Vận dụng một số nội dung tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào việc giáo dục cán bộ quản lí và giáo viên hiện nay
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Vận dụng một số nội dung tư tưởng đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh vào việc
giáo dục cán bộ quản lí và giáo viên hiện nay
Nguyễn Văn Tráng1, Nguyễn Xuân Dũng2
TÓM TẮT: Giáo dục cũng như đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên rất được
1 Email: trangcdspvt@yahoo.com.vn
Hồ Chí Minh chú trọng. Đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục, đào tạo, yêu cầu đặt ra của Chương trình Giáo dục phổ thông mới
và trước thực trạng cán bộ quản lí, giáo viên hiện nay thì việc vận dụng
tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giáo dục đội ngũ cán bộ
quản lí và giáo viên là việc làm cần thiết.
2 Email: nguyenxuandung.[email protected]
Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu
689 Cách Mạng Tháng Tám, thành phố Bà Rịa,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
TỪ KHÓA: Hồ Chí Minh; tư tưởng; đạo đức; phong cách; giáo dục; cán bộ quản lí; giáo
viên.
Nhận bài 10/10/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 18/11/2019 Duyệt đăng 25/12/2019.
Các năng lực của người công dân Việt Nam, đặc biệt là
1. Đặt vấn đề
năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân,
năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội,
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển cá nhân và yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc
Cách mạng công nghiệp mới. Mục tiêu của GD phổ thông
là GD con người toàn diện, giúp HS phát triển hài hòa về
đức, trí, thể, mĩ; Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với
thực tiễn; GD ở nhà trường kết hợp với GD ở gia đình và
xã hội…
Tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có
những nội dung quan trọng về giáo dục (GD) và quản lí GD
có giá trị hết sức to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta. Đó là sự kế thừa và phát triển các giá
trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa của
nhân loại được thôi thúc bởi sự đòi hỏi của sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng xã
hội mới, nền văn hóa mới, con người mới. Từ các bài viết,
bài nói của Hồ Chí Minh để lại là di sản vô giá về GD đạo
đức nhân cách con người nói chung và đội ngũ quản lí GD,
giáo viên (GV) nói riêng. Cho nên, trong đổi mới căn bản
toàn diện GD, đào tạo, yêu cầu đặt ra của chương trình GD
phổ thông mới và trước thực trạng cán bộ quản lí (CBQL),
GV hiện nay thì việc vận dụng tư tưởng đạo đức, phong
Những năm qua, GD Việt Nam đã xây dựng được đội ngũ
GV và CBQL cơ sở GD cơ bản đủ về số lượng. Hầu hết có
phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, đạt chuẩn trình độ
được đào tạo, đạt chuẩn nghề nghiệp ở nhiều mức độ. Đội
cách Hồ Chí Minh trong GD đội ngũ quản lí và GV là việc ngũ này đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí,
làm cần thiết.
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng
lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước.
2. Nội dung nghiên cứu
Tuy nhiên, đứng trước các quy định mới của Luật GD
năm 2019, vấn đề đặt ra hiện nay là vẫn còn một tỉ lệ đáng
kể GV và CBQL cơ sở GD chưa đạt chuẩn trình độ được
đào tạo, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp hoặc những đòi hỏi mới về
năng lực, phẩm chất nhà giáo. Vì vậy, CBQL GD và GV
phổ thông phải nghiên cứu, tìm hiểu và quan trọng hơn là
phải hoàn thiện nhân cách, vai trò, vị thế của bản thân để
đảm nhiệm sứ mệnh GD giai đoạn hiện nay.
2.1. Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ quản lí và giáo viên ở trường
phổ thông
GD cũng như đội ngũ CBQL và GV rất được Hồ Chí
Minh chú trọng.Theo Người, vấn đề then chốt quyết định
chất lượng GD chính là đội ngũ những thầy giáo và CBQL
GD. Bởi vì các thầy giáo, cô giáo mang trên mình nhiệm
vụ nặng nề là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là “Người chiến
sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa” thầy cô giáo có trách
nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lí tưởng đạo đức chân chính,
hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân
loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng
lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội”
[1, tr.345].
2.2. Ưu điểm, những hạn chế hay biểu hiện tiêu cực của đội
ngũ cán bộ quản lí và giáo viên
CBQL GD và GV là nền tảng của sự nghiệp GD, là những
người trực tiếp thực hiện sự nghiệp nâng cao dân trí, đào
Chương trình GD phổ thông mới với mục tiêu là hình tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Phẩm chất, năng lực của
thành, phát triển ở học sinh (HS) các phẩm chất chủ yếu: CBQL GD và GV quyết định trực tiếp ảnh hưởng đến trình
Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; độ GD, quyết định tầm tri thức và quan trọng hơn là quyết
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
28
Nguyễn Văn Tráng, Nguyễn Xuân Dũng
định đến hiệu quả yêu cầu đặt ra trong đổi mới GD.
phản cảm trong xã hội. Cho nên, nếu không được nhìn nhận
thấu đáo, khách quan và kịp thời khắc phục sẽ dẫn đến đánh
giá quy chụp nghề giáo và đội ngũ CBQL GD, GV hiện nay.
Một số hạn chế đã nêu ở trên, có cả nguyên nhân chủ
quan và nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan
là do không ít CBQL, GV còn non nớt về kiến thức chuyên
môn, non nớt về kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng quản lí chuyên
môn và quản lí con người, từ đó dẫn tới hạn chế trong việc
nhận thức đạo đức nghề nghiệp. Không ít CBQL, GV quá
coi trọng vấn đề thu nhập, hám lợi, hám tiền dẫn đến tham
ô, tham nhũng, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề
nghiệp. Về nguyên nhân khách quan, do tác động của cơ
chế thị trường, so với các nghề, nghề dạy học là nghề có thu
nhập thấp, chế độ đãi ngộ còn hạn chế, đời sống GV, nhất
là những GV mới ra trường, chưa được vào biên chế, đồng
lương ít ỏi, cuộc sống bếp bênh… Tất cả những nguyên do
ấy dẫn tới không ít GV phải “lách luật”, phải vi phạm đạo
đức nhà giáo.
Từ thực trạng trên, vấn đề đặt ra cho CBQL GD và GV
phải nâng cao đạo đức nghề giáo, phải thấy được đạo đức
nghề nghiệp là nền tảng, động lực để CBQL và GV hoàn
thành sứ mệnh vẻ vang của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã căn dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp
tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng GD chính trị và
lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng
văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn
đề do cách mạng nước ta đề ra” [2, tr.403]. Hơn lúc nào hết,
để đáp ứng với yêu cầu đặt ra trong đổi mới căn bản toàn
diện GD, đào tạo hiện nay, khắc phục hạn chế về mặt đạo
đức nghề nghiệp, CBQL và và GV cần vận dụng tư tưởng
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho bản thân mình và lan
tỏa tới đồng nghiệp, HS và sinh viên.
Thực tế cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta
lãnh đạo hơn 30 năm qua đã đạt được những thành tựu hết
sức to lớn, góp phần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội. GD và đào tạo được Đảng và Nhà nước
Việt Nam khẳng định “là quốc sách hàng đầu”. Vì thế, mặt
trận GD đã có nhiều đổi mới và đã có những thành công
nhất định, đội ngũ CBQL GD và GV được quan tâm, ưu
đãi. Thầy, cô trên mọi miền đất nước phần lớn là tận tâm với
nghề, gương mẫu về phẩm chất, năng lực, tự học, tự sáng
tạo, không ngừng nâng cao trình độ, rèn luyện đạo đức để
đáp ứng yêu cầu mới của GD nước nhà. Không ít CBQL
GD, GV đã tự nguyện đi đến những nơi khó khăn nhất ở
vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo, mang ánh
sáng dân trí cho con em nhân dân ở những nơi này. Các thầy
cô là tấm gương tiêu biểu, là tấm gương sáng ngời đúng như
Bác Hồ đã nói: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng
là thầy giáo - là người vẻ vang nhất…, những người thầy
giáo tốt là những anh hùng vô danh… Nếu không có thầy
giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng
chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan
trọng, rất là vẻ vang” [2, tr.331]. Về cơ bản, đội ngũ nhà
giáo và CBQL GD có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp tốt. Hầu hết đều tận tụy với nghề, cần cù chịu
khó, có tinh thần trách nhiệm cao, sáng tạo và quyết tâm tự
bồi dưỡng nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, ngành GD và xã
hội không khỏi đau lòng trước hiện tượng một số ít nhà giáo
do chạy theo vật chất đơn thuần, thiếu tu dưỡng, rèn luyện,
vi phạm đạo đức nghề nghiệp, làm ảnh hưởng đến lòng tin
của nhân dân và HS đối với ngành GD. Có những CBQL
và GV thiếu chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như: Có biểu
hiện chạy theo những tiêu cực của kinh tế thị trường, chưa
tích cực, chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ. Tiếp đó là hiện tượng bạo hành,
xâm hại, lăng mạ HS, nhất là những vụ việc bạo hành trẻ
em ở một số trường mầm non và trung học cơ sở. Hiện
tượng tiêu cực trong kì thi trung học phổ thông quốc gia
năm học 2017-2018 ở các tỉnh Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình
dẫn đến việc đánh giá sai lệch kết quả thi cử của HS. Không
ít CBQL GD và GV ở một số địa phương mà báo chí nhiều
lần phản ánh đã tiếp tay cho hiện tượng chạy điểm, chạy
trường, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của kì thi
cũng như uy tín của ngành GD. Bên cạnh đó, không ít GV
ở các cấp học phổ thông, mặc dù đã có chỉ thị Số: 5105/
CT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về chấn chỉnh dạy thêm, học
thêm nhưng không ít CBQL và GV thiếu gương mẫu trong
lời nói, việc làm, vẫn tổ chức dạy thêm, gò ép HS học thêm.
Không ít GV có cách làm như: HS nào tham gia học thêm
thì được ưu ái, HS nào không học thêm thì ít quan tâm.
Hiện tượng này dẫn tới đánh giá không khách quan người
học, gây bức xúc trong HS, phụ huynh và toàn xã hội. Tiếp
nữa là vấn nạn bạo lực học đường do HS gây ra ở một số địa
phương, mà lỗi của CBQL GD và GV của địa phương đó là
2.3. Vận dụng tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào
việc giáo dục cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên hiện nay
Tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tấm
gương soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc,
là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cách
mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân ta thực hiện có hiệu quả những nhiệm
vụ đối với mỗi thời kì cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay,
vận dụng tư tưởng đạo đức, phong cách của Người là nhiệm
vụ cao cả mà mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội cần phải
hướng tới để hoàn thiện nhân cách con người, hoàn thiện
cộng đồng và xã hội. Tư tưởng đạo đức, phong cách của Hồ
Chí Minh là vấn đề lớn. Cho nên, việc vận dụng cái gì, vận
dụng như thế nào cho phù hợp tùy thuộc vào mỗi đối tượng,
mỗi hoàn cảnh, mỗi công việc, mỗi thời điểm mà thực tiễn
xã hội đặt ra. Dưới góc độ GD CBQL và GV, chúng tôi đưa
ra một số nội dung cần vận dụng như sau:
2.3.1. Đối với cán bộ quản lí giáo dục
CBQL GD là người trực tiếp lãnh đạo GV và HS trong
nhà trường phổ thông, là người giữ vai trò quan trọng trong
việc tổ chức, quản lí, điều hành các hoạt động GD. Theo Hồ
không nhỏ… Những hiện tượng này dễ tạo nên bức xúc và Chí Minh, cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành
Số 24 tháng 12/2019
29
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay xấu. Cán bộ là cái được quan liêu, mệnh lệnh, nhiễm bệnh hình thức, bệnh
dây chuyền của bộ máy. Nếu động cơ dù tốt mấy mà dây thành tích mà thiếu đi tính chủ động, sáng tạo trong công
chuyền không chạy thì máy cũng tê liệt. Cán bộ là tiền vốn tác GD mà bản thân mình đảm nhiệm. Khi làm việc phải có
của đoàn thể, vốn lớn thì lãi nhiều… [3, tr.269].
chương trình kế hoạch công tác cụ thể theo ngày, theo tuần,
CBQL GD không nằm ngoài cái chung đó. Cho nên điều theo tháng, theo quý, theo năm để bản thân, GV và HS cùng
trước tiên, CBQL GD phải có đạo đức, phải lấy đạo đức làm thực hiện. Khi có kế hoạch rồi phải có phương pháp thực
gốc, đi liền với đạo đức là tài năng. Với vai trò của mình, hiện. Phương pháp ở đây không phải là CBQL ôm đồm,
CBQL GD luôn phải có lòng trung thành với Đảng, với Tổ làm hết mà phải biết người, tìm người, sử dụng người làm
quốc. Trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào cũng phải hoàn được việc để tin tưởng, phối hợp, giao phó và cùng bắt tay
thành nhiệm vụ của Đảng, của Nhà nước, của nhân dân, thực hiện; Hơn nữa, phải có quyết tâm thực hiện kế hoạch
đề ra. Với phong cách như vậy, người CBQL GD mới được
GV ủng hộ, HS, sinh viên tin cậy, mới hoàn thành nhiệm vụ
cao cả mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, ngành GD giao phó.
của ngành GD giao phó. CBQL phải có mối quan hệ gắn bó
mật thiết với GV và HS, biết lắng nghe sự phản hồi từ GV
và HS, nhất là những phản hồi trái chiều, phản ánh đúng
sự thật. Trên tinh thần đó, với trách nhiệm và quyền hạn
của mình, CBQL GD phải nắm vững ý nguyện của GV và
HS, giải quyết mọi khúc mắc sao cho có lí, có tình, có tình
thương yêu đồng chí, đồng nghiệp và HS của mình; Dù ở
đâu, làm công việc gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh
thần trách nhiệm; “Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho
kì được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không
sợ nguy hiểm” [4, tr.131]. Hơn nữa, CBQL GD phải thấy
được cùng với trách nhiệm, nghĩa vụ với tư cách là người
đứng đầu, phải tiên phong, gương mẫu về tinh thần, thái độ,
trách nhiệm với công việc, trong rèn luyện và thực hành đạo
đức, lối sống, nêu gương, cũng như tuân thủ nghiêm Điều lệ
Đảng, quy định về những điều Đảng viên không được làm.
Có như vậy, CBQL GD mới được đồng nghiệp tin tưởng,
HS mến mộ. Qua đó, mọi công việc thành công, mới giữ
được vị trí, uy tín của ngành GD.
Là CBQL GD, bản thân phải không ngừng học tập, rèn
luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn,
năng lực quản lí và trách nhiệm cá nhân. Trước tiên, phải
nâng cao trình độ chính trị, nắm vững đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung và của ngành
GD nói riêng; Cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố
gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân,
ngày càng tiến bộ. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng Hồ
Chí Minh, thật sự: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
tinh thần trong sáng. Bên cạnh đó, CBQL phải có năng lực
tổ chức, đưa đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước, yêu cầu đổi mới toàn diện GD và đào tạo đi vào
thực tiễn để GV và HS hiểu, đồng lòng, đồng sức thực hiện
theo, biến đường lối, chủ trương thành hiện thực. Trong
xử lí và giải quyết công việc, CBQL cần khắc ghi sâu sắc
nguyên tắc lợi ích của cơ quan, của tập thể GV là trên hết,
2.3.2. Đối với giáo viên
GV là thầy cô giáo trực tiếp đảm nhiệm công tác GD ở
trường phổ thông, là người trực tiếp làm cầu nối thông điệp
của ngành GD, của CBQL GD tới phụ huynh và HS. Đối
với HS, GV là “kĩ sư tâm hồn”, không chỉ dạy chữ, dạy kiến
thức khoa học cho HS mà còn dạy cho HS cách làm người,
hình thành phát triển nhân cách trong HS. Xã hội luôn tôn
trọng nghề dạy học, “không thầy đố mày làm nên”. Vì lẽ đó,
nghề dạy học lại càng đòi hỏi rất cao năng lực và phẩm chất
đạo đức nhà giáo. Từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề
cao vị trí, vai trò của các thầy giáo, cô giáo đối với xã hội.
Họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và
đổi mới nền GD. Điều đó vừa khẳng định vị trí, vai trò quan
trọng của nghề “dạy chữ, dạy người”, vừa nói lên trọng
trách mà xã hội đặt trọn niềm tin lên vai nhà giáo. Các thầy
giáo, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang làm người
chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, có trách
nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lí tưởng đạo đức chân chính,
hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân
loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng
lực sáng tạo, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Hồ
Chí Minh đã căn dặn: “Nhà trường luôn phải thi đua dạy
tốt, học tốt. Nhà trường, các cấp quản lí và đội ngũ GV phải
quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Phương
pháp là cách truyền thụ, dẫn dắt HS nắm tri thức, rèn luyện
kĩ năng. Muốn truyền thụ tri thức, trước hết thầy giáo cô
giáo phải nắm vững tri thức, phải biết mười dạy một. Muốn
có kiến thức sâu rộng cần phải học tập, nghiên cứu, tự học
thường xuyên” [2, tr.603].
Thực tế, không ít GV ở trường phổ thông, thậm chí là
giảng viên ở trường đại học, cao đẳng có trình độ kiến thức,
kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời năng lực giảng dạy, GD chưa đáp ứng yêu cầu trong tình
linh hoạt, mềm dẻo, “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong giải hình mới. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện
quyết mọi tình huống phát sinh.
nay, GV phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao
Là CBQL, phải có phong cách cán bộ. Thông qua phong trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phải đặc biệt coi trọng tự
cách mà CBQL bộc lộ nhân cách của mình. Theo Hồ Chí học, tự bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức tác phong khoa học,
Minh: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay chuẩn mực.
làm” [3, tr.99]. Bởi vậy, cái quan trọng hàng đầu và xuyên
Cả cuộc đời, Bác Hồ “Chỉ có một ham muốn, ham muốn
suốt phong cách của người CBQL GD là nói thì phải làm, tột bậc là nước nhà được độc lập, đồng bào được tự do,
không được nói nhiều, làm ít; Không được hứa với GV, với nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
HS, với phụ huynh HS một đằng lại làm một nẻo; Không hành” [5, tr.161]. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho toàn
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
30
Nguyễn Văn Tráng, Nguyễn Xuân Dũng
Đảng, toàn dân, toàn quân ta bản Di chúc. Trong Di chúc trọng nhiều hơn. Trước tiên, GV cần tìm hiểu hoàn cảnh gia
của mình, Hồ Chí Minh đã viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn đình HS, tiếp cận, gần gũi các em nhiều hơn để tìm hiểu tâm
vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ tư, nguyện vọng của HS. Tiếp đó, GV phải chú ý quan sát,
đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” [2, tr.624]. Đó tìm cho được tố chất ưu điểm có được trong những HS này
là tình thương yêu con người sâu sắc mà Bác Hồ đã dành (dù là nhỏ nhất) để khích lệ, động viên, dìu dắt các em bỏ
cho chúng ta. Chính lòng yêu thương, sự quan tâm đến con qua mặc cảm, nhìn nhận ở chính mình và vươn lên trở thành
người đã làm nên thành công to lớn trong chiến lược GD HS tích cực. Thầy cô phải thấy được cái tốt, cái thiện hiện
của Hồ Chí Minh.
lên trong mỗi HS, biết tha thứ, bỏ qua những sai lầm, hạn
Học tập tư tưởng đạo đức, phong cách của Người, hơn chế mà HS mắc phải. Từ đó, những lời động viên, khích lệ,
lúc nào hết, GV phải hết mực yêu thương và tôn trọng HS. lòng yêu thương, nhiệt huyết ở thầy cô sẽ là nguồn sáng đưa
Có tấm lòng yêu thương, tôn trọng HS thì GV mới tâm HS vững bước trên con đường phía trước.
huyết với nghề dạy học được. Có tình yêu thương HS sẽ
Mặt khác, GV cần phải thực hành nêu gương. Sinh thời,
giúp GV tâm huyết trong từng bài giảng, giảng dạy mới có Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp
sức truyền cảm. Bản thân mỗi GV không chỉ giảng dạy tốt GD con người, sự nghiệp trồng người. Trong GD đạo đức,
mà còn biết chăm lo, quan tâm đến từng đối tượng HS và Người rất coi trọng phương thức “nêu gương”. Người đã
tìm cách giảng dạy cho thích hợp; Biết chia sẻ yêu thương vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương thức của người xưa:
cho những HS có hoàn cảnh khó khăn; Tìm hiểu tâm tư của “Dĩ nhân nhi giáo, dĩ ngôn nhi giáo” (nghĩa là trước hết
từng đối tượng HS và biết tháo gỡ những vướng mắc, tiêu phải GD bằng tấm gương sống của chính mình, sau đó mới
cực trong trường học; Giúp cho việc hạn chế và dẫn đến xóa GD bằng lời nói). Người quan niệm, GD đạo đức là sự
hẳn bệnh thành tích, bệnh tiêu cực trong GD và vấn nạn của nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Trong xã hội ta, ai cũng
bạo lực học đường. Tình yêu nghề của GV còn thể hiện ở là chủ thể và cũng là đối tượng của GD đạo đức. Vì vậy, ai
niềm tin sư phạm sâu sắc, tôn trọng, yêu mến, nhân ái, độ cũng có thể và cần phải luôn luôn nêu tấm gương về đạo
lượng, bao dung người học. Thầy, cô giáo vui với sự thành đức. Theo Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá
đạt của HS và cũng buồn với thất bại của các em. Khi HS trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền” [6, tr.262]. Do đó,
tiến bộ, thầy cô giáo cảm thấy phấn khởi, song khi HS làm tấm gương nhà giáo có tác dụng GD HS rất lớn: Thầy tốt
điều sai thì thầy, cô giáo cũng phải thấy trong đó có phần thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu. Cho nên, GV
lỗi của mình, không vội trách người học mà trước hết bản phải thận trọng, tỉ mỉ, đi sâu, đi sát HS, lắng nghe HS phản
thân mình phải có sự day dứt. Đây là động lực giúp nhà giáo ánh và phải có trách nhiệm trước công việc giảng dạy và kết
vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao tri thức, sư phạm và tu quả học tập của HS. Bản thân GV phải thấy được ưu, nhược
dưỡng rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, coi sự nghiệp trồng điểm của bản thân trước công việc giảng dạy và trong ứng
người mà mình được tham gia là nghĩa vụ thiêng liêng, là xử sư phạm đối với HS để tự điều chỉnh cho phù hợp với
nguồn sống, nguồn hạnh phúc của nhà giáo.
hoàn cảnh và từng đối tượng HS. Đồng thời, mỗi GV tuyệt
Sinh thời, Hồ Chủ tịch căn dặn: “Mỗi con người đều có đối không được thỏa mãn với chính mình, luôn phải nêu
cái thiện và cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần gương tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức, chính trị, đạo
tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và đức nghề nghiệp hằng ngày, hàng giờ giống như thói quen
phần xấu bị mất dần đi” [6, tr.282]. Thực tế, ở những thời “rửa mặt hằng ngày”.
điểm nhất định, ở hoàn cảnh cụ thể khác nhau, nhân cách
Mỗi GV phải xây dựng cho mình kế hoạch phấn đấu cụ
con người nói chung và GV nói riêng cũng có những thử thể, tỉ mỉ, thiết thực; phương pháp thực hiện tự GD, rèn
thách nhất định. Đó là những biểu hiện tiêu cực của chủ luyện cũng phải linh hoạt, năng động, tránh bệnh hình thức,
nghĩa cá nhân, bệnh thành tích, bệnh tiêu cực trong thi cử, phô trương. Đặc biệt, khi xây dựng kế hoạch 10 thì biện
vấn nạn dạy thêm, học thêm, vấn nạn bạo lực học đường… pháp phải 100, bởi có như vậy, GV mới thực sự được tôi
Cho nên, điều cốt yếu trong mỗi GV phải có tri thức và đạo luyện, mới đạt được mục tiêu trở thành tấm gương để HS
đức nghề nghiệp, phải vượt qua với những cám dỗ ấy, hãy noi theo, và qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
đấu tranh với chính mình để chống lại những cám dỗ vây việc “làm theo” tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí
quanh bất cứ lúc nào. Mỗi cán bộ, GV trên cương vị của Minh trong toàn Đảng và toàn xã hội.
mình, cần thẳng thắn và quyết liệt trong đấu tranh chống
Có thể nói, một tấm gương sáng của người thầy, sẽ có cả
các biểu hiện tiêu cực trong GD. Bản thân GV phải thật thà, một thế hệ noi theo, ngược lại một hành vi xấu của người
ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm, thật thầy, có thể làm tổn thương, làm mất niềm tin cả một lớp
sự cầu thị, học hỏi, kiên quyết chống bệnh nói suông, phô học trò. Cho nên, các thầy, cô giáo không được đánh mất
trương, hình thức, chống thói lười biếng, không tích cực phẩm chất của mình, dù hoàn cảnh nào cũng phải là tấm
học tập cái mới. Đối với HS, GV phải là người nâng cánh gương cho HS noi theo, tránh thái độ thờ ơ đối với xã hội,
ước mơ cho các em. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, xa rời đời sống thực tế, lười biếng trong học tập và nâng
đối tượng HS rất phức tạp. Bên cạnh HS ngoan, học giỏi, cao trình độ, thái độ kèn cựa địa vị, xem nhẹ công việc của
chăm chỉ thì còn không ít HS chưa ngoan, học kém. Đối mình, thiếu tinh thần xây dựng tập thể. Đồng thời, thầy cô
tượng cá biệt, chưa ngoan, học kém, thầy cô giáo phải chú giáo cần tích cực chống lại các tác động xấu, các tệ nạn xã
Số 24 tháng 12/2019
31
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
hội, các âm mưu phá hoại của kẻ thù xâm nhập vào HS, sinh cách Hồ Chí Minh được chúng tôi nghiên cứu, chắt lọc,
viên; Tuyên truyền cho mọi người, cho HS của mình tránh vận dụng trong việc GD CBQL và GV giai đoạn hiện nay.
xa các mặt trái và những tệ nạn xã hội đó. Hơn bao giờ hết, Vấn đề đặt ra cho GD trong nhà trường phổ thông hiện nay
biết nêu gương, biết tôn trọng và yêu thương HS thì GV là: Nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo
mới được HS tôn trọng và ngưỡng mộ; Biết lấy tấm gương vì một trường học hạnh phúc, với các tiêu chí quan trọng
của thầy cô giáo làm tấm gương cho mình. Qua đó, HS sẽ ý và cốt lõi: Yêu thương, an toàn và tôn trọng. Vì thế, việc
thức được trách nhiệm và chủ động cố gắng vươn lên trong nghiên cứu học tập và rèn luyện tư tưởng đạo đức, phong
học tập và rèn luyện, tu dưỡng bản thân, xứng đáng là: con cách Hồ Chí Minh trong mỗi CBQL GD và GV chính là
ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ.
phương pháp tích cực, để nhà giáo thực hiện thành công sứ
mệnh của mình, góp phần vào công cuộc chấn hưng GD,
đưa GD Việt Nam vững bước, sánh vai với cường quốc năm
3. Kết luận
Trên đây là một số nội dung về tư tưởng đạo đức, phong châu như Bác Hồ đã từng mong muốn.
Tài liệu tham khảo
[1] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 9, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[2] Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[3] Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, tập 6, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh, (1995), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[7] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục
phổ thông môn Giáo dục công dân, Hà Nội.
[9] Hồ Chí Minh, (2000), Toàn tập, tập 11, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[10] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 15, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
APPLYING HO CHI MINH’S THOUGHTS, MORALS AND STYLE
IN EDUCATING MANAGEMENT STAFF AND TEACHERS
Nguyen Van Trang1, Nguyen Xuan Dung2
ABSTRACT: Education as well as the management staff and teachers received
1 Email: trangcdspvt@yahoo.com.vn
a lot of focus from Ho Chi Minh. In order to meet the requirements of basic
and comprehensive education innovation, the demands of the new general
education program and the current situation of management staff and
teachers, it is necessary to apply Ho Chi Minh’s thoughts, morals and style in
educating management staff and teachers.
2 Email: nguyenxuandung.[email protected]
Ba Ria - Vung Tau College of Education
689 Cach mang Thang 8, Ba Ria city,
Ba Ria - Vung Tau province, Vietnam
KEYWORDS: Ho Chi Minh; thoughts; morals; style; education; managers; teachers.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
32
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng một số nội dung tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào việc giáo dục cán bộ quản lí và giáo viên hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
van_dung_mot_so_noi_dung_tu_tuong_dao_duc_phong_cach_ho_chi.pdf

