Bảo đảm pháp lý quyền con người trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
BẢO ĐẢM PHÁP LÝ QUYỀN CON NGƯỜI  
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
y Nguyễn Quang Thành(*)  
Tóm tắt  
Bài viết tập trung phân tích một số vấn đề có liên quan đến quyền con người, bảo đảm pháp lý  
quyền con người cũng như xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trên cơ sở  
đó, chỉ ra được mối liên hệ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo pháp lý cho việc thực  
hiện quyền con người, đồng thời đề xuất một số kiến nghị.  
Từ khóa: Quyền con người, nhà nước pháp quyền, đảm bảo pháp lý.  
1. Đặt vấn đề  
biểu: “Quyền con người là giá trị chung của mọi  
nền văn hóa, là người bạn của mọi quốc gia”. Tuy  
nhiên, quyền con người là một vấn đề mang tính  
phức tạp ngay từ cách đưa ra định nghĩa về nội  
hàm của nó. Bởi lẽ, không chỉ tồn tại dưới hình  
thức một thuật ngữ trong khoa học pháp lý mà nó  
còn được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều lĩnh vực  
khác như: chính trị học, triết học, văn hóa học, xã  
hội học… dưới những mức độ khác nhau. Chính  
vì thế, có rất nhiều khái niệm về quyền con người  
là một điều không khó hiểu.  
Ở bình diện quốc tế, khái niệm “quyền con  
người” thường được các học giả, nhà nghiên cứu  
xây dựng dựa trên định nghĩa của Văn phòng Cao  
ủy Liên Hiệp quốc về quyền con người (OHCHR),  
theo đó “quyền con người là những đảm bảo pháp  
lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các  
nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc  
làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép  
và tự do cơ bản của con người” [11, tr. 10]. Ngoài  
ra, trong quyển “A Basic Handbook for UN Staff”  
của OHCHR cũng đưa ra một khái niệm khác về  
quyền con người. Theo khái niệm này thì quyền  
con người được hiểu chung là những quyền thuộc  
về con người. Khái niệm quyền con người thể hiện  
ở việc mọi cá nhân con người đều có quyền hưởng  
những quyền của mình mà không có sự phân biệt  
về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn  
giáo, quan điểm chính trị, dân tộc hoặc nguồn gốc  
xã hội, tài sản, sự sinh ra hoặc những quy chế khác  
[10, tr. 2].  
Sau hơn 40 năm trở thành thành viên chính  
thức của Liên Hiệp quốc cùng với việc ký kết tham  
gia và thực hiện các công ước quốc tế về quyền  
con người, Việt Nam đã giành được nhiều thành  
tựu đáng kể trong vấn đề bảo vệ, thúc đẩy và phát  
triển quyền con người trên nhiều lĩnh vực. Tuy  
nhiên, mặc dù vậy, những khiếm khuyết trong quá  
trình vận dụng pháp luật để quản lý nhà nước và  
xã hội gây ảnh hưởng đến nhân quyền là không thể  
không có. Những năm qua, tình hình an ninh trật  
tự, an toàn xã hội diễn biến khá phức tạp với nhiều  
vụ án hình sự gây xôn xao dư luận, cùng với đó là  
những yếu kém trong quá trình hoạt động của một  
số cơ quan nhà nước gây ảnh hưởng tiêu cực đến  
đời sống và quyền lợi của nhân dân được đưa ra  
trước ánh sáng. Do vậy, với mục tiêu xây dựng nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,  
do Nhân dân, vì Nhân dân, nước ta cần phải tiếp  
tục xây dựng và thi hành nhiều chính sách, pháp  
luật thiết thực để đảm bảo pháp lý cho việc thực  
hiện quyền con người.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái lược về quyền con người - giá trị  
chung của nhân loại  
Quyền con người hay nhân quyền được cho  
là kết quả của quá trình đấu tranh gian khổ, lâu dài  
trong lịch sử vì sự tự do, lẽ công bằng và tiến bộ.  
Đồng thời, ý thức về quyền và thực hiện quyền con  
người đã gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội  
loài người và giải phóng con người qua các hình  
thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh  
giai cấp. Trong thông điệp nhân ngày Quyền con  
người thế giới năm 1977, Kofi Annan từng phát  
Ở Việt Nam, khái niệm “quyền con người”  
cũng đã được nhiều chuyên gia, cơ quan nghiên cứu  
nhằm đặt nền tảng bước đầu trong việc tìm hiểu về  
vấn đề này. Theo Nguyễn Đăng Dung và nhóm tác  
giả, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự  
(*) Trường Chính trị Đồng Tháp.  
112  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo khá rõ nét các tư tưởng, niềm tin, nhu cầu và khát  
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp vọng về công lý của con người thời cổ đại. Ngoài  
lý quốc tế [2, tr. 45-46]. Ngoài ra, tác giả Hoàng ra, nhiều văn bản pháp luật cổ khác cũng từng đề  
Thị Kim Quế có sự lý giải về bản chất của quyền cập đến nhân quyền như Bộ luật của vua Cyrus Đại  
con người khi cho rằng đó là những đặc quyền mà đế - người sáng lập ra nước Iran - ban hành vào  
do tự nhiên, tạo hóa sinh ra cho con người, là khả khoảng năm 576 - 529 trước Công nguyên ghi nhận  
năng hoạt động một cách có ý thức, từ chối hoặc các quyền về tự do tôn giáo, bình đẳng về chủng  
yêu cầu, giành lấy những gì đó, nhất là nhu cầu tự tộc, thả tự do cho các nô lệ.  
bảo vệ [16, tr. 19].  
Đến khi đế chế La Mã sụp đổ vào khoảng thế  
Từ những lý giải trên cho thấy mặc dù được kỷ thứ V, châu Âu trải qua thời kỳ Trung Cổ đen  
thể hiện dưới những hình thức câu chữ khác nhau tối, mọi sự phát triển trong xã hội đều bị hạn chế.  
nhưng tựu trung lại, quyền con người là những giá Quyền con người cũng bị bóp nghẹt dưới sự cai trị  
trị cơ bản, bẩm sinh và vốn có thuộc về mỗi người, của vương quyền phong kiến và thần quyền của  
dù họ mang hay không mang quốc tịch, thuộc về nhà thờ Thiên Chúa giáo. Dưới thời phong kiến,  
chủng tộc, màu da, giới tính hay ngôn ngữ nào. lý thuyết về tự do thống trị xã hội là lý thuyết hoàn  
Đây được xem là chuẩn mực chung được đại đa toàn duy tâm và có tính chất thần học. Tuy nhiên,  
số cộng đồng thế giới thừa nhận để bảo vệ nhân chính sự thống trị duy tâm và tàn bạo của chế độ  
phẩm, tạo điều kiện và môi trường phát triển thuận thống trị là động lực thúc đẩy cho sự ra đời của các  
lợi cho mỗi cá nhân được pháp luật quốc gia cũng văn kiện pháp lý nổi tiếng về quyền con người ở  
như quốc tế ghi nhận và bảo đảm.  
cuối thời kỳ này mà Đại Hiến chương Magna Carta  
Mặc dù Luật quốc tế về quyền con người bao được vua John (nước Anh) ban hành năm 1215 là  
gồm các văn kiện ràng buộc về mặt pháp lý và các điểm sáng tiêu biểu. Hiến chương đã ghi nhận một  
tuyên bố chính trị chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ XX số quyền con người như quyền sở hữu, quyền tự  
nhưng những tư tưởng, mầm mống hình thành nên do buôn bán, quyền được xét xử đúng đắn và được  
quyền con người đã nhen nhóm ngay từ thời kỳ cổ bình đẳng trước pháp luật. Đặc biệt, đây được xem  
đại. Điều này được thể hiện thông qua quan điểm là văn bản pháp luật đầu tiên hình thành quan niệm  
của các nhà triết học phương Tây như: Protagoras về giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền  
cho rằng Thượng đế tạo ra mọi người đều là người công dân thông qua quy phạm habeas corpus (luật  
tự do, không ai tự nhiên biến thành nô lệ, Socrate bảo thân) và due process of law (luật tôn trọng các  
chủ trương con người, hãy nhận thức chính mình, quyền hợp pháp của công dân). Tiếp theo đó, thời  
khẳng định vai trò của cá nhân và sự giải phóng kỳ Phục Hưng ở châu Âu được đánh giá là “buổi  
cá nhân. Trong khi đó, học thuyết chính trị Nho bình minh của nhân quyền” bởi sự phát triển mạnh  
giáo cũng đề cao vai trò của con người, đặc biệt mẽ và rộng rãi của các tư tưởng, học thuyết về  
chú trọng đến tính tập thể, cố kết của cộng đồng quyền con người. Thế kỷ XVII - XVIII, hàng loạt  
người trong xã hội. Khổng Tử cho rằng: “Thiên ý những khảo luận, bài nói lý giải những khía cạnh lý  
dân tâm”, Mạnh Tử từng nêu: “Dân vi quý, xã tắc luận cơ bản của quyền con người, trong đó phải kể  
thứ chi, quân vi khinh” hay Tuân Tử khẳng định đến hai trường phái học thuyết quyền tự nhiên và  
mối quan hệ giữa thiên tử và thần dân của đất nước quyền pháp lý [3, tr. 39-41]. Những tư tưởng triết  
mình thông qua hình ảnh: “Vua với dân như nước học về nhân quyền ở châu Âu của các học giả như  
với thuyền, nước chở thuyền nhưng nước cũng làm Thomas Hobbes, John Locke, Montesquieu, John  
đắm thuyền”. Bên cạnh các quan điểm của các nhà Stuart Mill,… sau này có sự chi phối nhất định đến  
hiền triết, giai đoạn này cũng đã bắt đầu xuất hiện quá trình đấu tranh cách mạng và tư tưởng lập pháp  
các văn bản pháp lý đầu tiên trong lịch sử nhân loại. về quyền con người không chỉ ở các quốc gia của  
Đặc biệt, tuy chỉ là những bộ luật sơ khai nhưng đã châu lục này mà còn trên toàn thế giới.  
có những ghi nhận đáng kể liên quan đến con người  
Phong trào khai sáng ở châu Âu từ giai đoạn  
và quyền con người trong thời kỳ này. Chẳng hạn, trước đã góp phần tạo ra động lực mạnh mẽ đến  
Bộ luật Hammurabi có thể xem là văn bản đề cập các cuộc cách mạng tư sản vào cuối thế kỷ XX  
113  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
dẫn đến sự nổi lên của chủ nghĩa tự do, hình thành ta thấy một bức tranh đa diện, đa sắc về nhân quyền;  
nền dân chủ hiện đại và chủ nghĩa tư bản. Cuộc tuy có những mảng màu sáng tối khác nhau nhưng  
cách mạng được xem là ngòi nổ cho giai đoạn này nhìn chung, nổi bật và trong sáng nhất chính là giá  
chính là việc mười ba thuộc địa Bắc Mỹ đấu tranh trị cốt lõi của nhân quyền: Tất cả các quyền con  
và tuyên bố giành độc lập trước thực dân Anh vào người dành cho tất cả mọi người.  
năm 1776; đồng thời, Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ 2.2. Bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện  
đã long trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra quyền con người  
đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không  
Nửa cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, nhân  
ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có loại đang đứng trước những vấn đề cấp bách mang  
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu tính toàn cầu như bảo vệ hòa bình và phát triển bền  
hạnh phúc”. Cũng trong giai đoạn này, nhân dân vững, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên,  
Pháp đã nổi dậy lật đổ chế độ phong kiến vào năm đấu tranh chống đói nghèo và lạc hậu, chống khủng  
1789, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình bố và nguy cơ chiến tranh hạt nhân… Tất cả những  
xây dựng dân chủ trên thế giới. Bản Tuyên ngôn vấn đề trên, suy cho cùng, đều gắn liền với quyền  
nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp đã con người, bởi lẽ việc giải quyết chúng là điều kiện  
thể hiện sự vận động, phát triển mạnh mẽ của tư thiết yếu đảm bảo đời sống bình thường cho mỗi  
tưởng nhân quyền từ những thời đại trước. Điều 1 cá nhân. Trong giáo trình nhân quyền (Droit de  
của Tuyên ngôn khẳng định: “Con người sinh ra L’Homme), J. Mourgont đã từng viết rằng tầm vóc  
được tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn vĩ đại của cách mạng chính là ở chỗ đã vượt qua sự  
được tự do, bình đẳng về quyền lợi”.  
nhìn nhận quyền công dân để vươn tới nhận biết giá  
Hậu quả tàn khốc của thế chiến thứ hai được trị cao quý của quyền con người; rằng dưới góc độ  
cho là cú hích lịch sử quyết định đến sự ra đời của quan hệ nhà nước với công dân thì con người liên  
luật nhân quyền quốc tế khi mà cả nhân loại chứng hệ với nhà nước bằng hệ thống quyền và nghĩa vụ,  
kiến sự tàn bạo, dã man của chiến tranh. Hơn bao còn dưới góc độ quyền con người thì nhà nước và  
giờ hết, toàn cầu đang mong chờ một tổ chức quốc xã hội cần có trách nhiệm quan tâm đến từng thành  
tế mang sứ mệnh giữ gìn hòa bình trên toàn thế viên xã hội, từng con người, kể cả con người “đang  
giới, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở cấp độ ở dưới đáy xã hội” [17, tr. 37].  
cao hơn. Ngày 25/4/1945, đại diện của 50 quốc gia  
Khi nghiên cứu về quyền con người nói chung  
trên thế giới tập hợp tại San Fransisco (Hoa Kỳ) để và quyền công dân nói riêng cho thấy, nếu như chỉ  
được ghi nhận trong pháp luật quốc gia đó mới là  
sự tồn tại quyền ở dạng tiềm năng, vì thế để các  
quyền này được thực thi và đi vào đời sống một  
cách hữu hiệu thì cần đến một hệ thống bảo đảm.  
Bởi lẽ, việc thực hiện quyền và bảo vệ quyền trên  
thực tế sẽ gặp phải không ít những chướng ngại  
mang tính chủ quan lẫn khách quan. Trong khoa  
học pháp lý, hệ thống bảo đảm thực hiện quyền và  
nghĩa vụ được phân chia thành hai loại:  
Một là, các bảo đảm chung, về bản chất các  
bảo đảm này không mang tính pháp lý nhưng lại  
có những ảnh hưởng nhất định đối với việc đảm  
bảo quyền con người, quyền công dân như: bảo  
đảm chính trị (thông qua các thiết chế đảng cầm  
quyền, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội...),  
bảo đảm kinh tế (thông qua các quan hệ kinh tế,  
lợi ích kinh tế, cơ cấu kinh tế...), bảo đảm xã hội  
(thông qua quan hệ giữa các giai tầng trong xã hội),  
thành lập tổ chức Liên Hiệp quốc, đồng thời thông  
qua Hiến chương vào ngày 24/10/1945 đánh dấu  
thêm một trang mới cho sự phát triển của nhân  
quyền quốc tế. Cùng với Hiến chương, Tuyên ngôn  
quốc tế về quyền con người năm 1948 cũng như  
hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính  
trị và kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 đã chính  
thức khai sinh ra luật nhân quyền quốc tế, đặt nền  
móng cho việc tạo dựng nền văn hóa quyền con  
người trên bình diện quốc tế.  
Như vậy, trải qua một chặng dài của những  
thăng trầm lịch sử, quyền con người vẫn luôn là  
những giá trị cao đẹp, kết tinh từ các hạt ngọc quý  
của mọi nền văn hóa yêu hòa bình và tiến bộ trên  
thế giới. Qua quá trình phân tích, sàng lọc những  
sự kiện, văn kiện được xem là một số cột mốc quan  
trọng của sự phát triển tư tưởng, học thuyết, quan  
niệm về quyền con người trên thế giới đã cho chúng  
114  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
đảm bảo tư tưởng (thông qua hệ thống quan điểm, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm trong hiến pháp  
quan niệm, tư tưởng, tập quán, truyền thống quốc (Điều 19, 20) được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân  
gia về quyền con người, quyền công dân trong xã sự năm 2015 tại các Điều 33 và 34 [13] hay quyền  
hội). Nhìn chung, các bảo đảm này tạo môi trường được biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu  
cần thiết và mang tính nền tảng cho sự vận hành ý dân (Điều 29) được Luật Trưng cầu ý dân năm  
cuả loại đảm bảo thứ hai. 2015 [15] thể hiện thành các nguyên tắc, trình tự,  
Hai là, mặc dù để bảo đảm thực hiện quyền thủ tục cụ thể...  
con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố kể trên  
Khi nghiên cứu về bảo đảm pháp lý quyền con  
nhưng nhân tố có sự ảnh hưởng trực tiếp đến việc người dưới bình diện pháp luật quốc gia, có thể  
hiện thực hóa các quyền tự do của con người lại chia thành hai cấp độ, bao gồm cấp độ khái quát  
là những đảm bảo về mặt pháp lý (thông qua các và cấp độ cụ thể:  
quy định về trình tự, thủ tục, chế tài...). Bảo đảm  
Ở cấp độ khái quát, đảm bảo pháp lý thực hiện  
pháp lý được xây dựng dựa vào nền tảng của các quyền con người được xây dựng dựa trên tư tưởng  
điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của về hình thái chính trị, pháp lý của giai cấp thống trị  
một quốc gia, một dân tộc; ngược lại, các yếu tố trong xã hội, đặc biệt phải kể đến tư tưởng vì con  
kinh tế, chính trị khi ổn định sẽ góp phần tạo dựng người, giải phóng con người... Chẳng hạn, trong  
một trật tự pháp lý, một môi trường pháp luật hay thời kỳ phong kiến, thuyết “tam tòng, tứ đức” trong  
ở mức độ cao hơn là xây dựng được một nền văn Nho giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến vai trò, vị  
hóa pháp lý mang nét đặc trưng của một đất nước, trí và cuộc sống của người phụ nữ trong gia đình  
một khu vực, một cộng đồng...  
cũng như xã hội. Cùng với đó, tư tưởng “trọng  
Các bảo đảm pháp lý quyền con người được nam, khinh nữ”, quan niệm “nhất nam viết hữu,  
ghi nhận ở nhiều cấp độ khác nhau. Ở bình diện thập nữ viết vô” đã làm mất đi sự tự do, bình đẳng,  
quốc tế, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người tiếng nói và khát vọng vươn lên của người phụ nữ.  
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945  
đã mở ra bước ngoặt lớn, đưa dân tộc Việt Nam  
bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân  
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt  
Nam nói chung và người phụ nữ nói riêng từ thân  
phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước,  
làm chủ vận mệnh của mình. Hiến pháp Việt Nam  
năm 1946 đã trịnh trọng khẳng định tại Điều thứ 9:  
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương  
diện” đã cho thấy sự thay đổi trong tư duy, nhận  
thức của giai cấp cầm quyền có ảnh hưởng sâu sắc  
đến quá trình ghi nhận các đảm bảo pháp lý đối với  
quyền con người.  
Với cấp độ cụ thể, đảm bảo pháp lý thực hiện  
quyền con người bao gồm nhiều hoạt động góp  
phần đưa quyền con người được thực thi trên phạm  
vi quốc gia, có thể kể đến hoạt động xây dựng pháp  
luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp  
luật; tổ chức xây dựng và thực hiện những chính  
sách đối với nhóm người yếu thế trong xã hội như  
phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người đồng tính,  
người chuyển đổi giới tính; ý thức pháp luật của xã  
hội trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con  
người... Trong xã hội hiện đại, quyền con người đã  
được Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thông qua vào  
ngày 10/12/1948 (UDHR) được xem là cam kết  
pháp lý cao nhất đối với quyền con người thông  
qua việc xác lập nguyên tắc bình đẳng về quyền,  
quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã  
hội, văn hóa của mọi người. Điều 1 UDHR khẳng  
định: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và  
bình đẳng về nhân phẩm và các quyền” [9]. Sự ra  
đời của UDHR đã chính thức xây dựng được chuẩn  
mực tối thiểu và chung nhất về các nguyên tắc mang  
giá trị phổ biến của quyền con người [7, tr. 5]. Ở  
bình diện khu vực, Điều 2 Hiến chương Hiệp hội  
các quốc gia Đông Nam Á khẳng định nguyên tắc:  
“Tôn trọng các quyền tự do cơ bản, thúc đẩy và  
bảo vệ nhân quyền, công bằng xã hội” [1]. Đây là  
một văn kiện có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động  
bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực.  
Ở phạm vi quốc gia, Hiến pháp Việt Nam năm  
2013 [12] chính là sự ghi nhận các đảm bảo pháp  
lý đối với quyền con người một cách hệ thống và  
có giá trị pháp lý tối cao. Đây chính là cơ sở quan  
trọng để cụ thể hóa quyền con người trong các  
quy định của từng ngành luật cụ thể. Chẳng hạn,  
quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể,  
115  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
mở rộng trên nhiều lĩnh vực và có những lưu tâm phạm các lợi ích hợp pháp của công dân, chống lại  
đáng kể đối với quyền của một nhóm người đặc những thế lực đen tối xem thường phẩm giá, sự tự  
thù trong xã hội. Đối với nhóm người đồng tính, do, dân chủ và bình đẳng của con người [18, tr. 7-8].  
người chuyển đổi giới tính, pháp luật Việt Nam đã  
Ở phương Đông, những quan điểm khởi  
có những bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận và nguyên về nhà nước pháp quyền được thể hiện  
bảo vệ quyền. Cụ thể, khoản 4 Điều 18 Luật Thi trong tư tưởng chính trị - pháp lý khá đa dạng và  
hành tạm giam, tạm giữ năm 2015 nêu rõ: “Người phong phú ở thời kỳ cổ đại, được ghi nhận trong  
bị tạm giữ, người bị tạm giam sau đây có thể được hệ thống các quan điểm, cách thức trị nước an  
bố trí giam giữ ở buồng riêng: a) Người đồng tính, dân. Đặc biệt, trường phái Pháp gia với những đại  
người chuyển giới...” [14].  
biểu như Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi Tử  
Mặc dù được phân định thành hai cấp độ như đã xây dựng nhiều quan điểm về vai trò của pháp  
đã phân tích nhưng chúng không hoàn toàn tách rời luật trong quản lý xã hội. Ví dụ, Hàn Phi Tử xem  
nhau mà ngược lại, góp phần bổ sung, hoàn thiện pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất  
nhau để tạo thành một hệ thống đảm bảo pháp lý nước, quản lý xã hội, thời thế thay đổi thì pháp  
cho việc thực hiện quyền. Như vậy, có thể thấy, bảo luật cũng phải thay đổi. Thưởng phạt phân minh  
đảm pháp lý thực hiện quyền con người là điều kiện, phải trên cơ sở pháp luật, nhà vua mặc dù được  
môi trường pháp lý thuận lợi do pháp luật tạo ra dựa quan niệm là Thiên tử (con trời) cũng phải phục  
trên nền tảng là hệ tư tưởng chính trị - pháp lý của tùng theo pháp luật. Phái pháp gia kêu gọi “dập  
mỗi quốc gia để từng cá nhân thực sự hưởng được tắt văn chương đi và làm sáng tỏ pháp độ lên, lấp  
các quyền và sử dụng các quyền đấy một cách đúng hết đường lợi riêng và chuyên vào việc chung”.  
đắn. Bảo đảm pháp lý có nội hàm rất rộng, nội dung Ở phương Tây, mầm mống tư tưởng pháp quyền  
của nó bao quát gần như toàn bộ đời sống pháp luật lúc bấy giờ là chống lại thuyết “đặc miễn trách  
trong nhà nước và xã hội. Trong đó, không chỉ bao nhiệm của nhà vua”, chống lại sự chuyên quyền,  
gồm các yếu tố như quy định pháp luật về quyền và độc đoán thông qua tư tưởng của các đại diện như  
nghĩa vụ, trình tự và thủ tục thực hiện các quyền và Solon, Heraclite, Socrate hay Platon…  
nghĩa vụ đó... mà còn phải bổ sung thêm nhiều thành  
Trải qua thời kỳ trung đại đầy biến cố và  
tố cấu thành khác như tư tưởng chính trị, pháp lý, thăng trầm do sự thống trị của thần học, tư tưởng  
cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, hoạt động tuyên về nhà nước pháp quyền thực sự có bước phát triển  
truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật,… mới với kết quả thắng lợi của cuộc cách mạng  
[6, tr. 25]. Từ đây, có thể định nghĩa một cách khái dân chủ tư sản, nhằm chống lại chế độ phong  
quát, “bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người kiến chuyên chế, độc tài. Các quan điểm về nhà  
là toàn bộ những tiền đề, điều kiện thuận lợi về tư nước pháp quyền thời kỳ cổ đại bắt đầu được khôi  
tưởng chính trị - pháp lý, pháp luật thực định, tổ phục, nâng cao và phát triển thành một trào lưu  
chức và hoạt động thực tiễn của bộ máy nhà nước tư tưởng, một học thuyết chính trị pháp lý và triết  
nói chung, của cơ quan nhà nước chuyên trách các học trong thời kỳ cách mạng tư sản. Xuyên suốt  
vấn đề liên quan đến nhân quyền nói riêng, nhằm thời kỳ cận đại, học thuyết nhà nước pháp quyền  
bảo đảm cho mỗi cá nhân được hưởng các quyền tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện qua các giai  
con người một cách thực sự và sử dụng các quyền đoạn lịch sử khác nhau mà nội dung cơ bản nhất  
đó một cách đúng đắn”. là mối quan hệ giữa nhà nước - pháp luật - công  
2.3. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước dân, trong đó pháp luật giữ vị trí trung tâm chi  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
phối nhà nước và công dân.  
Nhà nước pháp quyền là một trong những giá  
Ngày nay, học thuyết về nhà nước pháp quyền  
trị quý báu và thành quả đấu tranh lâu dài của nhân tiếp tục được nhiều quốc gia trên thế giới kế thừa,  
loại, là xu thế của thế giới đương đại. Tư tưởng về bổ sung và phát triển phù hợp với màu sắc chính trị,  
nhà nước pháp quyền đã xuất hiện ngay từ thời cổ đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội ở từng đất nước.  
đại vì mục tiêu xác lập những cách thức cầm quyền Nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền khá  
tốt cho người dân cũng như chống sự lạm quyền, vi rộng và được nghiên cứu, đánh giá dưới nhiều bình  
116  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
diện khác nhau, do vậy có nhiều định nghĩa về nhà Nguyễn Ái Quốc còn nhắc đến một số quyền tự do  
nước pháp quyền cũng như đặc trưng của nó là điều cơ bản như: tự do báo chí và tự do ngôn luận; tự  
không khó hiểu. Tuy nhiên, trong một chừng mực do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài  
nào đó, đại đa số nhà nghiên cứu đều thống nhất và tự do xuất dương; tự do học tập... Những điều  
một số tiêu chí sau về nhà nước pháp quyền, đó là: này đã cho thấy ở Hồ Chí Minh đã hình thành một  
(i) Nhà nước pháp quyền không phải là một quan điểm hoàn chỉnh về đòi hỏi quản lý xã hội  
kiểu nhà nước gắn liền với một giai cấp nhất định bằng công cụ pháp luật và đảm bảo được các quyền  
trong lịch sử, mà đó là một hiện tượng chính trị - tự do, dân chủ cho nhân dân trong một nhà nước  
pháp lý, là cách thức tổ chức và vận hành quyền thượng tôn pháp luật.  
lực chính trị, bảo đảm cho mọi tổ chức, hoạt động  
của nhà nước đều tuân theo quy định của pháp luật, thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa  
thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật. ra đời thì những ý tưởng về xây dựng nhà nước  
Đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945  
(ii) Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật do pháp quyền từng bước được hiện thực hóa. Ngày  
nhà nước đặt ra nhưng nhà nước cũng phải chịu 03/9/1945, Chính phủ lâm thời đã họp phiên đầu  
sự điều chỉnh của pháp luật, trong trường hợp này tiên, thảo luận và đề ra sáu vấn đề cấp bách của cách  
pháp luật phải thực sự trở thành công cụ để kiểm mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Một trong số đó là tổ  
soát và giới hạn quyền lực nhà nước.  
chức sớm cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông  
(iii) Nhà nước pháp quyền là nhà nước xây đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ. Người  
dựng được một hệ thống pháp luật hoàn thiện, kịp nhận định: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ  
thời phản ánh được xu thế vận động và phát triển chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không  
của đời sống, phù hợp với lẽ công bằng, nhân đạo kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến  
và thể hiện được những phẩm giá cao quý của con pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do  
người, có các biện pháp nhằm đảm bảo về mọi dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.  
mặt đối với các quyền con người, quyền công dân Sau khi cuộc Tổng tuyển cử tự do được diễn ra,  
[8, tr. 59].  
Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập,  
Như vậy, có thể thấy rằng việc xây dựng nhà tại Kỳ họp thứ hai (ngày 09/11/1946), Quốc hội đã  
nước pháp quyền có mối quan hệ mật thiết với đảm biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước  
bảo pháp lý cho việc thực hiện quyền con người Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong hoàn cảnh lịch  
nói chung và quyền công dân nói riêng. Nhà nước sử đầy khó khăn và khắc nghiệt, quan hệ mất - còn  
pháp quyền với hệ thống pháp luật hoàn thiện và của chính quyền nhân dân non trẻ, giặc đói, giặc  
cơ chế thực thi pháp luật phù hợp là điều kiện tiền dốt và giặc ngoại xâm tấn công từ mọi phía, Hiến  
đề để hiện thực hóa quyền con người. Ngược lại, pháp năm 1946 đã trở thành một công cụ đặc biệt  
quyền và tự do dân chủ của con người được mở quan trọng và có hiệu lực nhằm bảo vệ nền độc  
rộng, đời sống trật tự và an toàn xã hội được ổn lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng cũng  
định chính là nền tảng của một nhà nước phát triển, như thực hiện quyền lực nhân dân, là cơ sở vững  
thịnh vượng trong tương lai.  
chắc nhằm ghi nhận và thực hiện quyền con người,  
2.4. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội quyền công dân ở một quốc gia độc lập. Mặc dù  
chủ nghĩa Việt Nam gắn liền với đảm bảo pháp bản Hiến pháp chỉ có 70 điều nhưng đã dành cho  
lý quyền con người  
việc quy định quyền và nghĩa vụ của công dân  
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đến 18 điều (từ Điều thứ 4 đến Điều thứ 21), tức  
khởi xướng những quan điểm về Nhà nước pháp là chiếm hơn một phần tư số điều trong văn bản  
quyền của dân, do dân, vì dân. Ngay từ năm 1919, có giá trị pháp lý cao nhất này. Lần đầu tiên sau  
trong “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi những biến cố lịch sử, người dân Việt Nam mới có  
Hội nghị Versailles, Người đã yêu cầu phải cải cách thể dõng dạc khẳng định: “Tất cả quyền binh trong  
nền pháp lý ở Đông Dương, “thay chế độ ra các nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không  
sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”. Cùng với phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,  
nội dung quan trọng trên, trong bản yêu sách này tôn giáo”. (Điều 1).  
117  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
Đặc biệt, vào năm 1994, tại Hội nghị đại biểu của con người, của công dân. Trong thế giới luôn  
toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, lần đầu tiên Đảng vận động và biến đổi không ngừng như hiện nay,  
ta chính thức sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp tình hình trong nước và quốc tế vừa có những cơ  
quyền”. Trong văn kiện của Hội nghị này có đề ra hội nhưng cũng không phải không có thách thức,  
nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam do đó, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân như sau: chủ nghĩa Việt Nam gắn với đảm bảo pháp lý cho  
“Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà thực hiện quyền con người thiết nghĩ cần được tiến  
nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của hành đồng bộ một số giải pháp sau:  
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, quản lý mọi  
Một là, xây dựng hoàn thiện cơ sở pháp lý đảm  
mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước bảo quyền con người. Dựa trên nền tảng Hiến pháp  
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [4]. năm 2013, văn kiện pháp lý có giá trị tối cao trong  
Cùng với việc ghi nhận về quan điểm tiếp tục xây hệ thống pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền cần  
dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, văn kiện tiếp tục đẩy mạnh xây dựng ban hành các văn bản  
cũng đã nhấn mạnh đến việc thực hiện dân chủ xã quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định  
hội chủ nghĩa, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ trong Hiến pháp về các quyền con người, quyền  
của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời, tiến  
cũng là bản chất tốt đẹp của nhà nước ta, bảo về hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định không  
quyền con người, các quyền cơ bản của công dân còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã  
đã ghi trong Hiến pháp như quyền sở hữu, quyền hội của đất nước. Trong những năm qua, để thi  
sử dụng tư liệu sản xuất, quyền tự do kinh doanh hành Hiến pháp năm 2013, hàng loạt các Luật, Bộ  
hợp pháp; quyền được tự do thảo luận, tranh luận, luật được rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành  
phát biểu các ý kiến nhằm xây dựng đất nước...  
mới nhằm cụ thể hóa các quy định về quyền con  
Trải qua những bước phát triển nhất định ở người trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã  
các kỳ đại hội Đảng trước đó, Đại hội đại biểu toàn hội như: Luật Đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân  
quốc lần thứ XII (2016), Đảng ta đã có những bổ và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015,  
sung, phát triển lý luận, làm sâu sắc thêm những Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm  
quan điểm về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 2017), Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Trẻ  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các em năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,  
văn kiện trước đó, đáp ứng đòi hỏi của tình hình Luật Báo chí năm 2016... Thời gian tới, các nhà  
thực tiễn đất nước thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội lập pháp cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành các  
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định văn bản quy định cụ thể hơn về quyền con người  
phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới là cùng với đã được ghi nhận như quyền biểu tình, quyền của  
việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp người chuyển đổi giới tính (chỉ mới được ghi nhận  
quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng chưa  
vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị thì cần có hướng dẫn cụ thể)...  
phải đẩy mạnh công tác bảo vệ pháp luật, công lý,  
Hai là, cần tiếp tục tuyên truyền, giáo dục  
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân bằng các  
hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi hình thức đa dạng, phong phú và thu hút. Mặc dù  
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân [5]. chúng ta đã có một hệ thống pháp luật về quyền  
Như vậy, có thể nhận thấy, việc xây dựng và con người nhưng nếu như các quy định ấy không  
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đi vào cuộc sống, hay nói cách khác, người dân  
Việt Nam được tiến hành song song, đồng thời không có thái độ và kỹ năng để xây dựng một xã  
cùng với việc kiến tạo một hệ thống đảm bảo pháp hội mà trong đó mọi người đều có được hiểu biết  
lý cho việc thực hiện quyền con người ở nước ta. nhất định và vận dụng thành thạo những tiêu chuẩn  
Điều này cho thấy, xây dựng Nhà nước pháp quyền luật pháp về nhân quyền thì pháp luật cũng chỉ là  
là điều kiện cần thiết, mang tính nền tảng để góp những con chữ vô nghĩa. Đặc biệt, cần phải quán  
phần thúc đẩy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp triệt và hiện thực hóa hai nguyên tắc pháp luật cơ  
118  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
bản về đảm bảo quyền con người, đó là (i) cá nhân và phát huy giá trị các quyền con người thiết nghĩ  
được làm tất cả trừ những điều pháp luật cấm và là một trong những nội dung trọng tâm và cần thiết  
(ii) cơ quan, cán bộ nhà nước chỉ được làm những mà Đảng và Nhà nước cần thực hiện. Trong đó,  
gì pháp luật cho phép.  
cần có những chính sách thiết thực nhằm cải thiện  
Ba là, xây dựng và thực hiện các chính sách đời sống nhân dân trên tất cả các mặt, đặc biệt là  
phù hợp đối với nhóm người yếu thế trong xã hội. đồng bào ở vùng kinh tế khó khăn, biên cương và  
Mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền chính là hải đảo xa xôi; ngoài ra, nghiên cứu và hoàn thiện  
tạo dựng một tổ chức nhà nước có trách nhiệm tôn vấn đề đảm bảo pháp lý về quyền con người thông  
trọng, bảo vệ, bảo đảm các phẩm giá cao quý của qua hệ thống pháp luật quốc gia cũng được xem là  
con người. Do vậy, đối với những nhóm người yếu hoạt động cần hướng đến trong các năm tiếp theo  
thế trong xã hội như phụ nữ, trẻ em, người khuyết để mọi người có thể thụ hưởng quyền của mình  
tật, người dân tộc thiểu số, người đồng tính và một cách hợp lý và hợp pháp. Tác giả cho rằng, để  
chuyển giới... họ cần có những sự hỗ trợ, quan tâm quyền con người thực sự là quyền của mọi người,  
đặc biệt hơn để có điều kiện phát triển với những cần phải có sự vận hành đồng bộ của hệ thống cơ  
người khác trong xã hội.  
quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội.  
Bốn là, cần phải từng bước hình thành cơ quan Trong đó, nhấn mạnh đến việc tiếp tục hoàn thiện  
nhân quyền quốc gia. Bảo vệ, phát triển nhân quyền và luật hóa các quyền hiến định về con người đã  
là một yêu cầu khách quan để đảm bảo sự tồn tại và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 trên cơ  
phát triển toàn diện của con người. Và để làm được sở kế thừa, phát triển những quy định hiện hành.  
điều đó cần phải có một cơ quan với chức năng và Song song đó, xây dựng và phát huy được vai trò  
nhiệm vụ thống nhất, toàn diện đảm đương. Với chủ động, tích cực của các cơ quan nhà nước; thiết  
chức năng và nhiệm vụ do luật định, cơ quan nhân lập một nền hành chính tinh gọn, tận tụy phục vụ  
quyền quốc gia sẽ là một thiết chế hữu ích giúp nhà vì lợi ích của nhân dân; tiếp tục hoàn thiện tổ chức  
nước giải quyết được những khó khăn, vướng mắc và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong thời  
thông qua việc tư vấn, trợ giúp độc lập, khách quan gian sắp tới để hạn chế đến mức thấp nhất những  
các vấn đề liên quan đến nhân quyền.  
3. Kết luận  
vụ án oan, sai ảnh hưởng đến quyền và tự do của  
mọi người. Qua những phân tích, đánh giá về đảm  
Trong công cuộc đổi mới đất nước với mục bảo pháp lý thực hiện quyền con người trong nhiều  
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn năm qua cũng như đưa ra một số đề xuất cần thiết  
minh”, bên cạnh nhu cầu giữ vững ổn định chính cho vấn đề này, tác giả hy vọng rằng trong tương lai  
trị trong nước, tập trung các nguồn tiềm lực để phát “quyền con người thực sự là nền tảng cho sự hiện  
triển kinh tế - xã hội thì vấn đề nâng cao, bảo đảm hữu và đồng tồn của nhân loại” (Kofi-Annan)./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. ASEAN (2007), Hiến chương Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.  
[2]. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Tuấn  
(2013), ABC về Hiến pháp (83 câu Hỏi - Đáp), NXB Tri Thức, Hà Nội.  
[3]. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Giáo trình Lý  
luận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII.  
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.  
[6]. Nguyễn Văn Động (2004), “Các quyền hiến định của công dân và bảo đảm pháp lý ở nước ta”,  
Luật học, số 1, tr. 23-26.  
[7]. Tường Duy Kiên, “Nền tảng thúc đẩy, bảo vệ quyền con người”, Nhân quyền Việt Nam, số 12,  
2018, tr. 5.  
[8]. Vũ Trọng Lâm (2017), Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.  
119  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 37 (04-2019)  
[9]. Liên Hợp quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.  
[10]. OHCHR (2000), A Basic Handbook for UN Staff, New York and Geneva.  
[11]. OHCHR (2006), Human Rights Training - A manual on Human Rights Training Methodology  
(Professional Training Series No.6), New York and Geneva.  
[12]. Quốc hội (2013), Hiến pháp Việt Nam.  
[13]. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự.  
[14]. Quốc hội (2015), Luật Thi hành tạm giam, tạm giữ.  
[15]. Quốc hội (2015), Luật Trưng cầu ý dân.  
[16]. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Quyền con người, đạo đức và pháp luật”, Nhà nước và pháp  
luật, số 3, tr. 19-24.  
[17]. Chu Hồng Thanh (2012), “Hiến pháp với việc xác lập, bảo đảm quyền con người, quyền công  
dân”, Luật học, số 1, tr. 36-39.  
[18]. Đào Trí Úc, Trương Thị Hồng Hà (Đồng chủ biên) (2018), Hoàn thiện hệ thống pháp luật  
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị  
Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
LEGALLY PROTECTING HUMAN RIGHTS IN THE LEGAL STATE OF  
VIET NAM SOCIALIST REPUBLIC  
Summary  
The paper focuses on analyzing theoretical issues related to human rights, legal protection of  
human rights as well as establishing the legal state in Vietnam Socialist Republic. Thereby, it points out  
relationships in establishing the legal state and legally protecting for human rights implementation, and  
makes relevant recommendations.  
Keywords: Human rights, legal state, legal protection.  
Ngày nhận bài: 26/11/2018; Ngày nhận lại: 14/3/2019; Ngày duyệt đăng: 28/3/2019.  
120  
pdf 9 trang Thùy Anh 19580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm pháp lý quyền con người trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_phap_ly_quyen_con_nguoi_trong_nha_nuoc_phap_quyen_xa.pdf