Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 2: Quan điểm cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh quân đội bảo vệ tổ quốc

MỞ ĐẦU  
Vấn đề về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc XHCN là một trong  
những vấn đề được nhiều học giả nghiên cứu, với rất nhiều học thuyết. trong đó,  
học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh quân đội và bảo  
vệ Tổ quốc XHCN mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc. Đó là cơ sở lý  
luận để các Đảng Cộng sản đề ra chủ trương, đường lối chiến lược xây dựng nền  
quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ  
nghĩa.  
Bài giảng được biên soạn dựa trên cơ sở Giáo trình giáo dục quốc phòng –  
an ninh, tập một, dùng cho đại học, cao đẳng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,  
năm 2014.  
1
Phần I  
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN,  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH I. KHÁI NIỆM.  
I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN VỀ CHIẾN TRANH.  
1. Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội.  
Chiến tranh là một vấn đề phức tạp, trước Các Mác, Ăng Ghen đã có  
nhiều nhà tư tưởng đề cập đến vấn đề này, song đáng chú ý nhất là tư tưởng của  
C.Ph. CLaudơvít, Ông quan niệm: Chiến tranh là một hành vi bạo lực dùng để  
buộc đối phương phải phục tùng ý trí của mình. Chiến tranh là sự huy động  
không hạn độ, sức mạnh đến tột cùng của các bên tham chiến. Ở đây C.Ph.  
CLaudơvít đã chỉ ra được đặc trưng cơ bản của chiến tranh đó là sử dụng bạo  
lực. Tuy nhiên C.Ph. CLaudơvít chưa luận giải được bản chất của hành vi bạo  
lực ấy.  
Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật  
lịch sử, dựa trên các luận cứ khoa học và thực tiễn các nhà kinh điển của chủ  
nghĩa Mác đã kế thừa tư tưởng đó và đi đến khẳng định: Chiến tranh là một hiện  
tượng chính trị - xã hội có tính lịch sử, đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức  
giữa các giai cấp, nhà nước (hoặc liên minh giữa các nước) nhằm đạt mục đích  
chính trị nhất định. Các ông đã phân tích chế độ công xã nguyên thuỷ và chỉ ra  
rằng, thời kỳ công xã nguyên thuỷ kéo dài hàng vạn năm, con người chưa hề  
biết chiến tranh. Vì đặc trưng của chế độ này là trình độ phát triển của lực lượng  
sản xuất hết sức thấp kém, tổ chức xã hội thì còn sơ khai, con người sống hoàn  
toàn phục thuộc vào tự nhiên. Động cơ cơ bản của sự phát triển xã hội công xã  
nguyên thuỷ là cuộc đấu tranh giữa con người với tự nhiên. Trong xã hội đó, các  
mâu thuẫn và xung đột giữa các bộ lạc, kể cả xung đột vũ trang chỉ là thứ yếu,  
không mang tính xã hội. Những cuộc đấu tranh tranh giành đất đai, các khu vực  
săn bắn hái lượm, các bãi chăn thả các hành động đó chỉ là đấu tranh để sinh tồn.  
Trong các cuộc xung đột ấy tuy đã có yếu tố bạo lực vũ trang, nhưng những yếu  
tố bạo lực vũ trang đó chỉ có ý nghĩa để thoả mãn các nhu cầu kinh tế trực tiếp  
của các bộ tộc, bộ lạc. Vì vậy Các Mác, Ăng Ghen coi đây như là một hình thức  
lao động nguyên thuỷ. Các xung đột ở xã hội công xã nguyên thuỷ không phải  
là chiến tranh, đó chỉ là những cuộc xung đột mang tính tự phát ngẫu nhiên.  
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin chiến tranh là những  
kết quả của những quan hệ giữa người với người trong xã hội. Nhưng nó không  
phải là những mối quan hệ giữa người với người nói chung. Mà nó là mối quan  
hệ giữa những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau. Khác với các hiện  
tượng chính trị - xã hội khác, chiến tranh chiến tranh được thể hiện dưới một  
hình thức đặc biệt, sử dụng một công cụ đặc biệt đó là bạo lực vũ trang.  
2
2. Nguồn gốc nảy sinh chiến tranh.  
Với thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng cùng sự kết hợp  
sáng tạo phương pháp logíc và lịch sử C. Mác và Ph. Ăngghen lần đầu tiên trong  
lịch sử đã luận giải một cách đúng đắn về nguồn gốc nẩy sinh chiến tranh. Chủ  
nghĩa Mác – Lênin khẳng định: sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư  
nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc sâu xa (nguồn gốc kinh tế), suy đến cùng  
đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh. Đồng thời, sự xuất hiện và tồn  
tại của giai cấp và đối kháng giai cấp là nguồn gốc trực tiếp (nguồn gốc xã hội)  
dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh.  
Từ thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội loài người đã chứng minh  
cho nhận định trên. Trong tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư  
hữu và của nhà nước”, Ph. Ăngghen chỉ rõ: Trải qua hàng vạn năm trong chế độ  
cộng sản nguyên thủy, khi chưa có chế độ tư hữu, chưa có giai cấp đối kháng thì  
chiến tranh với tính cách là một hiện tượng chính trị xã hội cũng chưa xuất  
hiện. Mặc dù thời kì này đã xuất hiện những cuộc xung đột vũ trang. Nhưng đó  
không phải là một cuộc chiến tranh mà chỉ là một dạng “Lao động nguyên  
thủy”. Bởi vì, xét về mặt xã hội, xã hội công xã nguyên thủy là một xã hội  
không có giai cấp, bình đẳng, không có tình trạng phân chia thành kẻ giàu,  
người nghèo, kẻ đi áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột. Về kinh tế, không  
có của “dư thừa tương đối” để người này có thể chiếm đoạt thành quả lao đông  
của người khác, mục tiêu của các cuộc xung đột đó chỉ để tranh giành các điều  
kiện tự nhiên thuận lợi để tồn tại như; nguồn nước, bãi chăn thả, vùng săn bắn  
hay hang động... Về kĩ thuật quân sự, trong các cuộc xung đột này, tất cả các  
bên tham gia đều không có lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, cũng như vũ khí  
chuyên dùng. Do đó, các cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính ngẫu  
nhiên tự phát. Theo đó Ph. Ăngghen chỉ rõ, khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư  
liệu sản xuất xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của giai cấp, tầng lớp áp bức  
bóc lột từ đó xuất hiện và tồn tại chiến tranh như một tất yếu khách quan. Chế  
độ áp bức bóc lột càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển. Chiến tranh trở  
thành bạn đường của mọi chế độ tư hữu.  
Tiếp tục phát triển những luận điểm của C. Mác, Ph.Ăngghen về chiến  
tranh trong điều kiện lịch sử mới, Lênin chỉ rõ : Trong thời đại ngày nay còn chủ  
nghĩa đế quốc thì còn nguy cơ xẩy ra chiến tranh, chiến tranh bắt nguồn từ chính  
bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh là bạn đường của  
chủ nghĩa đế quốc.  
Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu  
sản xuất, có đối kháng giai cấp và có áp bức bóc lột. Chiến tranh không phải bắt  
nguồn từ bản năng sinh vật của con người, không phải là định mệnh và cũng  
không phải là hiện tượng tồn tại vĩnh viễn. Muốn xoá bỏ chiến tranh thì phải xoá  
bỏ nguồn gốc sinh ra nó.  
3
3. Bản chất chiến tranh.  
Bản chất chiến tranh là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất  
của học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội. Theo V.I. Lênin: "Chiến  
tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác" (cụ thể là bằng bạo  
lực). Theo V.I. Lênin, khi phân tích bản chất chiến tranh, nhất thiết phải có quan  
điểm chính trị - giai cấp, xem chiến tranh chỉ là một hiện tượng lịch sử cụ thể.  
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin: "Chính trị là sự phản ánh tập trung của  
kinh tế", "Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc", chính trị là sự  
thống nhất giữa đường lối đối nội và đường lối đối ngoại, trong đó đường lối đối  
ngoại phụ thuộc vào đường lối đối nội. Lênin chỉ rõ “mọi cuộc chiến tranh đều  
gắn liền với chế độ chính trị sinh ra nó”, chính trị chi phối chiến tranh từ đầu  
đến cuối. Như vậy, chiến tranh chỉ là một thời đoạn, một bộ phận của chính trị,  
nó không làm gián đoạn chính trị. Ngược lại, mọi chức năng, nhiệm vụ của  
chính trị đều được tiếp tục thực hiện trong chiến tranh. Giữa chiến tranh và  
chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó chính trị chi phối và quyết định  
toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, chính trị chỉ đạo toàn bộ hoặc phần lớn  
tiến trình và kết cục của chiến tranh, chính trị quy định mục tiêu và điều chỉnh  
mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang. Chính trị không chỉ kiểm tra  
toàn bộ quá trình tác chiến, mà còn sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra  
những nhiệm vụ, những mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở thắng lợi  
hay thất bại của chiến tranh. Ngược lại, chiến tranh là một bộ phận, một phương  
tiện của chính trị, là kết quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị.  
Chiến tranh tác động trở lại chính trị theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực; hoặc  
tích cực ở khâu này nhưng lại tiêu cực ở khâu khác. Chiến tranh có thể làm thay  
đổi đường lối, chính sách, nhiệm vụ cụ thể, thậm chí có thể còn thay đổi cả  
thành phần của lực lượng lãnh đạo chính trị trong các bên tham chiến. Chiến  
tranh tác động lên chính trị thông qua việc làm thay đổi về chất tình hình xã hội,  
nó làm phức tạp hoá các mối quan hệ và làm tăng thêm những mâu thuẫn vốn có  
trong xã hội có đối kháng giai cấp. Chiến tranh có thể đẩy nhanh sự chín muồi  
của cách mạng hoặc làm mất đi tình thế cách mạng. Chiến tranh kiểm tra sức  
sống của toàn bộ chế độ chính trị xã hội.  
Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương  
thức tác chiến, vũ khí trang bị "song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay  
đổi, chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của các nhà nước và giai cấp nhất  
định. Đường lối chính trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn  
chứa đựng nguy cơ chiến tranh, đường lối đó đã quyết định đến mục tiêu chiến  
tranh, tổ chức biên chế, phương thức tác chiến, vũ khí trang bị" của quân đội do  
chúng tổ chức ra và nuôi dưỡng.  
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH.  
1. Trên cơ sở lập trường duy vật biện chứng, Hồ chí Minh đã sớm đánh giá  
đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động cúa chiến tranh đến  
đời sống xã hội.  
4
Khi nói về bản chất của chủ nghĩa của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh  
đã khái quát bằng hình ảnh “con đĩa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao  
động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân lao động thuộc địa.  
Tại hội nghị Véc-Xây, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật  
của cuộc xâm lược thuộc địa và chiến tranh cướp bóc của chủ nghĩa thực dân  
Pháp. “Người Pháp khai phá văn minh bằng rượu lậu, thuốc phiện”  
Nói về mục đích của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người  
khẳng định: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền  
thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn  
cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ.  
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến  
hành nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của  
nhân dân ta là cuộc chiến tranh chống xâm lược nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền  
và thống nhất đất nước.  
2. Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị –  
xã hội của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh cướp nước của chủ  
nghĩa đế quốc, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân  
tộc.  
Trên cơ sở mục đích chính trị của cuộc chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác  
định tính chất xã hội của chiến tranh: chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến  
tranh chống xâm lược là chính nghĩa.  
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mac – Lê-nin về bạo lực  
cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách  
mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là hành  
động bạo lực, độc lập tự do không thể cầu xin mà có được, phải dùng bạo lực  
cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ  
chính quyền”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bạo lực cách mạng được tạo nên bởi  
sức mạnh của toàn dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết  
hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.  
3. Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của  
nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn coi con người  
là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Người chủ trương phải dựa  
vào dân, coi dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để "xây dựng lầu thắng lợi".  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân là một trong những di sản quý  
báu của Người. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh trình bày một cách giản dị, dễ  
hiểu nhưng sinh động và rất sâu sắc. Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của  
Đảng là cuộc chiến tranh toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân  
và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Tư tưởng của Người được thể hiện  
rõ nét trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày  
19/12/1946: "Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn  
5
giáo, đảng phái, dân tộc... hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân  
Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có  
gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp  
cứu nước".  
Để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, Người tiếp tục khẳng định: "Ba mươi  
mốt triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kì già trẻ, gái trai, phải là ba mươi mốt  
triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mĩ cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng".  
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân,  
trong đó phải có lực lượng vũ tranh nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn  
dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn  
dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự; chính trị; kinh tế; văn hoá;  
ngoại giao...  
Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt  
Nam trong thời đại mới và là một sự phát triển đến đỉnh cao tư tưởng vũ trang  
toàn dân của chủ nghĩa Mác – lênin. Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí  
luận mác xít về chiến tranh nhân dân trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt  
Nam.  
Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh, ngăn chặn được chiến tranh là thượng sách,  
Người cố gắng dùng các phương thức ít đổ máu để giành và giữ chính quyền.  
Khi đã phải dùng chiến tranh thì sự hi sinh mất mát là không tránh khỏi, do đó,  
Người thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành, toàn dân phải ghi ơn những  
người đã ngã xuống cho độc lập tự do của Tổ Quốc, phải chăm sóc gia đình  
thương binh liệt sĩ và đối xử khoan hồng với tù, hàng binh dịch. Tư tưởng nhân  
văn trong quân sự của Hồ chí Minh được kết tinh trong truyền thống “ Đại -  
Nghĩa - Trí - Tín - Nhân”, “mở đường hiếu sinh” cho kẻ thù của truyền thống  
Việt nam, nó độc lập hoàn toàn với tư tưởng hiếu chiến, tàn ác của thực dân, đế  
quốc xâm lược.  
Trong lĩnh vực nghệ thuật quân sự, chủ tịch Hồ chí Minh luôn lấy tư tưởng  
chiến lược tiến công, giành thế chủ động, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp  
của nhiều lực lượng hình thức quy mô và mọi lúc mọi nơi. Khéo léo nhuần  
nhuyễn các yếu tố: Thiên thời, địa lợi nhân hoà với: Chí, dũng, lực, thế thời,  
mưu để đánh thắng địch một cách có lợi nhất tổn thất ít nhất. Dưới sự lãnh đạo  
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ thuật tiến chiến tranh toàn dân, toàn  
diện của Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao.  
Phần II  
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC – LÊ-NIN,  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI.  
I. QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN VỀ QUÂN ĐỘI.  
1. Quân đội và chức năng của quân đội.  
6
- Quân đội: Ăng-ghen xác định: “Quân đội là một tập đoàn người có vũ  
trang, có tổ chức do nhà nước xây dựng để dùng vào cuộc chiến tranh tiến công  
hoặc chiến tranh phòng ngự”.  
- Chức năng của quân đội: Quân đội là công cụ bạo lực chủ yếu, là lực  
lượng nòng cốt để nhà nước, giai cấp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ  
trang. Lê-nin nhấn mạnh: “chức năng cơ bản của quân đội đế quốc là phương  
tiện quân sự để đạt được mục tiêu chính trị đối ngoại của các nước đế quốc và  
bảo đảm sự thống trị của bọn bóc lột đối với nhân dân lao động ở trong nước”.  
2. Nguồn gốc ra đời của quân đội.  
Từ khi có Quân đội đã có không ít nhà lí luận đề cập đến nguồn gốc, bản  
chất của Quân đội trên các khía cạnh khác nhau. Nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác -  
Lênin mới lý giải đúng đắn và khoa học về hiện tượng chính trị xã hội đặc thù  
này.  
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra  
đời của Quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế - xã hội và khẳng định: quân đội  
là một hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội  
loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai  
cấp trong xã hội.Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm nảy sinh nhà  
nước thống trị bóc lột. để bảo vệ lợi ích của giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước  
thống trị bóc lột. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và đàn áp quần chúng  
nhân dân lao động, giai cấp thống trị đã tổ chức ra lực lượng vũ trang thường  
trực làm công cụ bạo lực của nhà nước.  
Như vậy chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành  
giai cấp đối kháng là nguồn gốc ra đời quân đội. Chừng nào còn chế độ tư hữu,  
còn chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân đội chỉ mất đi khi  
giai cấp, nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.  
3. Bản chất giai cấp quân đội.  
- Chủ nghĩa Mác- lênin khẳng định: bản chất quân đội là công cụ bạo lực  
vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định nhằm mục đích bảo vệ lợi ích giai  
cấp thống trị và nhà nước tổ chức nuôi dưỡng sử dụng nó. Bản chất của quân đội  
phụ thuộc vào bản chất của nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và xây dựng theo  
đường lối quan điểm chính trị , quân sự của giai cấp mình. Đó là cơ sở để quân  
đội trưởng hành với nhà nước đã tổ chức ra nó.  
- Bản chất giai cấp của quân đội không phải tự phát hình thành mà phải  
trải qua quá trình xây dựng lâu dài và được củng cố liên tục. Bản chất giai cấp  
của quân đội là tương đối ổn định, nhưng không phải là bất biến. Sự vận động  
phát triển bản chất giai cấp của quân đội bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: giai  
cấp, nhà nước, các lực lượng, tổ chức trị xã hội và việc giải quyết mối quan hệ  
trong nội bộ quân đội. Do sự tác độngcủa các yếu tố trên mà bản chất của giai  
cấp của quân đội có thể được tăng cường, hoặc bị phai nhạt, thậm chí bị biến  
chất và tuột khỏi tay nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra, nuôi dưỡng quân đội đó.  
7
Sự thay đổi bản chất giai cấp của quân đội diễn ra dần dần thông qua việc tăng  
cường hoặc suy yếu dần các mối quan hệ trên.  
Trong tình hình hiện nay, các học giả tư sản thường rêu rao luận điệu “phi  
chính trị hoá quân đội”, cho quân đội phải đứng ngoài chính trị, công cụ là bạo  
lực của toàn xã hội, không mang bản chất giai cấp, thực chất quan điểm “phi  
chính trị hoá quân đội” của các học giả tư sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của  
Đảng Cộng sản, làm giảm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hoá về  
chính trị tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng của quân đội. Đó là mục tiêu  
quan trọng trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc.  
Mặt khác, mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động không nhỏ tới tăng cường  
bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của quân đội. Những biểu hiện  
cường điệu hoá vật chất, lề thói thực dụng, cơ hội về chính trị, sự suy giảm về  
đạo đức cách mạnglà những cản trở trong xây dựng quân đội cách mạng hiện  
nay.  
4. Sức mạnh chiến tranh đấu tranh của quân đội.  
- Theo quan điểm của Mác- Ănggen, sức mạnh chiến đấu của quân đội  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con người, điều kiện kinhtế chính trị, văn hoá,  
xã hội, vũ khí trang bị, khoa học quân sự trong xây dựng sức mạnh chiến đấu  
cho quân đội, các Ông rất chú trọng đến khâu đội ngũ cán bộ, đánh giá và nhận  
xét về tài năng của các tướng lĩnh quân sự, đồng thời phê phán sự yếu kém của  
đội ngũ này.  
- Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Mác- Ănggen, Lênin đã chỉ rõ sức  
mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: yếu tố quân số, tổ  
chức, cơ cấu biên chế, yếu tố chính trị- tinh thần và kỷ luật, số lượng, chất lượng  
vũ khí trang bị kỹ thuật, trình độ huấn luyện và thể lực, trình độ khoa học và  
nghệ thuật quân sự, bản lĩnh lãnh đạo,trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các  
cấp. giữa cácg yếu tố trên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên, vị trí,  
vai trò của từng yếu tố là không ngang bằng nhau. Trong những điều kiện xác  
định, yếu tố chính trị tinh thần giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu  
của quân đội. Lênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi  
đều tuỳ thuộc vào tinnh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”  
5. Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới.  
Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển lí luận của Mác- Ăngghen về quân đội  
và vận dụng thành công trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.  
Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới:  
+ Đảng Cộng sản lãnh đạo Hồng quân tăng cường bản chất giai cấp công  
nhân.  
+ Đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân  
+ Trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản.  
+ Xây dựng chính qui  
8
+ Không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức  
+ Phát triển hài hoà các quân chủng, binh chủng  
+ Sẵn sàng chiến đấu  
Trong đó sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất,  
quyết định đến sức mạnh, sự tồn tại, phát triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng  
quân  
Ngày nay những nguyên tắc cơ bản của Lênin về quân đội kiểu mới vẫn  
còn giữ nguyên giá trị, là cơ sở lí luận khoa học cho các Đảng Cộng sản xác  
định phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình.  
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI.  
1. Khẳng định sự ra ra đời của quân đội là một tất yếu là vấn đề có tính quy  
luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.  
Thực tiễn nước ta cho thấy, kẻ thù thực hiện bạo lực phản cách mạng để  
áp bức, nô dịch dân tộc ta. Do vậy, muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp  
chúng ta phải tổ chức bạo lực cách mạng để chóng lại bạo lực phản cách mạng.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của  
quân đội với sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Người viết:  
“Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn đánh chúng phải có  
lực lượng quân sự, phải có tổ chức”. Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/12/1944,  
Đội Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của quân đội ta ra đời. Sự ra đời  
của quân đội xuất phát từ chính yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng  
dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước ta.  
2. Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân.  
- Với cương vị là người tổ chức, lãnh đạo, giáo dục rèn luyện quân đội ta,  
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng bản chất giai cấp công nhân cho  
quân đội. Trong xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội, Người hết  
sức quan tâm đến giáo dục, nuôi dưỡng các phẩm chất cách mạng, bản lĩnh  
chính trị và coi đó là cơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn  
diện.  
- Bản chất giai cấp công nhân của QĐND được Hồ Chí Minh khái quát:  
“Quân đội ta trung thành với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì  
độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn  
nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.  
3. Khẳng định, quân đội ta từ dân mà ra, vì dân mà chiến đấu.  
Đây là một trong những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phát  
triển lý luận về quân đội. Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta là quân đội  
nhân dân, do nhân dân xây dựng, vì nhân dân mà chiến đấu”, “quân và dân như  
cá với nước”. Mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân là nguồn gốc tạo  
nên sức mạnh của quân đội.  
9
4. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nguyên  
tắc xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.  
Bắt nguồn từ nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội  
kiểu mới của giai cấp vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt  
Nam đặc biệt quan tâm đến công cụ này để nó thực sự trở thành lực lượng nòng  
cốt trong đấu tranh giai cấp, kể cả tiến hành chiến tranh.  
Đảng Cộng sản Việt Nam - Người tổ chức lãnh đạo giáo dục và rèn luyện  
quân đội – là nhân tố quyết định đến sự hình thành và phát triển bản chất của  
giai cấp công nhân cho quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí  
Minh luôn giành sự chăm lo đặc biệt đối với quân đội. Điều này được thể hiện  
rõ trong cơ chế lãnh đạo: tuyệt đối trực tiếp của Đảng đối với quân đội trong  
thực hiện chế độ công tác Đảng, công tác chính trị. Nhờ đó Quân đội Nhân dân  
Việt Nam trở thành quân đội kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân.  
5. Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của quân đội.  
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “hiện nay quân đội ta có 2 nhiệm  
vụ chính. Một là, xây dựng một quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng  
chiến đấu. Hai là, thiết thực tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng chủ  
nghĩa xã hội”. Đây là vấn đề khác về chất so với quân đội của giai cấp bóc lột.  
- Quân đội ta có ba chức năng: là đội quân chiến đấu, là đội quân công  
tác, là đội quân sản xuất. Ba chức năng này phản ánh cả mặt đối nội, đối ngoại  
của quân đội  
+ Với tư cách là đội quân chiến đấu: quân đội ta sẵn sàng chiến đấu và  
chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ  
trật tự an toàn xã hội, tham gia voà cuộc tiến công địch trên mặt trận lí luận,  
chính trị - tư tưởng, văn hoá  
+ Là đội quân sản xuất: quân đội tăng gia sản xuất cải thiện đời sống,  
xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng, phát triển đất nước, trong điều kiện hiện  
nay, quân đội còn là lực lượng nòng cốt và xung kích trong xây dựng kinh tế -  
quốc phòng ở các địa bàn chiến lược, nhất là ở biên giới, biển đảo, vùng sâu,  
vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ và ở những địa bàn có những tình huống  
phức tạp nảy sinh.  
+ Là đội quân công tác: quân đội tham gia vận động quần chúng nhân  
dân xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, góp phần tăng cường sự đoàn  
kết giưũa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân, giúp dân chống thiên tai,  
giải quyết những khó khăn trong sản xuất và đời sống, tuyên truyền và vận động  
nhân dân hiểu rõ và chấp hành đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng,  
pháp luật của Nhà nước  
10  
Phần III  
QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN,  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN.  
I. QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN.  
C. Mác và Ph. Ăngghen đã khẳng định: “dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp  
công nhân không có tổ quốc”. Trong điều kiện lịch sử cụ thể, thời C. Mác và Ph.  
Ăngghen sống, vấn đề bảo vệ ổ quốc xã hội chủ nghĩa chưa được đặt ra một  
cách trực tiếp. Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến  
mới của Lênin vào kho tàng lí luận chủ nghĩa Mác.  
1. Bảo vệ tổ quốc XHCN là một khách yếu khách quan.  
- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công  
nhân.  
- Xuất phát từ qui luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ  
Tổ quốc XHCN. Ngay sau khi cách mạng XHCN thắng lợi, nhà nước của giai  
cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì Tổ quốc XHCN cũng bắt  
đầu hình thành. Cùng với nhiệm vụ xây dựng XHCN, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc  
XHCN cũng được đặt ra một cách trực tiếp, hai nhiệm vụ này gắn bó hữu cơ với  
nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc  
chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ  
quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tư cách là Tổ quốc”  
- Xuất phát từ qui luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc.  
Lênin đã chỉ rõ, do qui luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc mà  
chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi không đồng đều ở các nước. Do đó, bảo  
vệ Tổ quốc XHCN trở thành nhiệm vụ trực tiếp, tất yếu và khách quan  
- Xuất phát từ bản chất, âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thế  
giới. Giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị đánh đổ về chính trị nhưng chúng vẫn  
chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất. Chúng luôn tìm  
cách liên kết với các phần tử phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài hòng lật  
đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của giai cấp công nhân. Sự sụp đổ của  
CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là một ví dụ thực tế điển hình chứng minh cho  
luận điểm của Lênin rằng: giành chính quyền đã khó, nhưng giữ được chính  
quyền còn khó hơn. Do đó, xây dựng XHCN phải luôn gắn với bảo vệ Tổ quốc  
XHCN.  
2. Bảo vệ tổ quốc XHCN là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc, toàn thể  
giai cấp công nhân và nhân dân lao động.  
Bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ thành quả to lớn mà toàn dân tộc, toàn  
thể các giai cấp và nhân dân lao động vừa trải qua cuộc đấu tranh gay go, quyết  
liệt của kẻ thù mới giành được. Lê-nin chỉ rõ: bảo vệ Tổ quốc XHCN là nhiệm  
vụ, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân  
11  
dân lao động và giai cấp vô sản thế giới có nhiệm vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ  
Tổ quốc XHCN.  
Người luôn lạc quan tin tưởng về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN của  
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì theo Người bảo vệ Tổ quốc XHCN  
là bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, của toàn thể các giai cấp và của nhân dân lao  
động cũng như bảo vệ lợi ích của con cái họ.  
3. Bảo vệ tổ quốc xhcn, phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng  
gắn với phát triển KT – XH.  
- Vì bản chất của chủ nghĩa đế quốc là xâm lược, phải ngăn chặn mưu đồ  
xâm lược của chúng nên bảo vệ Tổ quốc XHCN phải thường xuyên tăng cường  
tiềm lực quốc phòng.  
- Lênin đã khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc XHCN là sự nghiệp thiêng liêng,  
cao cả, mang tính cách mạng, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, sự  
nghiệp đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.  
- Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp để bảo vệ Tổ quốc như:  
+ Củng cố chính quyền Xô Viết các cấp.  
+ Bài trừ nội phản, tiêu diệt bon bạch vệ  
+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hoá, khoa học kĩ thuật, vận  
dụng đường lối đối ngoại khôn khéo, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách  
lược, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù  
+ Hết sức chăm lo xây dựng quân đội kiểu mới  
4. Đảng Cộng sản lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN.  
Lê-nin chỉ ra rằng: Đảng Cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo  
vệ Tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có  
sáng kiến lôi kéo quần chúng và có đội ngũ Đảng viên gương mẫu, hi sinh vì Tổ  
quốc, vì nhân dân. Đảng hướng dẫn, giám sát các hoạt động của các cấp, các  
ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động nhằm bảo vệ an ninh  
đất nước.  
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN  
1. Bảo vệ tổ quốc XHCN là tất yếu khách quan.  
- Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN  
được Hồ Chí Minh chỉ rõ: “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta  
phải cùng nhau giữ lấy nước”.  
- Ý chí giữ nước của Hồ Chí Minh rất sâu sắc, kiên quyết. Trong lời kêu  
gọi toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả  
chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ... Giờ cứu nước đã  
đến, ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để gìn gĩư đất nước. Dù phải gian lao  
12  
kháng chiến, nhưng với một long kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân  
tộc ta”.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Người khẳng định: “Không  
có gì quý hơn độc lập tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta  
còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”.  
Trước khi đi xa trong bản di chúc Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến  
chống Mĩ cứu nước có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều  
của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ đến thắng  
lợi hoàn toàn”.  
2. Mục tiêu bảo vệ tổ quốc là bảo vệ độc lập dân tộc và CNXH, nghĩa vụ  
trách nhiệm của mọi công dân.  
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng  
Hồ Chí Minh. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ của  
mỗi công dân Việt Nam. Trong bản tuyên ngôn độc lập, Người khẳng định:  
“Toàn dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và  
của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lượ  
nước ta, Người kêu gọi: “Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân  
Pháp cứu Tổ quốc”.  
- Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Người kêu gọi nhân dân cả  
nước quyết tâm chiến đấu đên thăng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo  
vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa.  
3. Sức mạnh bảo vệ tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, cả nước,  
kết hợp với sức mạnh của thời đại.  
- Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm; Phát huy sức mạnh  
tổng hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đó là sức mạnh của  
toàn dân tộc, của các cấp, các nghành từ trung ương đến cơ sở, là sức mạnh của  
nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá- xã hội, sức mạnh truyền thống với  
hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.  
- So sánh sức mạnh giữa ta với quân xâm lược trong cuộc kháng chiến  
chống Mĩ, Người phân tích: “Chúng ta có chính nghĩa, cáo sức mạnh doàn kết  
toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng  
tình ủng hộ rất lớn của các nước xã hội chủ nghĩa an hem và nhân dân tiến bộ  
trên thế giới, chúng ta nhất định thắng”. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn  
dân, an ninh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, coi đó là lực lượng chủ chốt  
để bảo vệ Tổ quốc. Người căn dặn: “Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày  
càng hung mạnh, sẵn sang chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo  
vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.  
13  
4. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam  
XHCN.  
- Đảng ta là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt  
Nam.  
- Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo. Chủ  
tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng và chính phủ phải lãnh đạo toàn dân, ra sức củng  
cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh để  
thống nhất nước nhà, trên cơ sở độc klập và dân chủ bằng phương pháp hoà  
bình, góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới”  
- Người khẳng định: “Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và chính phủ,  
với sự đoàn kết nhất trí, long tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh  
của mình, sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân  
yêu chuộng hoà bình trên thế giới nhất là nhân dân các nước Á- Phi, nhân dân ta  
nhất định khắc pụuc được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ vẻ vang mà  
Đảng và chính phủdã đề ra”  
- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, ngày nay toàn  
Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng  
thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xả hội chủ  
nghĩa. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta  
cần thực hiện tốt một số nội dung chiến lược sau:  
+ Một là: Xây dựng tiềm lực toàn diện của đất nước, đặc biệt tiềm lực  
kinh tế, tạo ra thế và lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  
+ Hai là: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững  
mạnh, xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy,  
tinh nhuệ, từng bước hiện đại.  
+ Ba là: Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, chủ động đánh thắng  
địch trong mọi hoàn cảnh, tình huống chiến tranh.  
+ Bốn là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng côngnj sản Việt Nam đối với  
sự nghiệp quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc.  
KẾT LUẬN  
Học thuyết Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội,  
bảo vệ Tổ quốc XHCN mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc. Đó là cơ sở  
lý luận để Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối chiến lược để xây dựng nền  
QPTD, ANND, LLVTND và bảo vệ Tổ quốc XHCN.  
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí  
Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc XHCN vẫn còn nguyên giá trị.  
Nắm vững những nội dung cơ bản đó, vận dụng sáng tạo chỉ đạo xây dựng và  
bảo vệ Tổ quốc XHCN trong giai đoạn mới. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi  
luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của kẻ thù, bảo vệ, phát triển sáng tạo những nội  
dung trên trong điều kiện lịch sử mới.  
14  
Đội ngũ giảng viên Giáo dục Quốc phòng cần nghiên cứu nắm vững các  
nội dung trên, xây dựng niềm tin, đề cao trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm vụ khi  
được phân công giảng dạy môn GDQP. Đồng thời góp phần bảo vệ phát triển  
những quan điểm trên trong hoàn cảch công tác của mình.  
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU  
Câu 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất chiến tranh?  
Câu 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội?  
Câu 3. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa?  
Câu 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa?  
Câu 5. Quan điểm chỉ đạo và một số giải pháp cơ bản của Đảng ta về bảo vệ tổ  
quốc trong tình hình mới?  
Câu 6. Sự khác nhau của CLaudơvit và Lênin về bản chất của chiến tranh ?  
15  
pdf 15 trang Thùy Anh 24040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 2: Quan điểm cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh quân đội bảo vệ tổ quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_giao_duc_quoc_phong_va_an_ninh_bai_2_quan_diem_co.pdf