Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng
Lâm Ngọc Thùy
Trường Đại học Tài chính Marketing
Ngày nhận: 07/03/2021
Ngày nhận bản sửa: 25/03/2021
Ngày duyệt đăng: 22/04/2021
Tóm tắt: Khách hàng có tầm quan trọng đối với thành công của doanh nghiệp, nhất
là doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích những
yếu tố tác động đến ý định mua quần áo thời trang thương hiệu nội địa của giới trẻ
tại tỉnh Lâm Đồng. Mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm tra các giả
thuyết bằng việc phân tích dữ liệu của 251 người tiêu dùng. Kết quả chỉ ra rằng các
tiền tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng đến ý định mua các
thương hiệu thời trang nội địa của giới trẻ. Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu
củng cố lý thuyết hành vi hợp lý và hành vi dự định. Trên thực tế, các doanh nghiệp
cần nâng cao nhận thức dùng hàng Việt cho giới trẻ; các cơ quan và bộ phận chức
năng cần xem xét thái độ của khách hàng, cụ thể là thế hệ Z, đến các thương hiệu
thời trang và cần đưa ra các chương trình thúc đẩy sản phẩm nội địa.
Từ khóa: Hành vi mua, Mô hình SEM, Thế hệ Z, Thời trang nội địa, Ý định sử dụng.
Intention to buy domestic fashion products: a study of generation Z in Lamdong province
Abstract: Customers are important to the success of businesses, especially domestic businesses.
The objective of this study is to analyze the factors influencing the intentions of buying domestic
branded fashion clothes of young people in Lam Dong province. The structural linear model was used
to test hypotheses by analyzing data from 251 consumers. The results indicate that the proposed
research prefixes in the research model influence the intentions of buying domestic fashion brands
by young people. Theoretically, the report reinforce the theory of rational behavior and the intended
behavior. In fact, businesses need to raise awareness of using Vietnamese goods for youth; Agencies
and functional departments need to consider the attitude of generation Z customers specifically to
fashion brands and need to offer local product promotion programs.
Keywords: Buying behavior, SEM model, Generation Z, Domestic fashion, Usage intention.
Lam, Ngoc Thuy
Email: lamthuy@ufm.edu.vn
University of Finance and Marketing
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
Số 230- Tháng 7. 2021
© Học viện Ngân hàng
77
ISSN 1859 - 011X
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng
1. Giới thiệu
Nam, nghiên cứu về ý định và hành vi
mua các sản phẩm thời trang nói chung và
thời trang nội địa nói riêng nhận được sự
quan tâm khá nhiều từ phía doanh nghiệp
và cơ quan ban ngành, nhưng các vấn đề
liên quan đến khía cạnh này vẫn chưa được
các học giả nghiên cứu và thử nghiệm đầy
đủ (Nguyễn & Huỳnh, 2015; Trần, 2015).
Do đó mục tiêu nghiên cứu này nhằm xác
định các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành
vi chấp nhận và ý định sử dụng sản phẩm
thời trang trong nước của thế hệ Z trong bối
cảnh nghiên cứu tại Lâm Đồng.
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với
tốc độ cao, các doanh nghiệp trong nước
phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay
gắt, ngành hàng quần áo thời trang (QATT)
cũng không nằm ngoài xu thế đó. Hơn 200
thương hiệu thời trang nước ngoài (chiếm
hơn 60% thị phần thời trang tại Việt Nam)
như Zara, H&M, Uniqlo; các thương hiệu
bình dân như GAP, Mango, Topshop cũng
không ngừng mở rộng hệ thống (Công,
2018). Điều này gây sức ép cho các doanh
nghiệp thời trang trong nước. Mặt khác,
các thương hiệu thời trang tại Việt Nam
đều hướng tới các khách hàng trẻ ở phân
khúc trung bình khá.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Tổng quan lý thuyết
Forbes và thời báo Ailen tuyên bố rằng
Thế hệ Z “bao gồm những người sinh từ
năm 1995 đến năm 2010” (Deep, 2017),
lớn lên và phát triển theo xu hướng hoàn
toàn mới, với những hành động và hành vi
mới khác hẳn với thế hệ khác (Koulopoulos
and Keldsen, 2016). Theo Stillman (2017),
thế hệ Z có các đặc điểm sau: Phigital (kết
hợp thế giới vật chất và thế giới số); Siêu
tùy chỉnh; FOMO (hội chứng sợ bỏ lỡ);
DIY (tự mình làm mọi thứ). Đối tượng này
sẽ tạo ra làn sóng mới trong hành vi mua
và thay đổi thói quen mua; đồng thời đây
là đối tượng khách hàng chủ yếu của các
thương hiệu thời trang trong tương lai. Các
đặc điểm về hành vi và nhu cầu của thế hệ
Z cũng thúc đẩy sự nghiên cứu, tìm hiểu và
thay đổi của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trước đây làm rõ ý định sử
dụng sản phẩm thời trang nói chung (Trần,
2015; Cham et al., 2018); tiếp cận làm rõ
hành vi dưới nhiều góc cạnh, áp dụng nhiều
mô hình lý thuyết cũng như kinh tế lượng
khác nhau và kết quả kiểm định phù hợp
trong những tình huống cụ thể (Mayangsari,
2020; Lam và các cộng sự, 2017; Wu, Zhu,
and Dai, 2010). Mặc dù ở thị trường Việt
Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
Hành vi mua sắm của người tiêu dùng thể
hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng,
đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong
đợi sẽ thỏa mãn như nhu cầu cá nhân
(Bennett, 1988). Hành vi người tiêu dùng
được hiểu là một loạt các quyết định về
việc mua hàng hoá mà mỗi cá nhân, nhóm
người tiêu dùng phải có quyết định qua thời
gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ,
ý tưởng hoặc các hoạt động (Munnukka,
2008). Philip and Gary (2017) nghiên cứu
hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận
biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, để
xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy
người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch
vụ. Fishbein and Ajzen (1975) đề xuất mô
hình Hành vi Hợp lý (TRA) giải thích và
dự đoán ý định hành vi trong các trường
hợp chấp nhận một sản phẩm. Lý thuyết
này chỉ ra rằng “ý định” là dự đoán tốt
nhất của hành vi cuối cùng và ý định đồng
thời được xác định bởi thái độ và các quy
chuẩn chủ quan. Lý thuyết TPB của Ajzen
(1991)1985, Ajzen, 1987 cho rằng con
người thực hiện một hành vi nhất định nếu
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021
78
LÂM NGỌC THÙY
họ tin rằng hành vi này sẽ mang lại kết quả
có giá trị. Lý thuyết TPB gồm một tập các
mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn chủ quan,
nhận thức về kiểm soát và dự định hành vi.
độ và ý định mua của người tiêu dùng đối
với hàng ngoại. Mức vị chủng tiêu dùng
cũng tương quan âm với hành vi mua hàng
ngoại nhưng cường độ thấp hơn vì còn
nhiều yếu tố khác chi phối. Tuy nhiên theo
Nijssen và Douglas, (2004) khi nghiên cứu
về việc thang đo được sử dụng trong nghiên
cứu xuyên quốc gia, mà cụ thể là thang đo
CETSCALE áp dụng tại Hà Lan, kết luận
mức độ ảnh hưởng của tính vị chủng đối
với hành vi mua của người Hà Lan khác
biệt so với kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ,
chủ yếu là do sự khác nhau về ngữ cảnh văn
hoá, kinh tế của mỗi quốc gia.
Lý thuyết về tính vị chủng
Với sự gia tăng của toàn cầu hóa và phát
triển cạnh tranh trong lĩnh vực sản phẩm và
dịch vụ quốc tế, người tiêu dùng đang ngày
càng trở nên quan tâm nhiều hơn về bản sắc
văn hóa dân tộc của họ. Những tình cảm
dân tộc được phản ánh trong hành vi tiêu
dùng thông qua khuynh hướng về các sản
phẩm tiêu dùng trong nước - định hướng
chủ nghĩa vị chủng (Vida and Fairhurst,
1999). Tính vị chủng của người mua là
niềm tin, quan niệm sẵn có về sự đúng
đắn, phù hợp về mặt đạo đức trong việc
mua hàng nước ngoài (Shimp and Sharma,
1987). Thang đo CETSCALE được Shimp
và Sharma (1987) phát triển vào năm 1987
qua nghiên cứu thực tiễn gồm bốn nghiên
cứu thành phần tại Hoa Kỳ. Kết quả cho
thấy đây là thang đo đơn hướng, đạt được
độ tin cậy và giá trị yêu cầu. Sau khi thực
hiện kiểm định cho thấy mức độ vị chủng
tiêu dùng tương quan âm với niềm tin, thái
2.2. Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết nền tảng và các công
trình nghiên cứu liên quan, tác giả đề xuất
các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng
thương hiệu QATT nội địa của người tiêu
dùng, gián tiếp thông qua thái độ của họ đối
với việc lựa chọn các hãng thời trang. Tác
giả phân tích ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tố thuộc hành vi của người tiêu dùng
thế hệ Z đến ý định mua sắm thời trang
trong nước tại khu vực tỉnh Lâm Đồng. Mô
Hình 1. Mô hình đề xuất
Nguồn: Nghiên cứu tổng quan, 2020
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
79
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng
hình nghiên cứu được đề xuất như Hình 1.
QATT thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại
tỉnh Lâm Đồng”.
2.2.1. Chuẩn chủ quan
Ý định sử dụng một sản phẩm có tương
quan chặt chẽ với chuẩn chủ quan, nhận
thức kiểm soát hành vi và thái độ sử dụng
2.2.3. Chất lượng cảm nhận
Chất lượng cảm nhận là sự đánh giá về
những điểm nổi bật, vượt trội của sản phẩm
hoặc dịch vụ (Zeithaml, 1988). Khách hàng
đánh giá sản phẩm dựa trên một vài thông
tin được ký hiệu và sau đó xây dựng niềm
tin ngược lại đối với sản phẩm (Cham et
al., 2018). Chất lượng cảm nhận có mức độ
trừu tượng và khó giải thích hơn là thuộc
tính xác định của sản phẩm và hoàn toàn
khác với chất lượng thật sự mà sản phẩm
mang lại cho khách hàng (Hjorth-Andersen,
1984). Chất lượng sản phẩm được xem xét
theo hai góc độ, đó là chất lượng hoạt động
và chất lượng tương thích. Trong đó, chất
lượng hoạt động là cấp độ hoạt động mà
những đặc tính cơ bản của sản phẩm đạt
được và chất lượng tương thích mức độ
đồng nhất những đặc điểm kỹ thuật đúng
như nhà sản xuất đã hứa hẹn (Kolter and
Keller, 2012).
(Davis, 1989). Chuẩn chủ quan là nhận
thức của một cá nhân về chuẩn mực xã hội,
áp lực bạn bè, niềm tin của những người
khác có liên quan như bạn bè và người
thân, những thành phần bên ngoài cho rằng
người đó nên hay không nên thực hiện một
số hành vi nhất định (Fishbein and Ajzen,
1975). Ngoài ra, các yếu tố hình mẫu được
tạo ra từ môi trường của gia đình và bạn bè,
các mối quan hệ xung quanh khách hàng
cũng chính là những yếu tố khiến cho họ
đưa ra các ý định liên quan đến hành vi
mua hàng.
Giả thuyết H1: “Chuẩn chủ quan” có tác
động cùng chiều đến “Ý định mua QATT
thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại tỉnh
Lâm Đồng”.
2.2.2. Thái độ đối với sản phẩm
Giả thuyết H3: “Chất lượng cảm nhận”
có tác động cùng chiều đến “Ý định mua
QATT thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại
tỉnh Lâm Đồng”.
Thái độ đối với sản phẩm là đánh giá tích
cực hay tiêu cực về hành vi đó (Fishbein
and Ajzen, 1975). Thuyết hành vi dự định
của TPB cho rằng dự định hành vi được
hình thành bởi sự kết hợp giữa thái độ hành
vi và chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi có
cảm nhận của con người (Dean, Roth, and
Bobko, 2008). Theo một nghiên cứu khác,
thái độ là hướng đi tâm lý của người tiêu
dùng để đánh giá một đối tượng có được
mức độ sự ưu ái, yêu thích, niềm tin của họ
(Dean et al., 2008). Thái độ được phát triển
thông qua kinh nghiệm có thể thay đổi khi
có kinh nghiệm mới xảy ra (Ajzen, 2001;
Chen, 2007; Armstrong et al., 2009). Chính
vì vậy yếu tố thái độ chính là bước đệm lớn
để dẫn đến ý định mua hàng của cá nhân.
Giả thuyết H2: “Thái độ đối với sản phẩm”
có tác động cùng chiều đến “Ý định mua
2.2.4. Giá trị cảm xúc
Giá trị cảm xúc là những cảm xúc được tạo
ra từ sản phẩm trong quá trình tiêu dùng
sản phẩm (Sweeney and Soutar, 2001).
Những khía cạnh cảm xúc được biểu hiện
rõ rệt thông qua sự kết nối với người tiêu
dùng khi sử dụng sản phẩm (Rodríguez,
2016). Giá trị cảm xúc là giá trị mà cá nhân
có được khi trải nghiệm một thứ mới mẻ
và khác biệt. Dodds và cộng sự, (1991)
cho rằng giá trị cảm xúc tác động tích cực
đến ý định mua hàng của người tiêu dùng.
Nhận thức của người tiêu dùng đối với một
thương hiệu nước ngoài so với một thương
hiệu địa phương cũng được xây dựng dựa
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021
80
LÂM NGỌC THÙY
trên các thành phần mang giá trị cảm xúc
(Kumar, Lee, and Kim, 2009).
Giả thuyết H4: “Giá trị cảm xúc” có tác
động cùng chiều đến “Ý định mua QATT
thương hiệu nội địa của thế hệ Z tại tỉnh
Lâm Đồng”.
Giả thuyết H6: “Sự quan tâm đến các sản
phẩm quần áo” có tác động cùng chiều đến
“Ý định mua QATT thương hiệu nội địa
của thế hệ Z tại tỉnh Lâm Đồng”.
2.2.7. Tính vị chủng
Theo Sumner, tính vị chủng là quan điểm
về một nhóm riêng là trung tâm của mọi
thứ; tất cả những thứ khác bị thu nhỏ và
đánh giá thấp hơn (Sumner, 1907). Tính vị
chủng ban đầu chỉ mang tính khái niệm, tuy
nhiên sau đó trở thành một cấu trúc thuộc
tâm lý xã hội liên quan đến cấp độ tâm lý cá
nhân cũng như để phân tích tổng quát văn
hóa xã hội (Pettigrew, T. F., LeVine, R.
A., & Campbell, 1973). Shimp và Sharma
đã giải thích mở rộng cho khái niệm này
bằng mô hình CETSCALE, kết quả cho
thấy tính vị chủng có tính tương quan đến
thái độ, niềm tin đối với người tiêu dùng
(Shimp and Sharma, 1987). Theo mô hình
TRA (Fishbein & Ajzen, 1975) và TPB
(Ajzen, 1991)1985, Ajzen, 1987, thái độ có
ảnh hưởng thuận chiều đến ý định hành vi.
Chính vì vậy, tác giả xem xét mối tương
quan giữa tính vị chủng, thái độ và hành vi
mua thời trang nội địa của thế hệ Z.
2.2.5. Truyền thông mạng xã hội
Ngày nay, truyền thông mạng xã hội được
sử dụng để kết nối những doanh nghiệp
thời trang với khách hàng của họ (Bonczyk,
2011). Theo Monica (2010), thế hệ trẻ sống
và hoạt động trên mạng xã hội. Marketing
truyền thông mạng xã hội được sử dụng
để biết hành vi của khách hàng trực tuyến
thông qua các blog, thảo luận, đánh giá
và theo dõi trên các nền tảng xã hội như
Facebook, Instagram… (Ahmad, Salman,
and Ashiq, 2015). Mạng xã hội nâng cao
nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm
của doanh nghiệp, mang đến nhiều cơ hội
giao tiếp với khách hàng ở cấp độ cá nhân
(Zarrella, 2009).
Giả thuyết H5: “Truyền thông mạng xã
hội” có tác động cùng chiều đến “Ý định
mua QATT thương hiệu nội địa của thế hệ
Z tại tỉnh Lâm Đồng”.
Giả thuyết H7: “Tính vị chủng” có tác
động cùng chiều đến “Thái độ đối với sản
phẩm QATT thương hiệu nội địa của thế hệ
Z tại tỉnh Lâm Đồng”.
Cụ thể đo lường các biến trong mô hình
được thể hiện chi tiết trong Bảng 4.
2.2.6. Sự quan tâm đến các sản phẩm quần áo
Sự quan tâm đến các sản phẩm quần áo
là thái độ và niềm tin, là kiến thức và sự
chú ý dành cho các sản phẩm mà họ sử
dụng và người khác đang sử dụng (Gurel,
1974). Sự quan tâm quần áo cá nhân được
thể hiện qua trải nghiệm mua sắm, cách sử
dụng và nghiên cứu xu hướng thời trang
mới (Gurel, 1974; Kaiser, 1996). Hơn nữa,
sản phẩm quần áo là công cụ cộng đồng
hóa phục vụ cho các hoạt động xây dựng
hình ảnh cá nhân trong xã hội (Kumar et
al., 2009). Nghiên cứu của Son và cộng sự
(2013) với cỡ mẫu 405 đã chứng minh sự
quan tâm đến quần áo có ảnh hưởng đến ý
định mua của thế hệ trẻ từ 15 tuổi ở Ấn Độ.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính được tiến hành trên
nhóm thảo luận gồm 25 thành viên (thuộc
thế hệ Z) có hành vi mua QATT thương
hiệu trong nước tại Lâm Đồng được chia
thành 3 nhóm: Nhóm 1 là sinh viên; nhóm
2 gồm các học sinh cấp 3 từ 15 - 18 tuổi;
nhóm 3 gồm các học sinh cấp 2 từ 12 - 15
tuổi, có sở thích quan tâm đến thương hiệu,
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
81
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng
có hiểu biết về QATT và đã từng mua sắm
QATT ít nhất 2 lần trong tuần. Để kiểm
định mô hình, nghiên cứu sử dụng phương
pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp lấy mẫu
theo phương pháp phát triển mầm. Tuy
nhiên, phương pháp này có hạn chế là mẫu
thu thập được khó đại diện cho tổng thể; để
khắc phục tác giả tiến hành thu thập dữ liệu
ở nhiều địa điểm có mức độ tập trung dân
cư đông như Thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc,
Đức Trọng, Di Linh, Đơn Dương tại nhiều
thời điểm khác nhau trong khoảng thời
gian từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020. Do
tình hình dịch bệnh nên các bảng khảo sát
được thiết kế trên google.doc được gửi đến
người tiêu dùng thuộc thế hệ Z, thông qua
các trang xã hội, các group, diễn đàn trao
đổi của các trường đại học và trung học để
đối tượng khảo sát được đa dạng hơn. Về
kích cỡ mẫu của nghiên cứu, với số lượng
biến độc lập là 7, cùng với giá trị R-square
dự kiến là 0,1; xác suất sai số là 5%, nghiên
cứu cần ít nhất là 137 quan sát (Cohen,
1988). Dữ liệu thu thập được là 320 mẫu,
sau khi đã loại bỏ 69 mẫu không hợp lệ
và làm sạch bằng Excel, số mẫu đưa vào
nghiên cứu là 251 mẫu. Tác giả sử dụng
phần mềm Smart PLS 3.0 để phân tích số
liệu gồm hai bước: trước tiên đánh giá mô
hình đo lường thông qua kiểm định hệ số
tin cậy tổng hợp để loại các biến có hệ số
tin cậy thấp, đảm bảo các câu hỏi phản ánh
cùng một nội dung. Từ đó làm cơ sở đánh
giá mô hình cấu trúc SEM kiểm tra mối
tương quan giữa các khái niệm, sự tác động
của các biến độc lập lên biến phụ thuộc
thông qua biến trung gian.
này cũng phù hợp với đặc điểm nhân khẩu
học đối với hành vi và tâm lý yêu thích mua
sắm QATT đối với nhóm mẫu được phỏng
vấn. Đa phần thuộc độ tuổi từ 19 - 22 tuổi
(chiếm 65,9%), có trình độ đại học (chiếm
tỷ lệ trình độ học vấn cao nhất 80,3%) và
trong số đó đã đi làm (nghề nghiệp nhân
viên văn phòng chiếm 26,6%). Mức độ
mua sắm ít nhất 1 lần/tuần chiếm tỷ lệ cao
nhất 58,9%; từ 2 - 3 lần/tuần là 30,6%; mức
độ mua sắm ít nhất 4 lần/tuần chiếm tỷ lệ
không đáng kể. Thu nhập chủ yếu tập trung
vào 3 nhóm: từ 1 - <4 triệu/tháng chiếm tỷ
lệ cao nhất 27,4%; từ 4 - <7 triệu/tháng là
25,4%; từ 7 - <10 triệu/tháng là 21,7%; các
mức thu nhập khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.
Tổng thể hầu hết đối tượng khảo sát đều có
kinh nghiệm mua sắm.
4.2. Xử lý thang đo và mô hình
4.2.1. Đánh giá sự phù hợp mô hình
- Đánh giá phân phối chuẩn
Để đánh giá mức độ phân phối chuẩn
của mô hình, sử dụng thang đo Skewess
là thước đo mức độ không đối xứng của
một phân phối và Excess Kurtosis lấy
Kurtosis của phân phối trừ đi 3 (Excess
Kurtosis=Kurtosis–3). Phân phối chuẩn có
Skewess=0 và Kurtosis=3 (Chu and Hoàng,
2008). Từ đó tác giả xem xét yếu tố độ lệch
chuẩn thông qua Skewess=0 và Excess
Kurtosis=0 thì các biến được chấp nhận có
phân phối đối xứng qua vị trí trung bình.
Theo Bảng 2 thì các số liệu về phân phối
chuẩn của các biến CE, PQ, EV, SMM, CI,
SN, AT, PI đều tiến đến 0, do đó tác giả kết
luận dữ liệu có phân phối chuẩn.
4. Kết quả nghiên cứu
- Đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên
cứu
4.1. Mô tả chung về đối tượng khảo sát
Theo Hu & Bentler (1999) thì chỉ số SRMR
đạt giá trị nhỏ hơn 0,08 có nghĩa là mô hình
nghiên cứu phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
Ngoài ra, chỉ số SRMR là chỉ số Goodness
Theo kết quả khảo sát (Bảng 1), phần lớn
đối tượng khảo sát là nữ (chiếm 67%) điều
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021
82
LÂM NGỌC THÙY
Bảng 1. Thông tin về đối tượng khảo sát
Đặc điểm
Diễn giải
Tần suất (người)
Tỷ lệ (%)
Nam
83
33%
Giới tính
Nữ
168
251
2
67%
Tổng
100%
0,6%
Dưới 15 tuổi
Từ 16 – 18 tuổi
Từ 19 – 22 tuổi
Từ 23 - 26 tuổi
Tổng
11
4,6%
Độ tuổi
165
73
65,9%
28,9%
100%
60,7 %
26,6%
4,6%
251
152
67
Học sinh, sinh viên
Nhân viên văn phòng
Lao động chuyên môn
Lao động phổ thông
Công việc tự do
Tổng
12
Nghề nghiệp
6
2,4%
14
5,7%
251
14
100%
5,8%
Trung học phổ thông
Trung cấp, cao đẳng
17
6,7%
Trình độ học vấn Đại học
Sau đại học
202
18
80,3%
7,2%
Tổng
251
27
100%
10,7%
27,4%
25,4%
21,7%
14,8%
100%
89,5%
6,8%
< 1 triệu
1 – < 4 triệu
4 – < 7 triệu
7 – < 10 triệu
>= 10 triệu
Tổng
69
64
Thu nhập/ tháng
54
37
251
225
17
1 - 3 lần
4 – 6 lần
> 6 lần
Mức độ mua
sắm/ tuần
9
3,7%
Tổng
251
100%
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2020
of fit của mô hình PLS-SEM có thể được sử
dụng để tránh hiện tượng sai lệch thông số
(Henseler, Ringle, and R. Sinkovics, 2009;
Hair, J.F., Hult, G.T.M., Ringle, C.M.,
and Sarstedt, 2014). Theo Bảng 3, chỉ số
SRMR= 0,074< 0,08, từ đó kết luận mô
hình phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
4.2.2. Kiểm định mô hình đo lường
Việc kiểm tra độ tin cậy của hệ số tải nhân
Số 230- Tháng 7. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
83
Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng
Bảng 2. Phân phối chuẩn
VIF
Excess
Kurtosis
Mã biến
N
Skewness
AT_Thái độ
PI_Ý định mua
CE_Tính vị chủng
251
-0,024
-0,095
-0,668
0,162
-0,031
-0,018
0,094
0,626
-0,091
-0,236
-0,028
-0,422
-0,410
-0,104
-0,307
-0,604
1
PQ_Chất lượng cảm nhận 251
EV_Giá trị cảm xúc 251
SMM_Truyền thông xã hội 251
2,554
2,957
1,862
1,777
2,089
3,373
CI_Sự quan tâm
SN_Chuẩn chủ quan
AT_Thái độ
251
251
251
251
PI_Ý định mua
Nguồn: Kết quả xử lý từ Smart PLS 3.0 và MS Excel, 2020
tố, độ tin cậy nhất quán nội bộ, giá trị hội
tụ và giá trị phân biệt sẽ được tiến hành
(Bảng 4). Các thang đo với hệ số tải nhân
tố (Outer loading) thấp hơn 0,4 nên được
loại bỏ khỏi mô hình và cần độ tin cậy
nhất quán nội bộ thông qua hai hệ số: hệ
số Cronbach’s Alpha (CA) > 0,6 và hệ số
Composite Reliability (CR) > 0,7, điều này
nói lên tính nhất quán nội bộ của các thang
đo trong mô hình đề xuất (Henseler et al.,
2009). Giá trị hội tụ AVE > 0,5 nên có thể
kết luận rằng tất cả các thang đo đều có giá
trị hội tụ, các biến độc lập đều được giải
thích tốt bởi các quan sát của nó (Fornell,
C., and Larcker, 1981).
(CI) và ý định mua (PI) nằm trong khoảng
(0,328-0,827) đều nhỏ hơn các giá trị nằm
trên đường chéo tương ứng với nó (0,738-
0,875) (Bảng 5). Các khái niệm nghiên cứu
đều đạt giá trị phân biệt (Fornell, C., and
Larcker, 1981).
xem tiếp kỳ sau
Tác giả đã sử dụng chỉ số Fornell-Larcker
để đánh giá giá trị phân biệt. Hệ số tương
quan giữa các biến chuẩn chủ quan (SN),
tính vị chủng (CE), thái độ đối với sản
phẩm (AT), chất lượng cảm nhận (PQ),
giá trị cảm xúc (EV), truyền thông mạng
xã hội (SMM), sự quan tâm đến quần áo
Bảng 3. Chỉ số SRMR (Standardized Root
Mean Square Residual)
Saturated Model Estimated Model
SRMR 0,074
0,135
Nguồn: Kết quả xử lý từ Smart PLS 3.0, 2020
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 230- Tháng 7. 2021
84
Bạn đang xem tài liệu "Ý định mua sản phẩm thời trang nội địa: Kết quả nghiên cứu của nhóm thế hệ Z tại Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
y_dinh_mua_san_pham_thoi_trang_noi_dia_ket_qua_nghien_cuu_cu.pdf

