSCALE, kết quả cho  
thấy tính vị chủng có tính tương quan đến  
thái độ, niềm tin đối với người tiêu dùng  
(Shimp and Sharma, 1987). Theo mô hình  
TRA (Fishbein & Ajzen, 1975) và TPB  
(Ajzen, 1991)1985, Ajzen, 1987, thái độ có  
ảnh hưởng thuận chiều đến ý định hành vi.  
Chính vì vậy, tác giả xem xét mối tương  
quan giữa tính vị chủng, thái độ và hành vi  
mua thời trang nội địa của thế hệ Z.  
2.2.5. Truyền thông mạng xã hội  
Ngày nay, truyền thông mạng xã hội được  
sử dụng để kết nối những doanh nghiệp  
thời trang với khách hàng của họ (Bonczyk,  
2011). Theo Monica (2010), thế hệ trẻ sống  
và hoạt động trên mạng xã hội. Marketing  
truyền thông mạng xã hội được sử dụng  
để biết hành vi của khách hàng trực tuyến  
thông qua các blog, thảo luận, đánh giá  
và theo dõi trên các nền tảng xã hội như  
Facebook, Instagram… (Ahmad, Salman,  
and Ashiq, 2015). Mạng xã hội nâng cao  
nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm  
của doanh nghiệp, mang đến nhiều cơ hội  
giao tiếp với khách hàng ở cấp độ cá nhân  
(Zarrella, 2009).  
Giả thuyết H5: “Truyền thông mạng xã  
hội” có tác động cùng chiều đến “Ý định  
mua QATT thương hiệu nội địa của thế hệ  
Z tại tỉnh Lâm Đồng”.  
Giả thuyết H7: “Tính vị chủng” có tác  
động cùng chiều đến “Thái độ đối với sản  
phẩm QATT thương hiệu nội địa của thế hệ  
Z tại tỉnh Lâm Đồng”.  
Cụ thể đo lường các biến trong mô hình  
được thể hiện chi tiết trong Bảng 4.  
2.2.6. Sự quan tâm đến các sản phẩm quần áo  
Sự quan tâm đến các sản phẩm quần áo  
là thái độ và niềm tin, là kiến thức và sự  
chú ý dành cho các sản phẩm mà họ sử  
dụng và người khác đang sử dụng (Gurel,  
1974). Sự quan tâm quần áo cá nhân được  
thể hiện qua trải nghiệm mua sắm, cách sử  
dụng và nghiên cứu xu hướng thời trang  
mới (Gurel, 1974; Kaiser, 1996). Hơn nữa,  
sản phẩm quần áo là công cụ cộng đồng  
hóa phục vụ cho các hoạt động xây dựng  
hình ảnh cá nhân trong xã hội (Kumar et  
al., 2009). Nghiên cứu của Son và cộng sự  
(2013) với cỡ mẫu 405 đã chứng minh sự  
quan tâm đến quần áo có ảnh hưởng đến ý  
định mua của thế hệ trẻ từ 15 tuổi ở Ấn Độ.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu định tính được tiến hành trên  
nhóm thảo luận gồm 25 thành viên (thuộc  
thế hệ Z) có hành vi mua QATT thương  
hiệu trong nước tại Lâm Đồng được chia  
thành 3 nhóm: Nhóm 1 là sinh viên; nhóm  
2 gồm các học sinh cấp 3 từ 15 - 18 tuổi;  
nhóm 3 gồm các học sinh cấp 2 từ 12 - 15  
tuổi, có sở thích quan tâm đến thương hiệu,  
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
81  
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng  
có hiểu biết về QATT và đã từng mua sắm  
QATT ít nhất 2 lần trong tuần. Để kiểm  
định mô hình, nghiên cứu sử dụng phương  
pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp lấy mẫu  
theo phương pháp phát triển mầm. Tuy  
nhiên, phương pháp này có hạn chế là mẫu  
thu thập được khó đại diện cho tổng thể; để  
khắc phục tác giả tiến hành thu thập dữ liệu  
ở nhiều địa điểm có mức độ tập trung dân  
cư đông như Thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc,  
Đức Trọng, Di Linh, Đơn Dương tại nhiều  
thời điểm khác nhau trong khoảng thời  
gian từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020. Do  
tình hình dịch bệnh nên các bảng khảo sát  
được thiết kế trên google.doc được gửi đến  
người tiêu dùng thuộc thế hệ Z, thông qua  
các trang xã hội, các group, diễn đàn trao  
đổi của các trường đại học và trung học để  
đối tượng khảo sát được đa dạng hơn. Về  
kích cỡ mẫu của nghiên cứu, với số lượng  
biến độc lập là 7, cùng với giá trị R-square  
dự kiến là 0,1; xác suất sai số là 5%, nghiên  
cứu cần ít nhất là 137 quan sát (Cohen,  
1988). Dữ liệu thu thập được là 320 mẫu,  
sau khi đã loại bỏ 69 mẫu không hợp lệ  
và làm sạch bằng Excel, số mẫu đưa vào  
nghiên cứu là 251 mẫu. Tác giả sử dụng  
phần mềm Smart PLS 3.0 để phân tích số  
liệu gồm hai bước: trước tiên đánh giá mô  
hình đo lường thông qua kiểm định hệ số  
tin cậy tổng hợp để loại các biến có hệ số  
tin cậy thấp, đảm bảo các câu hỏi phản ánh  
cùng một nội dung. Từ đó làm cơ sở đánh  
giá mô hình cấu trúc SEM kiểm tra mối  
tương quan giữa các khái niệm, sự tác động  
của các biến độc lập lên biến phụ thuộc  
thông qua biến trung gian.  
này cũng phù hợp với đặc điểm nhân khẩu  
học đối với hành vi và tâm lý yêu thích mua  
sắm QATT đối với nhóm mẫu được phỏng  
vấn. Đa phần thuộc độ tuổi từ 19 - 22 tuổi  
(chiếm 65,9%), có trình độ đại học (chiếm  
tỷ lệ trình độ học vấn cao nhất 80,3%) và  
trong số đó đã đi làm (nghề nghiệp nhân  
viên văn phòng chiếm 26,6%). Mức độ  
mua sắm ít nhất 1 lần/tuần chiếm tỷ lệ cao  
nhất 58,9%; từ 2 - 3 lần/tuần là 30,6%; mức  
độ mua sắm ít nhất 4 lần/tuần chiếm tỷ lệ  
không đáng kể. Thu nhập chủ yếu tập trung  
vào 3 nhóm: từ 1 - <4 triệu/tháng chiếm tỷ  
lệ cao nhất 27,4%; từ 4 - <7 triệu/tháng là  
25,4%; từ 7 - <10 triệu/tháng là 21,7%; các  
mức thu nhập khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.  
Tổng thể hầu hết đối tượng khảo sát đều có  
kinh nghiệm mua sắm.  
4.2. Xử lý thang đo và mô hình  
4.2.1. Đánh giá sự phù hợp mô hình  
- Đánh giá phân phối chuẩn  
Để đánh giá mức độ phân phối chuẩn  
của mô hình, sử dụng thang đo Skewess  
là thước đo mức độ không đối xứng của  
một phân phối và Excess Kurtosis lấy  
Kurtosis của phân phối trừ đi 3 (Excess  
Kurtosis=Kurtosis–3). Phân phối chuẩn có  
Skewess=0 và Kurtosis=3 (Chu and Hoàng,  
2008). Từ đó tác giả xem xét yếu tố độ lệch  
chuẩn thông qua Skewess=0 và Excess  
Kurtosis=0 thì các biến được chấp nhận có  
phân phối đối xứng qua vị trí trung bình.  
Theo Bảng 2 thì các số liệu về phân phối  
chuẩn của các biến CE, PQ, EV, SMM, CI,  
SN, AT, PI đều tiến đến 0, do đó tác giả kết  
luận dữ liệu có phân phối chuẩn.  
4. Kết quả nghiên cứu  
- Đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên  
cứu  
4.1. Mô tả chung về đối tượng khảo sát  
Theo Hu & Bentler (1999) thì chỉ số SRMR  
đạt giá trị nhỏ hơn 0,08 có nghĩa là mô hình  
nghiên cứu phù hợp với địa bàn nghiên cứu.  
Ngoài ra, chỉ số SRMR là chỉ số Goodness  
Theo kết quả khảo sát (Bảng 1), phần lớn  
đối tượng khảo sát là nữ (chiếm 67%) điều  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021  
82  
LÂM NGỌC THÙY  
Bảng 1. Thông tin về đối tượng khảo sát  
Đặc điểm  
Diễn giải  
Tần suất (người)  
Tỷ lệ (%)  
Nam  
83  
33%  
Giới tính  
Nữ  
168  
251  
2
67%  
Tổng  
100%  
0,6%  
Dưới 15 tuổi  
Từ 16 – 18 tuổi  
Từ 19 – 22 tuổi  
Từ 23 - 26 tuổi  
Tổng  
11  
4,6%  
Độ tuổi  
165  
73  
65,9%  
28,9%  
100%  
60,7 %  
26,6%  
4,6%  
251  
152  
67  
Học sinh, sinh viên  
Nhân viên văn phòng  
Lao động chuyên môn  
Lao động phổ thông  
Công việc tự do  
Tổng  
12  
Nghề nghiệp  
6
2,4%  
14  
5,7%  
251  
14  
100%  
5,8%  
Trung học phổ thông  
Trung cấp, cao đẳng  
17  
6,7%  
Trình độ học vấn Đại học  
Sau đại học  
202  
18  
80,3%  
7,2%  
Tổng  
251  
27  
100%  
10,7%  
27,4%  
25,4%  
21,7%  
14,8%  
100%  
89,5%  
6,8%  
< 1 triệu  
1 – < 4 triệu  
4 – < 7 triệu  
7 – < 10 triệu  
>= 10 triệu  
Tổng  
69  
64  
Thu nhập/ tháng  
54  
37  
251  
225  
17  
1 - 3 lần  
4 – 6 lần  
> 6 lần  
Mức độ mua  
sắm/ tuần  
9
3,7%  
Tổng  
251  
100%  
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2020  
of fit của mô hình PLS-SEM có thể được sử  
dụng để tránh hiện tượng sai lệch thông số  
(Henseler, Ringle, and R. Sinkovics, 2009;  
Hair, J.F., Hult, G.T.M., Ringle, C.M.,  
and Sarstedt, 2014). Theo Bảng 3, chỉ số  
SRMR= 0,074< 0,08, từ đó kết luận mô  
hình phù hợp với địa bàn nghiên cứu.  
4.2.2. Kiểm định mô hình đo lường  
Việc kiểm tra độ tin cậy của hệ số tải nhân  
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
83  
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng  
Bảng 2. Phân phối chuẩn  
VIF  
Excess  
Kurtosis  
Mã biến  
N
Skewness  
AT_Thái độ  
PI_Ý định mua  
CE_Tính vị chủng  
251  
-0,024  
-0,095  
-0,668  
0,162  
-0,031  
-0,018  
0,094  
0,626  
-0,091  
-0,236  
-0,028  
-0,422  
-0,410  
-0,104  
-0,307  
-0,604  
1
PQ_Chất lượng cảm nhận 251  
EV_Giá trị cảm xúc 251  
SMM_Truyền thông xã hội 251  
2,554  
2,957  
1,862  
1,777  
2,089  
3,373  
CI_Sự quan tâm  
SN_Chuẩn chủ quan  
AT_Thái độ  
251  
251  
251  
251  
PI_Ý định mua  
Nguồn: Kết quả xử lý từ Smart PLS 3.0 và MS Excel, 2020  
tố, độ tin cậy nhất quán nội bộ, giá trị hội  
tụ và giá trị phân biệt sẽ được tiến hành  
(Bảng 4). Các thang đo với hệ số tải nhân  
tố (Outer loading) thấp hơn 0,4 nên được  
loại bỏ khỏi mô hình và cần độ tin cậy  
nhất quán nội bộ thông qua hai hệ số: hệ  
số Cronbach’s Alpha (CA) > 0,6 và hệ số  
Composite Reliability (CR) > 0,7, điều này  
nói lên tính nhất quán nội bộ của các thang  
đo trong mô hình đề xuất (Henseler et al.,  
2009). Giá trị hội tụ AVE > 0,5 nên có thể  
kết luận rằng tất cả các thang đo đều có giá  
trị hội tụ, các biến độc lập đều được giải  
thích tốt bởi các quan sát của nó (Fornell,  
C., and Larcker, 1981).  
(CI) và ý định mua (PI) nằm trong khoảng  
(0,328-0,827) đều nhỏ hơn các giá trị nằm  
trên đường chéo tương ứng với nó (0,738-  
0,875) (Bảng 5). Các khái niệm nghiên cứu  
đều đạt giá trị phân biệt (Fornell, C., and  
Larcker, 1981).  
xem tiếp kỳ sau  
Tác giả đã sử dụng chỉ số Fornell-Larcker  
để đánh giá giá trị phân biệt. Hệ số tương  
quan giữa các biến chuẩn chủ quan (SN),  
tính vị chủng (CE), thái độ đối với sản  
phẩm (AT), chất lượng cảm nhận (PQ),  
giá trị cảm xúc (EV), truyền thông mạng  
xã hội (SMM), sự quan tâm đến quần áo  
Bảng 3. Chỉ số SRMR (Standardized Root  
Mean Square Residual)  
Saturated Model Estimated Model  
SRMR 0,074  
0,135  
Nguồn: Kết quả xử lý từ Smart PLS 3.0, 2020  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021  
84  
pdf 8 trang Thùy Anh 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfy_dinh_mua_san_pham_thoi_trang_noi_dia_ket_qua_nghien_cuu_cu.pdf