Thực trạng và giải pháp về yêu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực từ các trường Đại học trong thời kỳ hội nhập

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ YÊU CẦU CỦA XÃ HỘI  
ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC TỪ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP  
ThS. Lê Thị Thanh Trang  
1. Đặt vấn đề  
Bài toán rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hiện luôn là đề tài  
rất nan giải cho các nhà báo giới, nhà khoa học, nhà trường, và nhà tuyển dụng.  
Ngày nay, xu hướng hội nhập đòi hỏi người sinh viên sau khi tốt nghiệp phải tự  
trang bị cho mình đầy đủ kiến thức, kỹ năng, đạo đức, tác phong chuyên nghiệp  
trước nhà tuyển dụng. Để giúp các bạn sinh viên có cái nhìn tổng quan về một  
số yêu cầu của nhà tuyển dụng cũng như trang bị cho các bạn một số kiến thức  
chủ yếu cần chuẩn bị trước khi rời ghế môi trường đại học để chuyển sang chiếc  
ghế của môi trường doanh nghiệp. Đó là lý do của bài viết.  
2. Tổng quan về đánh giá của các doanh nghiệp đối với sinh viên ra  
trường:  
Bất kỳ một doanh nghiệp nào trong quá trình hoạt động và sản xuất kinh  
doanh theo đuổi mục tiêu lợi nhuận đều phải chuẩn bị rất nhiều nguồn lực khác  
nhau như: Vốn, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, nguồn lực con người.  
Trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định nhất đối với sự thành bại của  
doanh nghiệp, vì thế việc tuyển dụng được đội ngũ nhân sự có kiến thức chuyên  
môn và kỹ năng thành thạo đang là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm rất  
lớn.  
Hiện nay sinh viên mới ra trường ngoài một số lực lượng đáp ứng được  
ngay nhu cầu của các nhà tuyển dụng nhưng đa phần chưa đạt yêu cầu như các  
doanh nghiệp mong muốn, có thể điển hình qua một số vấn đề cụ thể sau:  
Thứ nhất là chưa nắm vững kiến thức chuyên môn.  
Đa số các bạn sinh viên chưa nắm vững kiến thức khi học ở trường, nghĩa  
là các bạn chưa xây dựng cho mình mục tiêu sau khi học xong đại học, các bạn  
thường thiếu linh hoạt và nhạy bén trong vấn đề vận dụng kiến thức để xử lý tình  
huống thực tế, kết quả thường sẽ bị “out” (đánh rớt) trong quá trình phỏng vấn.  
Ví dụ một sinh viên ngành Quản trị bán hàng phải nắm vững kiến thức về bán  
hàng và các kỹ thuật bán hàng nhưng lúc phỏng vấn yêu cầu bán mặt hàng công  
nghiệp, khó bán, đối tượng khách hàng là tổ chức vậy làm sao thuyết phục khách  
hàng mua hàng thì đa phần các bạn chưa đưa ra các giải pháp thuyết phục được  
khách hàng. Thông qua quá trình phỏng vấn cũng nhận định rằng do các bạn  
chưa nắm vững kiến thức chuyên môn như đặc điểm, hành vi mua hàng của  
khách hàng tổ chức, quy trình mua hàng của khách hàng tổ chức, cũng như  
những người tham gia quyết định trong quá trình mua hàng của khách hàng tổ  
155  
chức… từ đó chúng ta mới đưa ra các giải quyết phù hợp được.  
Thứ hai, thiếu sự thành thạo trong việc sử dụng trong sử dụng kỹ năng  
mềm.  
Theo quy định chuẩn đầu ra các ngành đào tạo chương trình đại học nói  
chung yêu cầu sinh viên khi xét tốt nghiệp phải có đủ các giấy chứng nhận tham  
dự các khóa huấn luyện kỹ năng mềm như sau:  
- Kỹ năng thuyết trình hiệu quả;  
- Kỹ năng tư duy hiệu quả và sáng tạo;  
- Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định;  
- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh;  
- Kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian;  
- Kỹ năng làm việc tập thể và tinh thần đồng đội.  
Có thể thấy rằng nếu thực hiện phép so sánh sinh viên ngày nay với sinh  
viên 10, 20 năm trước đó rõ ràn tiêu chuẩn về những kiến thức và kỹ năng thì  
đúng là các bạn hiện nay hơn hẳn thế hệ trước. Tuy nhiên, thực tế đa phần có  
tâm lý học những kỹ năng mềm để đủ điều kiện ra trường chứ chưa chú trọng  
đến việc sử dụng thành thạo để phục vụ công tác đi làm sau này, hay chưa thấy  
được tầm quan trọng của chúng đối với công việc. Ví dụ điển hình, một sinh  
viên dù có bằng tốt nghiệp đạt loại giỏi, xuất sắc đi chăng nữa, hay có những  
công trình nghiên cứu khoa học được đánh giá cao đến mấy đi nữa nhưng không  
có khả năng “trình bày” một cách đầy đủ, rõ ràng, chính xác, cũng nhưng cách  
trình bày của bạn chưa thuyết phục người nghe thì sẽ không được các doanh  
nghiệp đánh giá cao.  
Hay một ví dụ khác nữa là ngày nay môi trường làm việc của các doanh  
nghiệp là môi trường tương tác lẫn nhau, do đó đòi hỏi người nhân viên phải có  
tinh thần đồng đội rất cao, và người nhân viên phải luôn nhớ quy tắc “sự cộng  
hưởng sức mạnh đội nhóm bao giờ cũng tạo ra một sức mạnh lớn hơn và hiệu  
quả hơn cá nhân”.  
Thứ ba chưa thành thạo trong sử dụng ngoại ngữ và tin học.  
Ngày nay xu hướng hội nhập đã rất phổ biến, tất yếu dòng chảy đầu tư  
của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam càng lớn, ngược lại các doanh  
nghiệp Việt Nam cũng có mối quan hệ giao thương sâu rộng với các doanh  
nghiệp nước ngoài, vì thế nguồn lực nhân sự của doanh nghiệp đòi hỏi phải có  
trình độ ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu công việc. Đa số doanh nghiệp  
lấy ngôn ngữ tiếng Anh và tin học văn phòng làm căn cứ để chọn lựa ứng viên.  
Tuy nhiên thực trạng các bạn sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu điệu kiện này  
trong quá trình phỏng vấn nghĩa là các bạn chưa sử dụng một các thành thạo và  
lưu lót tiếng anh, thậm chí nhút nhát, ngại giao tiếp và như thế là mất điểm ngay  
trước nhà tuyển dụng.  
156  
Thứ tư là sinh viên chưa trang bị tác phong chuyên nghiệp  
Một vấn đề nữa các doanh nghiệp hay phản ảnh là các sinh viên chưa  
trang bị những kỹ năng trong phỏng vấn, chẳng hạn như chưa tìm hiểu về doanh  
nghiệp tuyển dụng, vị trí tuyển dụng, trang phục, dung mạo bên ngoài chưa  
chỉnh chu đúng đắn, cụ thể các bạn có thể mặc quần Jean, áo ngắn tay, mang  
dép… đi phỏng vấn. Và những điều này trong rất phản cảm.  
3. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu  
cầu xã hội:  
Xuất phát từ thực trạng khách quan của một số doanh nghiệp về những  
yêu cầu cần thiết đối với người sinh viên sau khi tốt nghiệp, bài viết muốn đưa ra  
một số giải pháp mang tính chất phối hợp và tương tác giữa “Nhà trường”, “Nhà  
doanh nghiệp” và “Sinh viên”.  
Đối với Nhà trường  
Nhà trường sẽ giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng và xác lập những  
mục tiêu và chương trình đạo tạo cho từng chuyên ngành cụ thể. Tùy thuộc vào  
chuyên ngành sẽ có những kiến thức chuyên môn tương ứng. Tuy nhiên để công  
tác hoạch định này đạt hiệu quả cao nhà trường cần thực hiện các cuộc nghiên  
cứu khảo sát về nhu cầu của xã hội cho từng chuyên ngành cụ thể để đưa ra  
những tiêu chí chủ chốt đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đối tượng khảo sát  
chủ yếu là các doanh nghiệp sử dụng người lao động.  
Ngoài việc đảm bảo tuân thủ khối lượng kiến thức theo khung quy định  
của chương trình đại học, nên tăng cường thời lượng và hoạt động cho các  
chương trình ngoại khóa để giúp sinh viên cọ xát với thực tế nhằm trắc nghiệm  
kiến thức, cũng như rèn luyện sinh viên cách giải quyết các vấn đề thực tế. Để  
làm tốt điều này nhà trường cần ra quy định rõ ràng coi đây là chương trình bắt  
buộc, trong đó nhà trường sẽ đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và sinh  
viên để hỗ trợ họ tạo lập mối quan hệ tốt trước nhà tuyển dụng tương lai, thông  
qua đó người sinh viên cảm thấy gần gũi hơn, và quen dần với môi trường làm  
việc của các doanh nghiệp.  
Nếu nhà trường đóng vai trò định hướng, hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp  
với sinh viên thì người giảng viên sẽ giữ vai trò là người thay mặt nhà trường hỗ  
trợ trực tiếp đến các sinh viên mà họ phụ trách. Do đó, đòi hỏi người giảng viên  
ngoài việc đảm bảo hàm lượng kiến thức theo khung quy định theo những  
phương pháp giảng dạy chủ động mà trong quá trình giảng dạy cần lồng ghép  
các tình huống thực tế cho sinh viên giải quyết để thông qua đó chúng ta sẽ làm  
sáng tỏ thêm lý thuyết. Hay nói khác hơn người giảng viên cần nắm vững  
nguyên tắc vòng tròn tiếp nhận kiến thức khép kín: “Lý thuyết =>Thực tế=>Lý  
thuyết”  
Đối với doanh nghiệp  
Doanh nghiệp là đối tượng sử dụng nguồn lực được đào tạo từ các trường  
157  
đại học là chủ yếu. Vì vậy để góp phần làm tăng chất lượng nguồn lực nhân sự  
cho xã hội và cũng cho chính doanh nghiệp thì ngay từ đầu doanh nghiệp cần có  
các công tác hỗ trợ cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện như sau:  
- Chương trình sẵn sàng hợp tác với các trường đại học trong việc thực  
hiện các cuộc khảo sát về nhu cầu của xã hội đối với đội ngũ sinh viên sau khi  
tốt nghiệp;  
- Sẵn sàng bố trí người, thời gian hướng dẫn các lớp học ngoại khóa từ  
các trường đại học;  
- Sẵn sàng hỗ trợ đội ngũ sinh viên thực tập tốt nghiệp.  
Suy cho cùng đây là các hoạt động cộng đồng, doanh nghiệp làm những  
việc này về ngắn hạn chẳng thấy mang lại lợi ích gì nhưng xét cho tận thì nếu  
doanh nghiệp biết cách khai thác tốt các hoạt động hỗ trợ sinh viên trên có thể  
giúp doanh nghiệp giải quyết nhiều vấn đề như:  
- Góp phần nâng cao mặt bằng chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội  
trong đó có doanh nghiệp;  
- Nâng cao uy tín thương hiệu của doanh nghiệp;  
- Tăng lượng khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp;  
- Có thể giúp doanh nghiệp giải quyết một số vấn đề trước mắt từ lực  
lượng sinh viên thực tập.  
- Và nhiều lợi ích tiềm ẩn khác nữa.  
Đối với sinh viên  
Nguồn lực sinh viên đóng vai trò là người thực thi những mục tiêu, nhiệm  
vụ mà nhà trường và xã hội mong muốn. Vì vậy trước hết là cần quán triệt tư  
tưởng rõ ràng ngay từ đầu để có hướng đi cho phù hợp. Người sinh viên ngày  
nay cần phải nhận thức rằng chúng ta học không phải chỉ để đạt được những  
bằng cấp tốt mà còn phải xác định là học để “hành”. Vì thế cách học đòi hỏi vận  
dụng, ứng dụng nhiều hơn trong các loại kiến thức chuyên môn, kỹ năng mềm,  
trình độ ngoại ngữ, tin học và ngay cả phải chuẩn bị tốt các kỹ năng phỏng vấn  
để ghi điểm trước nhà tuyển dụng.  
Tóm lại, trên đây là một vài ý kiến bàn luận về thực trạng về yêu cầu của  
xã hội đối với sinh viên mới ra trường thông qua đây bài viết cũng đưa ra một số  
giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu của xã hội. Những  
giải pháp này cần thực hiện một cách đồng bộ và tương tác lẫn nhau và nếu làm  
tốt trong các đối tượng nhà trường, nhà tuyển dụng và sinh viên thi hy vọng chất  
lượng nguồn nhân lực của xã hội ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tích  
cực. Cuối cùng xin mượn câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” để thay cho  
câu kết.  
158  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tạp chí kinh tế & phát triển số T1,2,3,4,5, 6, 7, 8, 9/2014.  
2. Vì sao họ thành công? Lucinda Watson, NXB Trẻ.  
3. Thẻ điểm cân bằng, Paul R. Niven, NXB Tổng hợp TP.HCM.  
4. Đi tìm sự tuyệt hảo, Trần Xuân Khiêm, NXB Đồng Nai.  
5. Hành vi tổ chức, Nguyễn Hữ Lam, NXB Giáo Dục.  
159  
pdf 5 trang Thùy Anh 16140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và giải pháp về yêu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực từ các trường Đại học trong thời kỳ hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_giai_phap_ve_yeu_cau_cua_xa_hoi_doi_voi_nguon.pdf