Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Thanh Hóa - Nghiên cứu dưới góc độ của doanh nghiệp

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ  
TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ THANH HÓA - NGHIÊN CỨU  
DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA DOANH NGHIỆP  
Nguyễn Cẩm Nhung1, Lê Minh Tuấn2  
TÓM TẮT  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả thực hiện khảo sát 250 doanh nghiệp nhỏ và  
vừa thuộc quản lý của Cục thuế Thanh Hóa. Kết quả hồi quy bội OLS cho thấy các nhân  
tố (1) Hình thức cưỡng chế thuế, (2) Tính minh bạch thông tin, (3) Công tác thanh kiểm  
tra, (4) Phương tiện cơ sở vật chất, (5) Công tác tuyên truyền hỗ trợ có mức độ ảnh  
hưởng giảm dần đến chất lượng quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Thanh Hóa. Sự dễ dàng  
sử dụng hệ thống thuế online và cán bộ công chức thuế không ảnh hưởng tới chất lượng  
quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc đề  
xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý thuế tại Cục thuế Thanh Hóa.  
Từ khóa: Chất lượng quản lý thuế, Thuế giá trị gia tăng, Cục thuế Thanh Hóa.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Luật thuế Giá trị gia tăng đã được quốc hội khóa IX thông qua và có hiệu lực thi  
hành từ ngày 01/01/1999. Sau hơn 20 năm thực hiện, trải qua nhiều lần điều chỉnh, sửa  
đổi và bổ sung, Luật thuế giá trị gia tăng đã phát huy tác dụng tích cực trong khuyến  
khích phát triển sản xuất kinh doanh. Ngày 26 tháng 11 năm 2006 luật Quản lý thuế được  
Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2007, cho đến nay  
đã có nhiều văn bản thay đổi và ngày 13 tháng 6 năm 2019 Quốc hội đã ban hành luật  
Quản lý thuế mới nhất có hiệu lực 01 tháng 07 năm 2020. Việc triển khai quản lý thuế giá  
trị gia tăng ở Việt Nam nói chung và ở các địa phương nói riêng luôn có những khó khăn,  
vướng mắc và những tồn tại hạn chế nhất định. Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu về lĩnh  
vực quản lý thuế GTGT luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.  
Có nhiều công trình nghiên cứu về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia  
tăng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu  
giải pháp hoàn thiện hoặc nâng cao công tác quản lý thuế giá trị gia tăng dựa trên đánh  
giá thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng của đơn vị. Nghiên cứu về chất lượng quản lý  
thuế giá trị gia tăng đã được một số công trình đề cập đến như: nghiên cứu của Nguyễn  
Thị Thùy Dung (2013), Mai Thị Lan Hương và Lê Đình Hải (2018). Các công trình này  
được sử dụng để tham khảo cho cơ sở lý thuyết về chất lượng quản lý thuế giá trị gia tăng  
đối với nghiên cứu này. Tuy nhiên, các nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh  
khác nhau và nghiên cứu về hoạt động quản lý thuế nói chung nên đối tượng khảo sát bao  
gồm cả doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể.  
1 Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hồng Đức; nguyencamnhung@hdu.edu.vn  
2 Học viên cao học QTKD.K12B, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hồng Đức  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Trong những năm gần đây, Cục thuế Thanh Hóa đã có những giải pháp như phối  
hợp tích cực trong việc đôn đốc thu, chống thất thu thuế, đẩy mạnh thủ tục hành chính,...  
Tuy nhiên, do địa bàn quản lý rộng, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại  
hóa công tác quản lý thuế,... Bên cạnh đó, do tính đặc thù hoạt động quản lý thuế GTGT  
phát sinh nhiều phức tạp dẫn đến khó tính toán lượng thuế phải thu, nguồn thu không ổn  
định, hoặc rất khó nuôi dưỡng nguồn thu. Nếu không tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quản lý  
thuế GTGT, có thể dẫn đến thất thu. Tại Cục thuế Thanh Hóa, đã có những công trình  
nghiên cứu về quản lý thuế GTGT. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố ảnh  
hưởng đến chất lượng quản lý thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Thanh Hóa. Trên cơ sở đó,  
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Thanh  
Hóa có ý nghĩa rất quan trọng. Các phát hiện từ nghiên cứu này có thể giúp Cục thuế  
Thanh Hóa có những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng quản lý thuế GTGT nói  
riêng và chất lượng quản lý thuế nói chung. Trên cơ sở kế thừa và phát triển nghiên cứu  
của Mai Thị Lan Hương và Lê Đình Hải (2018), nghiên cứu cho biết những nhân tố nào  
ảnh hưởng tới chất lượng quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Thanh Hóa, mức độ ảnh  
hưởng của các nhân tố như thế nào. Từ đó gợi ý giải pháp nhằm nâng cao chất lượng  
công tác quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Thanh Hóa.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
Chất lượng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng được định nghĩa là những đánh  
giá tổng quát của các đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng (doanh nghiệp) về mức độ hài  
lòng và tin cậy vào quyết định thuộc quyền lợi và nghĩa vụ của mình do Cục thuế ban  
hành [3].  
Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong  
đợi của khách hàng [12]. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ công được hiểu là mức độ cảm  
nhận của người dân về các thủ tục hành chính nhà nước và cách thức hướng dẫn, tiếp  
nhận, giải quyết công việc của các công chức nhà nước.  
Theo Tse & Wilton (1988), sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng để đánh giá  
việc cảm nhận sự khác biệt giữa sự mong đợi, kỳ vọng và thực hiện dịch vụ. Đối với khu  
vực công, Bovaird & Loffler (2012) cho rằng, quản trị công chất lượng cao không chỉ làm  
gia tăng sự hài lòng khách hàng với dịch vụ công mà còn xây dựng sự trung thực trong  
quản trị công thông qua quá trình minh bạch, trách nhiệm giải trình và thông qua đối thoại  
dân chủ. Trong nền dịch vụ hành chính thuế, người nộp thuế là khách hàng và cơ quan thuế  
là nhà cung cấp. Sự hài lòng của người nộp thuế là cảm nhận về kết quả nhận được từ các  
dịch vụ hành chính thuế do cơ quan thuế cung cấp so với nhu cầu của họ.  
Parasuraman và cộng sự (1988), Cronin & Taylor (1992) cho rằng, cảm nhận chất  
lượng dịch vụ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy  
là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch  
vụ [10]. Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng, giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng  
của khách hàng tồn tại một số khác biệt, mà điểm khác biệt cơ bản là vấn đề “nhân quả”.  
Do vậy, khi đo lường chất lượng dịch vụ luôn gắn với đo lường sự hài lòng.  
97  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Trên cơ sở các nghiên cứu trước đây và kế thừa nghiên cứu của Mai Thị Lan  
Hương và Lê Đình Hải (2018) tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng  
đến chất lượng quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế Thanh Hóa bao gồm các nhân tố  
đã được nghiên cứu trong mô hình và đề xuất thêm yếu tố tính minh bạch của thông tin  
(trong nghiên cứu của Dabla - Norris và cộng sự, 2017) và tính dễ dàng sử dụng của hệ  
thống thuế online.  
Lý do đề xuất thêm nhân tố tính minh bạch thông tin là do thực tế hiện nay vẫn còn  
hiện trạng người nộp thuế có tư tưởng hối lộ để có thể giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cũng  
như không tuân thủ các quyết định về thuế. Mặt khác nghiên cứu của Dabla - Norris và  
cộng sự (2017) cho thấy tính minh bạch thông tin là một trong những yếu tố góp phần  
quản lý thuế hiệu quả. Chính vì vậy, trong mô hình nghiên cứu này, tác giả kiểm định  
xem có mối liên hệ giữa tính minh bạch thông tin với chất lượng quản lý thuế hay không,  
mức độ ảnh hưởng như thế nào.  
Lý do đề xuất thêm nhân tố sự dễ dàng sử dụng hệ thống thuế online vì dịch vụ  
thuế online là một nghiệp vụ mới triển khai ở Việt Nam. Việc triển khai đăng ký và kê  
khai thuế online vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Qua tìm hiểu sơ bộ một số doanh nghiệp  
nộp thuế cho thấy rằng việc sử dụng phần mềm vẫn còn những lỗi gặp phải. Do vậy,  
trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả đánh giá xem yếu tố sự dễ dàng sử dụng hệ  
thống online có ảnh hưởng đến chất lượng quản lý thuế hay không.  
Cục Thuế tỉnh Thanh Hoá là đơn vị trực thuộc Tổng Cục Thuế, sau 30 năm xây  
dựng và trưởng thành tính đến ngày 01/01/2020 Cục Thuế tỉnh Thanh Hoá có tổng số  
1.342 công chức, trong đó trình độ trên đại học 217 công chức, đại học 889 công chức, cao  
đẳng 16 công chức, trung cấp 204, sơ cấp 16 công chức. Hiện nay Cục Thuế tỉnh Thanh  
Hoá đang hoạt động theo mô hình 2 cấp, cấp tỉnh là Cục Thuế gồm 12 phòng chuyên môn,  
cấp huyện, thị xã, thành phố gồm 12 Chi Cục Thuế khu vực trực thuộc).  
Mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Hoạt động tuyên truyền được hiểu là hoạt động nhằm phổ biến, truyền bá những  
tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản của chính sách thuế, quản lý thuế đến người nộp  
thuế và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thức chung của xã hội về pháp luật thuế  
và nâng cao ý thức tuân thủ thuế. Cơ quan thuế sử dụng các biện pháp tuyên truyền phổ  
biến giáo dục pháp luật về thuế và hỗ trợ giải đáp thắc mắc về thuế cho người nộp thuế  
nhằm giúp người nộp thuế nắm bắt và hiểu đúng về pháp luật trong lĩnh vực thuế [4].  
Hỗ trợ người nộp thuế là công tác hướng dẫn cụ thể các văn bản chính sách thuế,  
cung cấp và giải đáp các thắc mắc về thủ tục và nội dung thuế cho người nộp thuế để họ  
tuân thủ và thực hiện tốt các chính sách thuế của Nhà nước trong từng thời kỳ [4].  
Thanh kiểm tra Thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác  
Kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng Thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý  
những hành vi trái pháp luật [1].  
Cưỡng chế nợ thuế là một trong những biện pháp được Tổng cục thuế áp dụng để  
xử lý tình trạng nợ thuế có khả năng thu hồi theo quy định của Luật Quản lý thuế.  
Đối với công tác quản lý thuế, khi xem xét ảnh hưởng của cán bộ công chức thuế  
đến chất lượng quản lý thuế được thể hiện thông qua trình độ chuyên môn, trình độ đáp  
ứng công nghệ thông tin, thái độ làm việc, khả năng đáp ứng người nộp thuế và khả năng  
tạo niềm tin cho người nộp thuế [3].  
Cơ sở vật chất là cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý thuế như trụ sở làm  
việc, thiết bị kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý [3].  
Minh bạch thông tin là một khái niệm khá trừu tượng, để đo lường tính minh bạch  
là một công việc khó khăn. Tính minh bạch thông tin trong công tác quản lý thuế được  
hiểu là sự bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin của người nộp thuế [8].  
Sự dễ dàng sử dụng thuế online được hiểu là khả năng dễ dàng thao tác phần mềm  
quản lý thuế [9].  
Giả thuyết nghiên cứu:  
H1: Hoạt động tuyên truyền (HDTT) và hỗ trợ thuế có ảnh hưởng tích cực đến chất  
lượng quản lý thuế GTGT.  
H2: Hoạt động thanh tra thuế (TRT) có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng quản lý  
thuế GTGT.  
H3: Hình thức cưỡng chế nợ thuế (HTCC) có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng  
quản lý thuế GTGT.  
H4: Cán bộ công chức thuế có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng quản lý thuế GTGT.  
H5: Cơ sở vật chất (PTVC) có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng quản lý thuế GTGT.  
H6: Tính minh bạch thông tin (MBTT) có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng quản  
lý thuế GTGT.  
H7: Sự dễ dàng sử dụng hệ thống thuế online (DDSD) có ảnh hưởng tích cực đến  
chất lượng quản lý thuế GTGT.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thang đo  
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu được kế thừa từ nghiên cứu của Mai Thị Lan Hương  
(2018), các nhân tố hoạt động tuyên truyền và hỗ trợ thuế, tổ chức hoạt động thanh tra kiểm  
99  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
tra, hình thức cưỡng chế - xử phạt, cán bộ công chức thuế, phương tiện cơ sở vật chất được  
sử dụng thang đo từ nghiên cứu của Mai Thị Lan Hương (2018). Nhân tố tính minh bạch  
thông tin sử dụng thang đo của Dabla - Norris và cộng sự (2017). Nhân tố sự dễ dàng sử  
dụng được kế thừa từ nghiên cứu Mustapha và cộng sự (2015). Thang đo chất lượng quản  
lý thuế GTGT được kế thừa từ nghiên cứu của Mai Thị Lan Hương (2018).  
2.2.2. Mô tả dữ liệu nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, với số biến quan sát là 32 biến quan sát (trong đó có 7 biến  
độc lập và 1 biến phụ thuộc). Theo điều kiện nêu trên thì kích thước mẫu nghiên cứu  
nhóm tác giả sử dụng là 250 quan sát (kích thước mẫu nghiên cứu tối thiểu trong nghiên  
cứu phải là 32*5 = 160 quan sát). Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng  
quản lý thuế GTGT, tác giả tiến hành khảo sát 250 doanh nghiệp nhỏ và vừa có nộp thuế  
GTGT đang hoạt động trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, là những doanh nghiệp đang  
hoạt động và thuộc quản lý của Cục thuế Thanh Hóa. Phương pháp điều tra khảo sát được  
thực hiện bằng cách phát phiếu trực tiếp đến các doanh nghiệp thông qua gửi phiếu ở cán  
bộ thuế và đi thu thập trực tiếp tại doanh nghiệp.  
Thời gian thu thập: từ ngày 01/3/2021 đến ngày 31/3/2021.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Trong 250 phiếu phát ra thu về và hợp lệ để đưa vào phân tích là 230 phiếu với tỷ  
lệ là 92% (loại bỏ những phiếu chỉ có trả lời 1 phương án và trả lời bị khuyết). Điều này  
hoàn toàn phù hợp và đảm bảo điều kiện để phân tích.  
Các doanh nghiệp trả lời là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, thuộc diện  
nộp thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế Thanh Hóa  
3.1. Phân tích độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha  
Thực hiện chạy Cronbach’s Alpha lần thứ nhất cho từng nhóm nhân tố, kết quả cho  
thấy các hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng đều lớn hơn 0,6. Tuy nhiên, có một số  
biến quan sát không thỏa mãn điều kiện hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến nhỏ hơn  
biến tổng. Do vậy, kết quả chạy lần thứ nhất loại các biến quan sát TKT3, PTVC1,  
TTHT4, MBTT3, CBCC5, DDSD4. Thực hiện chạy Cronbach’s Alpha lần thứ hai sau  
khi đã loại những biến quan sát trên, kết quả cho thấy các hệ số Cronbach’s Alpha của  
biến tổng đều nằm trong khoảng từ 0,736 - 0,92, đảm bảo điều kiện về độ tin cậy (lớn  
hơn 0,6 và nhỏ hơn 0,95). Tuy nhiên có biến quan sát CBCC1 có hệ số Cronbach’s Alpha  
nếu loại biến nhỏ hơn biến tổng nên tiếp tục loại biến quan sát CBCC1 để chạy lại lần thứ  
ba. Kết quả lần ba cho thấy các biến quan sát đều đảm bảo điều kiện về độ tin cậy của  
thang đo và đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện phân tích khám phá nhân tố.  
3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Kết quả kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) and Bartlett's Test ở bảng trên cho  
thấy cơ sở dữ liệu này là hoàn toàn phù hợp vì giá trị kiểm định đạt 0,769 (>0,5) với mức  
ý nghĩa thống kê là 99%. Điều này cho thấy, kỹ thuật phân tích nhân tố là hoàn toàn có  
thể thực hiện được trong nghiên cứu này bởi vì trong trường hợp này quy mô mẫu thích  
hợp và đủ lớn để thực hiện.  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Hệ số tải nhân tố của từng biến quan sát có giá trị lớn hơn 0,5, điểm dừng khi  
Eigenvalue = 1,030 >1 (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) và  
tổng phương sai dùng để giải thích bởi từng nhân tố là 74,26% lớn hơn 50%.  
Bảng 1. Kết quả phân tích khám phá các nhân tố độc lập trong mô hình  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
7
TTHT5  
TTHT3  
TTHT2  
TTHT1  
PTVC4  
PTVC3  
PTVC2  
CBCC2  
CBCC3  
CBCC4  
DDSD2  
DDSD1  
DDSD3  
HTCC1  
HTCC3  
HTCC2  
MBTT4  
MBTT2  
MBTT1  
TKT4  
.913  
.902  
.897  
.868  
.861  
.860  
.850  
.873  
.851  
.842  
.863  
.858  
.807  
.819  
.817  
.799  
.811  
.793  
.789  
.800  
.780  
.761  
TKT2  
TKT1  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra  
Các nhân tố trong mô hình khám phá không hình thành nhóm mới và đủ điều kiện  
để phân tích hồi quy. Có 7 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý thuế GTGT tại Cục  
thuế Thanh Hóa.  
3.3. Kiểm định mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng  
quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế Thanh Hóa  
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chất lượng quản lý thuế  
GTGT tại Cục thuế Thanh Hóa, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến. Và trong mô  
hình, biến độc lập gồm 7 nhân tố còn biến phụ thuộc là chất lượng quản lý thuế GTGT.  
Sau khi chạy phần mềm SPSS cho kết quả như sau  
101  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Bảng 2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình  
Change Statistics  
Std. Error  
of the  
Mode  
l
Adjusted  
R Square  
Durbin-  
Watson  
R
R Square  
R Square  
F
Sig. F  
df1 df2  
Estimate  
Change Change  
.449  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra  
Kết quả nhận được cho thấy mức ý nghĩa Sig. rất nhỏ (Sig. = 0,000) và hệ số xác  
Change  
1
.670a .449  
.432  
.50857  
25.843 7 222 .000 1.681  
định R2 = 0,449 (R2 điều chỉnh = 0,432), tức có trên 43,2% chất lượng công tác quản lý  
thuế GTGT được đánh giá bởi 7 nhân tố trên. Thông thường hệ số R2 điều chỉnh lớn hơn  
50%, chính vì vậy mức độ giải thích của mô hình tạm chấp nhận được chứ chưa cao. Điều  
này có thể lý giải là do tính đại diện của mẫu chưa cao. Hệ số Durbin-Watson = 1,681 (>1)  
cho biết không có hiện tượng tự tương quan giữa các biến. Thực hiện kiểm định  
Kolmogorov-Smirnov, với Sig. = 0,2 (lớn hơn 0,05) cho thấy chấp nhận giả thuyết phân  
phối của phần dư là phân phối chuẩn. Bên cạnh đó, qua quan sát mức độ các điểm quan sát  
phân tán xung quanh đường thẳng kỳ vọng, ta thấy phân phối phần dư hoàn toàn trùng hợp  
với một phân phối chuẩn, các điểm quan sát không nằm quá xa so với đường thẳng kỳ  
vọng. Vì vậy có thể kết luận phần dư được phân phối chuẩn hóa.  
Hình 2. Biểu đồ và đồ thị so sánh của phần dư chuẩn hóa  
Mặt khác, kiểm định one - sample test đối với phần dư cho giá trị Sig.=1, cho  
thấy giá trị trung bình của các phần dư bằng 0; Kiểm định hệ số tương quan Pearson  
giữa phần dư và biến độc lập cho thấy giá trị Sig. giữa phần dư và các biến độc lập đều  
bằng 1, bác bỏ giả thuyết tự tương quan, do đó không có mối quan hệ tương quan giữa  
phần dư và các biến độc lập. Thỏa mãn giả thiết phương sai không đồng nhất. Hệ số  
VIF cao nhất = 1,270 < 10, không có hiện tượng đa cộng tuyến. Như vậy đủ điều kiện  
để hồi quy bội, kết quả như sau:  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Bảng 3. Kết quả hồi quy bội  
Unstandardized Standardized  
Collinearity  
Statistics  
Coefficients  
Coefficients  
Model  
t
Sig.  
Std.  
Error  
B
Beta  
Tolerance VIF  
(Constant)  
AVETKT  
.286  
.144  
.110  
.091  
.172  
.071  
.039  
.271  
.274  
1.044 .298  
.039  
.035  
.031  
.043  
.037  
.041  
.051  
.206 3.678 .000  
.167 3.089 .002  
.153 2.904 .004  
.218 3.976 .000  
.099 1.950 .052  
.048 .953 .342  
.313 5.287 .000  
.787 1.270  
.853 1.173  
.890 1.124  
.827 1.210  
.971 1.030  
.964 1.037  
.707 1.414  
AVEPTVC  
AVETTHT  
AVEMBTT  
AVECBCC  
AVEDDSD  
AVEHTCC  
1
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra  
Giá trị Sig. của nhân tố “Cán bộ công chức” và “Dễ dàng sử dụng” đều lớn hơn 0,5  
nên không có ý nghĩa thống kê, do vậy loại 2 nhân tố này ra khỏi mô hình.  
Thực hiện lại hồi quy lần 2, loại bỏ nhân tố CBCC và DDSD ta có kết quả phương  
trình hồi quy như sau:  
CLQL = 0,203TKT+ 0,158PTVC + 0,140TTHT + 0,224 MBTT + 0,334 HTCC + u  
Kết quả hồi quy cho thấy dưới góc độ của người nộp thuế thì họ cho rằng chất  
lượng công tác quản lý thuế không được quyết định bởi cán bộ công chức thuế và sự dễ  
dàng sử dụng của hệ thống thuế điện tử. Về cán bộ công chức thuế hiện nay tại Cục thuế  
Thanh Hóa có trình độ chuyên môn cao và luôn có thái độ tốt, nhiệt tình trong công việc.  
Do vậy, cán bộ công chức thuế không ảnh hưởng đến sự hài lòng về công tác quản lý  
thuế hay niềm tin của người nộp thuế (NNT) về công tác quản lý thuế đối với đơn vị. Các  
biến độc lập trong mô hình đều có quan hệ cùng chiều với biến CLQL. Để xác định mức  
độ ảnh hưởng của các biến số độc lập ta sử dụng hệ số hồi quy đã chuẩn hóa. Ý nghĩa của  
hệ số hồi quy đã chuẩn hóa (β chuẩn hóa) cho thấy khi biến độc lập tăng lên 1 điểm thì  
biến phụ thuộc CLQL tăng lên β điểm. Cụ thể như sau:  
Hình thức cưỡng chế là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng quản lý  
thuế (β=0,334). Người nộp thuế cho rằng việc xử lý các vi phạm về thuế rõ ràng, minh  
bạch, các hình thức cưỡng chế về nợ thuế là công bằng và phát huy được các hình phạt  
thì mức độ hài lòng và niềm tin của người nộp thuế càng cao.  
Minh bạch thông tin là nhân tố có mức độ ảnh hưởng thứ hai đến chất lượng quản lý  
thuế (β=0,224). Người nộp thuế cho rằng kết quả các hoạt động thanh kiểm tra được công khai  
đầy đủ, các thông tin liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ thuế luôn được công bố kịp thời, đầy  
đủ thì sự hài lòng và niềm tin của người nộp thuế về chất lượng quản lý thuế càng cao.  
Phương tiện cơ sở vật chất và công tác tuyên truyền hỗ trợ là những nhân tố có ảnh  
hưởng tích cực đến chất lượng công tác quản lý thuế, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng không  
cao (β=0,158 và β=0,140).  
103  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
3.4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thuế Giá trị gia tăng tại Cục  
thuế Thanh Hóa  
Một là, tăng cường công tác cưỡng chế và thu nợ thuế  
Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng quản lý thuế GTGT tại Cục thuế  
Thanh Hóa. Trên thực tế, hầu như các doanh nghiệp đều thực hiện khá tốt việc tuân thủ  
thuế. Tuy nhiên vẫn còn tình trạng nợ đọng thuế lâu ngày, chây ỳ, cố ý chiếm đoạt tiền  
thuế làm ảnh hưởng chung đến uy tín của các doanh nghiệp. Chính vì vậy công tác đôn  
đốc, cưỡng chế thuế phải đảm bảo kịp thời, chính xác các khoản nợ đối với từng đối  
tượng nộp thuế.  
Hai là, giải pháp thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, dễ  
thực hiện, công khai, minh bạch thông tin  
Cục thuế Thanh Hóa tăng cường ban hành các chính sách thuế GTGT theo xu  
hướng đơn giản, minh bạch hóa việc kê khai, tính thuế, tháo gỡ khó khăn cho doanh  
nghiệp. Đảm bảo minh bạch nhưng phải công bằng: chính sách quy định doanh nghiệp vi  
phạm pháp luật thuế sẽ bị xử phạt với các mức phạt rất cụ thể; nhưng trường hợp cơ quan  
thuế hoàn thuế chậm cho doanh nghiệp so với thời gian quy định hoặc việc trả lời khiếu  
nại của doanh nghiệp chậm thì chưa có chế tài cơ quan thuế phải bồi thường, thanh toán  
tiền lãi cho doanh nghiệp.  
Ba là, nâng cấp hệ thống phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ công tác  
quản lý thuế GTGT  
Đến thời điểm hiện nay, về cơ bản thì Cục Thuế Thanh Hóa sử dụng một số ứng dụng  
hỗ trợ quản lý thuế GTGT như: BCTC (quản lý báo cáo tài chính), TTR (phần mềm quản lý  
Thanh tra Thuế), QLT (quản lý thuế), iHTKK (kê khai thuế), QLCV (quản lý công văn),...  
Tuy nhiên, mối liên thông dữ liệu cơ sở giữa các ứng dụng này chưa tốt, dẫn đến nhiều  
thông tin phải nhập lại, không tận dụng được nguồn dữ liệu đã có. Nâng cấp cơ sở dữ liệu về  
NNT, các chỉ tiêu, đánh giá phân tích tình hình nộp thuế của NNT. Thường xuyên cập nhật  
thông tin về NNT, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu thông tin về NNT. Bổ sung các  
trường dữ liệu về NNT trên hệ thống quản lý NNT như: thời hạn hoạt động, thông tin về các  
bên góp vốn, số người lao động hàng năm, mức độ ưu đãi, miễn giảm thuế, số lần được  
Thanh tra Thuế, thời kỳ đã Thanh tra Thuế, số lần bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế...  
Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế  
Với việc thực hiện “Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 - 2020” thủ  
tục hành chính thuế liên tục thay đổi, mặc dù khi có sự thay đổi về chính sách mới Cục  
Thuế tỉnh Thanh Hóa luôn tổ chức ngay các buổi tập huấn hướng dẫn doanh nghiệp thực  
hiện, tuy nhiên với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng khiến việc vi phạm pháp luật về  
thuế vẫn xảy ra khá phổ biến, vi phạm pháp luật thuế do sai sót không cố ý gây ra ngày  
càng tăng. Trong khi nguồn nhân lực cán bộ làm công tác quản lý còn hạn chế thì việc hạn  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
chế những sai sót không cố ý do thiếu hiểu biết về thủ tục hành chính thuế là cần thiết và  
quan trọng để công tác quản lý có thể tập trung vào các đối tượng cố tình gian lận thuế.  
Chính vì vậy công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế cần được tăng cường và nâng  
cao hơn để có thể nâng cao nhận thức cũng như giải quyết tất cả những vướng mắc của  
NNT trong việc chấp hành thủ tục hành chính thuế, tránh việc vi phạm thủ tục hành chính  
thuế do không cố ý gây ra.  
4. KẾT LUẬN  
Thông qua nghiên cứu định lượng với công cụ mô hình nghiên cứu SPSS, với bối  
cảnh nghiên cứu tại Cục thuế Thanh Hóa, nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng công tác quản  
lý thuế không được quyết định bởi cán bộ công chức thuế và sự dễ dàng sử dụng của hệ  
thống thuế điện tử. Hình thức cưỡng chế thuế, tính minh bạch thông tin, công tác thanh  
kiểm tra, phương tiện cơ sở vật chất và tuyên truyền hỗ trợ có mức độ ảnh hưởng giảm  
dần đến chất lượng quản lý thuế GTGT. Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ thực hiện đối  
với đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa xem xét đến những yếu tố khác. Do đó, vấn  
đề này đưa ra một hướng nghiên cứu nữa cho các nghiên cứu tiếp theo của nhóm tác giả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Cảnh Bảy (2014), Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế ở Cục  
thuế Hà Tĩnh, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế, Đại học  
Quốc gia Hà Nội.  
[2] Nguyễn Thị Thùy Dung (2013), Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất  
lượng công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế Chương Mỹ, Hà Nội, Luận văn Thạc  
sỹ Trường Đại học Lâm Nghiệp.  
[3] Mai Thị Lan Hương, Lê Đình Hải (2018), Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng  
công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế huyện Ứng Hòa - TP. Hà Nội, Tạp chí Khoa  
học và Công nghệ Lâm nghiệp, (01), tr.178 - 188.  
[4] Phạm Xuân Tuyên (2016), Hoạt động tuyên truyền người nộp thuế thực trạng năm  
truyen-ho-tro-nguoi-nop-thue-thuc-trang-nam-2015-va-giai-phap-nam-2016/  
[5] Bovaird, T. & Loffler, E. (2012), From engagement to co-production: How users  
and communities contribute to public services, London: Routledge  
[6] Cronin, J. J., & Taylor, S.A. (1992), Measuring service quality: A re examination  
and extension, Journal of Marketing, 56, pp. 55 - 68.  
[7] Das-Gupta, A., Estrada G. B., & Park, D. (2016), Measuring tax administration  
effectiveness and its impact on tax revenue, Working, papers, Economic Research  
Institue for ASEAN and east ASIA.  
[8] Dabla-Norris, M. E., Misch, F., Cleary, M. D., & Khwaja, M. (2017), Tax  
administration and firm performance: new data and evidence for emerging market  
and developing economies, International Monetary Fund.  
105  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
[9] Mustapha, B., & Obid, S. N. B. S. (2015), Tax service quality: The mediating effect  
of perceived ease of use of the online tax system, Procedia-Social and Behavioral  
Sciences, 172, 2-9.  
[10] Parasuraman, A., Zeithaml, V. A., & Berry, L. L. (1988), SERVQUAL: A multiple  
item scale for measuring customer perceptions of service quality, Journal of  
Retailing, 64, pp. 12 - 40.  
[11] Tse, D. K., & Wilton, P. C. (1988), Models of Consumer Satisfaction Formation:  
An Extension, Journal of Marketing Research, 25, pp. 204-12  
[12] Wisniewski, M. and Donnelly, M. (1996), Measuring service quality in the public  
sector: The potential for SERVQUAL, Total Quality Management, 7, pp. 357 - 365  
FACTORS AFFECTING QUALITY OF VALUE ADDED TAX  
ADMINISTRATION AT THANH HOA TAX DEPARTMENT  
Nguyen Cam Nhung, Le Minh Tuan  
ABSTRACT  
In this study, the authors conducted the survey of 250 SMEs under the management  
of Thanh Hoa Tax Department. The OLS multiple regression results indicated that; (1)  
Tax enforcement, (2) Information transparency, (3) Inspection, (4) Facilities and  
Infrastructures, (5) Propaganda and supportation have no correlation with the quality of  
VAT administration at Thanh Hoa Tax Department. The results are referred to as the  
basis to propose solutions to improve tax administration quality at Thanh Hoa Tax  
Department.  
Keywords: Tax administration quality, value added tax, Thanh Hoa Tax  
Department.  
* Ngày nộp bài:26/4/2021; Ngày gửi phản biện: 28/4/2021; Ngày duyệt đăng: 25/5/2021  
106  
pdf 11 trang Thùy Anh 18020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý thuế giá trị gia tăng tại cục thuế Thanh Hóa - Nghiên cứu dưới góc độ của doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_to_anh_huong_den_chat_luong_quan_ly_thue_gia_tri_gia_ta.pdf