Một số kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.133-139  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Ở TỈNH TUYÊN QUANG  
Lê Thị Hồng Hạnh1*, Trần Thị Phượng1  
1 Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Chính sách dân tộc là một trong những nội dung quan trọng nhằm phát triển kinh  
tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Bài viết này tập trung đánh giá những  
kết quả đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện  
chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang, từ đó đề ra giải pháp để nâng cao hiệu  
quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay.  
Ngày nhận bài:  
28/4/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
dân tộc, chính sách dân  
tộc, tỉnh Tuyên Quang, dân  
tộc thiểu số, vùng dân tộc  
thiểu số.  
1. Đặt vấn đề  
Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc  
sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Hầu hết  
các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn có vị trí chiến  
lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc  
phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Trong tiến  
trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân  
tộc ta, cộng đồng các dân tộc Việt Nam có vai trò đặc  
biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh to lớn trong sự  
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức rõ  
điều đó, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và  
Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách  
phù hợp với thực tiễn đất nước, đảm bảo nguyên tắc  
“bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng  
phát triển” [1;70].  
dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số  
445.504 người, chiếm 56,7%, gồm: dân tộc Tày  
chiếm 25,5%, Dao chiếm 12,7%, Sán Chay chiếm  
8,7%, Mông 2,3%, Nùng chiếm 1,9%, Sán Dìu chiếm  
1,7%, còn lại là các dân tộc khác [3;2]. Những năm  
qua, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính  
quyền các cấp, tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc  
và miền núi của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích  
cực. Nhiều chính sách dân tộc đã được triển khai và  
thực hiện có hiệu quả góp phần làm thay đổi đáng kể  
diện mạo nông thôn miền núi và vùng đồng bào dân  
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Đời sống vật chất và  
tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ngày một  
nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3-5%/  
năm [3;2].  
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở phía  
Bắc Việt Nam. Diện tích đất tự nhiên 5.868 km2.  
Tỉnh có 07 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có  
02 huyện nghèo (huyện Na Hang và huyện Lâm  
Bình). Dân số toàn tỉnh hơn 784.000 người với 22  
Tuy nhiên, hiện nay “kinh tế - xã hội ở một số địa  
phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh  
chưa phát triển”, “đời sống một bộ phận nhân dân  
vùng sâu, vùng xa còn khó khăn”, “kết cấu hạ tầng  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
nông thôn ở các xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa còn  
thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang  
được chia theo hai nhóm chính sách: nhóm các chính  
sách chung và nhóm các chính sách đặc thù cho vùng  
đồng bào dân tộc thiểu số.  
hạn chế”, “chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa ở vùng  
dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung của tỉnh vẫn  
còn thấp” [3;19]. Thực tiễn đó cho thấy, việc đánh  
giá những kết quả đã đạt được trong thực hiện chính  
sách dân tộc, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm  
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc đang  
là nhiệm vụ cấp bách nhằm phát triển kinh tế - xã hội  
bền vững, đảm bảo ổn định an ninh chính trị ở tỉnh  
Tuyên Quang hiện nay.  
a, Nhóm các chính sách chung  
Với đặc điểm có 22 dân tộc cùng chung sống, bên  
cạnh một số dân tộc sống tập trung thành làng, bản  
nhất định, thì phần lớn các dân tộc sống xen kẽ lẫn  
nhau nên các chính sách chung của tỉnh đã tác động  
không nhỏ tới đời sống của đồng bào các dân tộc.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Một số khái niệm  
Chính sách dân tộc  
Về thực hiện các chính sách phát triển kinh tế  
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, Tuyên  
Quang tập trung thu hút phát triển mạnh công nghiệp,  
tập trung vào một số ngành có lợi thế như: chế biến  
gỗ; sản xuất - chế biến nông - lâm sản, vật liệu xây  
dựng; khai thác, chế biến khoáng sản, may mặc, công  
nghiệp da giầy, cơ khí phục vụ nông nghiệp, nông  
thôn. Nhờ đó, giá trị sản xuất công nghiệp liên tục  
tăng. Nếu như năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp  
đạt 14.305 tỷ đồng [3;11] thì đến năm 2019 đạt  
15.660 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm 2018; sản  
lượng một số sản phẩm tăng khá so với năm 2018  
[7;1]. Sản xuất nông - lâm nghiệp có nhiều chuyển  
biến tích cực, nhất là việc chuyển đổi cơ cấu cây  
trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập  
trung; việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật  
vào quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ  
sản phẩm được chú trọng mang lại hiệu quả kinh tế  
cao. Sản lượng lương thực hàng năm đều đạt và vượt  
kế hoạch đề ra. Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp,  
thủy sản năm 2019 đạt 8.407,5 tỷ đồng, tăng 4,4% so  
với năm 2018 (năm 2018 đạt 8.054,7 tỷ đồng) [7;1],  
[3;11].  
Hiện nay, khái niệm “chính sách dân tộc” được  
luận giải phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác  
nhau. Tuy nhiên, hiểu một cách chung nhất, “chính  
sách dân tộc chính là tổng hợp những quan điểm,  
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đề  
ra, tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân  
tộc” [2;178], qua đó góp phần nâng cao chất lượng  
mọi mặt cho các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc ở  
Việt Nam.  
Thực hiện chính sách dân tộc  
“Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp  
luật, chính sách vào cuộc sống trên cơ sở cụ thể hóa  
các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước từ khâu hướng  
dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các  
điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết bảo  
đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ theo yêu cầu  
quy định trong chính sách” [2; 178].  
Chính sách dân tộc là một trong những chính sách  
lớn của Nhà nước ta. Đây cũng là một công cụ quản  
lý nhà nước quan trọng, tác động trực tiếp đến mọi  
mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội vùng đồng bào  
dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách này góp  
phần duy trì sự ổn định và phát triển vùng đồng bào  
dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hiện nay, trong bối  
cảnh đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiến hành quá  
trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc  
thực hiện chính sách dân tộc càng có ý nghĩa quan  
trọng khi nó thực sự đi vào cuộc sống nhằm tạo ra  
bước chuyển biến mới trong phát triển kinh tế - xã  
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.  
Hoạt động du lịch có nhiều chuyển biến tích cực.  
Tỉnh đã tập trung xây dựng các chương trình, kế  
hoạch, quy hoạch, đề án phát triển du lịch để tổ chức  
hiệu quả. Việc đầu tư xây dựng các làng văn hóa gắn  
với phát triển du lịch được quan tâm thực hiện. Hiện  
nay, các làng văn hóa - du lịch được triển khai ở  
nhiều huyện trong tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở  
huyện Chiêm Hóa (thôn Bó Củng, xã Kim Bình) và  
huyện Lâm Bình (Thôn Nà Tông, Tông Nà Đông, xã  
Thượng Lâm; thôn Nà Muông, xã Khuôn Hà; thôn  
Nặm Đíp, xã Lăng Can...). Số lượng khách du lịch  
đến Tuyên Quang liên tục tăng, năm 2018 tỉnh thu  
hút 1.712 nghìn lượt khách du lịch [3; 12] thì đến  
năm 2019 tăng lên 1.945,7 nghìn lượt [7; 2], tăng  
233,7 lượt.  
2.2 Những kết quả đạt được trong việc thực  
hiện một số chính sách đối với vùng đồng bào dân  
tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang  
Nội dung bài viết này tập trung đánh giá kết quả  
thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang  
trong thời gian từ năm 2018 đến hết năm 2019. Việc  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
Việc xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là ở các xã,  
Về thực hiện các chính sách phát triển xã hội  
thôn bản đặc biệt khó khăn được quan tâm đầu tư.  
Mạng lưới giao thông nông thôn liên hoàn được xây  
dựng đã đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, giao  
lưu đi lại, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến  
nay, 100% số xã trên địa bàn tỉnh có đường ô tô đến  
trung tâm, trong đó 95,04% số xã, thị trấn có đường  
nhựa hóa hoặc bê tông hóa. Tỷ lệ thôn, bản có đường  
ô tô đến trung tâm thôn đạt 99,81% [3;12]. Các công  
trình xây dựng đường điện và trạm biến áp cung cấp  
điện cho các xã miền núi, xã có đông đồng bào dân  
tộc thiểu số được ưu tiên đầu tư xây dựng. Toàn tỉnh  
có 100% số xã và 98,82% hộ dân được sử dụng điện  
lưới quốc gia [3;12]. Chương trình mục tiêu quốc gia  
Xây dựng nông thôn mới đạt được những kết quả  
đáng ghi nhận. Nhiều tấm gương điển hình là người  
dân tộc thiểu số đã tham gia hiến đất, đóng góp công  
sức, tiền của để làm đường giao thông nông thôn,  
kênh mương thủy lợi, nhà sinh hoạt cộng đồng...  
Năm 2019, toàn tỉnh có 07 xã đạt chuẩn nông thôn  
mới, nâng tồng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 37  
xã, bình quân toàn tỉnh đạt trên 14 tiêu chí / xã [7;2].  
Công tác giảm nghèo toàn tỉnh nói chung và giảm  
nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã  
được các cấp, các ngành triển khai có hiệu quả.  
Nhiều phong trào thi đua giảm nghèo diễn ra sôi nổi,  
tình hình đời sống nhân dân được nắm bắt thường  
xuyên; hộ nghèo, cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh  
khó khăn được hỗ trợ kịp thời. Tỷ lệ hộ nghèo hàng  
năm đều giảm và vượt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo  
giảm từ 15,38% năm 2018 [6; 2] xuống còn 11,8%  
năm 2019 [7;4]. Giáo dục, đào tạo được đổi mới căn  
bản, toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực của tỉnh. Năm 2019, 100% các xã có trường  
mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở; các cụm  
xã có trường trung học phổ thông, tạo điều kiện cho  
con em đồng bào dân tộc thiểu số được theo học tại  
tất cả các cấp học, các bậc học. Việc giải quyết việc làm  
cho người lao động được chú trọng. Năm 2019, tỉnh hỗ  
trợ tạo việc làm cho khoảng 25.000 lao động, tăng 2.605  
người so với năm 2018 [7;4]. Công tác phòng, chống tệ  
nạn xã hội, phòng chống ma túy, nhất là ở vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số được chú trọng.  
Về thực hiện chính sách củng cố, xây dựng hệ  
thống chính trị  
Về thực hiện các chính sách xây dựng và phát  
triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển  
bền vững  
Tuyên Quang tiếp tục thực hiện có hiệu quả các  
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng  
Đảng. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị  
ở các xã đặc biệt khó khăn được chú trọng, trong đó  
công tác phát triển đảng viên vùng sâu, vùng xa,  
vùng đồng bào dân tộc ít người được thực hiện  
nghiêm túc theo tinh thần Nghị quyết số 56-NQ/TU  
ngày 17/06/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy  
mạnh công tác phát triển đảng viên vùng sâu, vùng  
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả, đến năm  
2019, 100% thôn, bản đã có chi bộ độc lập, không  
còn thôn, bản chưa có đảng viên [3; 16]. Đội ngũ cán  
bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất,  
năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ được xây  
dựng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa  
XII). Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng  
cao chất lượng cán bộ, công chức ở cấp cơ sở, quan  
tâm bố trí cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia  
hệ thống chính trị các cấp; đổi mới, nâng cao hiệu  
quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Trình  
độ cán bộ ở cấp cơ sở ngày càng được nâng cao.  
Năm 2019, toàn tỉnh có trên 2.900 cán bộ, công chức  
cấp xã, trong đó có trên 1.400 cán bộ, công chức là  
người dân tộc thiểu số; cán bộ có trình độ chuyên  
môn từ trung cấp trở lên chiếm 97%, trong đó, số cán  
bộ có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 58% [3;17].  
Tỉnh quan tâm tổ chức thực hiện Nghị quyết  
Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng, phát triển văn  
hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển  
bền vững đất nước. Các phong trào xây dựng đời  
sống văn hóa, gia đình văn hóa, thôn, bản, tổ dân  
phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa được đẩy  
mạnh. Tỉnh cũng triển khai thực hiện hiệu quả các  
chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật  
thể và phi vật thể của các dân tộc trên địa bàn tỉnh  
đồng thời vinh danh những đóng góp tích cực trong  
lĩnh vực văn học - nghệ thuật, di sản văn hóa phi vật  
thể. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe  
cho nhân dân, tỉnh thực hiện tốt công tác phòng  
chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa  
bệnh cho nhân dân. Đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh  
có 82,2% trạm y tế xã có bác sỹ; bình quân toàn tỉnh  
có 8,1 bác sỹ/10.000 dân. Toàn tỉnh có 62 thầy thuốc  
ưu tú và 01 thầy thuốc nhân dân, trong đó có 08 thầy  
thuốc ưu tú là người dân tộc thiểu số [3;14].  
Về thực hiện chính sách củng cố, xây dựng quốc  
phòng - an ninh  
Công tác đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa  
bàn tỉnh được triển khai hiệu quả. Lực lượng vũ trang  
địa phương tiếp tục được xây dựng, củng cố về tổ  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
chức, quân số; lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,7% so  
Quyết định số: 2086/QĐ-Ttg ngày 31/10/2016 của  
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát  
triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người  
giai đoạn 2016-2025, trong 2 năm 2018-2019 từ  
nguồn vốn ngân sách Trung ương, tỉnh đã phân bổ  
5.043 triệu đồng để thực hiện. Đã có trên 350 lượt hộ  
được hỗ trợ; xây dựng 07 mô hình tổ hợp tác [3; 6].  
với dân số [3;17]. Công tác giao quân hàng năm được  
tổ chức tốt, đảm bảo 100% chỉ tiêu được giao. Tỉnh  
đã lựa chọn 2.618 thanh niên là người dân tộc thiểu  
số thực hiện nghĩa vụ quân sự và 589 đồng chí ở cơ  
sở để tạo nguồn cán bộ [3;18]. Phong trào bảo vệ an  
ninh Tổ quốc được duy trì thường xuyên với sự tham  
gia, phối hợp chặt chẽ của đồng bào các dân tộc thiểu  
số. Chú trọng thực hiện công tác noi gương, chọn  
người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham  
gia phối hợp trong việc tuyên truyền chủ trương đường  
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước,  
giữ gìn an ninh trật tự và xây dựng khối đại đoàn kết  
toàn dân tộc.  
Về thực hiện các chính sách về bảo tồn và phát  
triển văn hóa, thông tin tuyên truyền vùng đồng bào  
dân tộc thiểu số  
Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa  
truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được chú  
trọng. Tuyên Quang đã hoàn thành kiểm kê di sản  
văn hóa phi vật thể của 16 dân tộc trên địa bàn tỉnh,  
trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh  
mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia 09 hồ sơ di  
sản phi vật thể, đã có 07 hồ sơ được công nhận [3;  
10]. Thực hành “Then Tày, Nùng, Thái” được  
UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại  
diện của nhân loại [7; 4]. Các lễ hội truyền thống của  
đồng bào dân tộc thiểu số được phục dựng đồng thời  
duy trì các Câu lạc bộ văn hóa dân gian của đồng bào  
dân tộc như: Câu lạc bộ hát Then - đàn Tính của dân  
tộc Tày; Câu lạc bộ hát Páo Dung của dân tộc Dao…  
Nhiều chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân  
tộc thiểu số đã ra đời góp phần tuyên truyền sâu rộng  
trong đồng bào dân tộc thiểu số các chủ trương của  
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Hàng  
năm, tỉnh tổ chức phát một số ấn phẩm báo, tạp chí  
cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt  
khó khăn theo Quyết định số 2472/QĐ-Ttg ngày  
28/12/2011, Quyết định số 633/QĐ-Ttg ngày  
19/4/2016 và Quyết định số 59/QĐ-Ttg ngày  
16/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, trong  
02 năm 2018 và 2019, tỉnh đã cấp 18 loại báo, tạp chí  
với số lượng 852.227 tờ [4;5], [5; 8]. Nhờ được cấp  
miễn phí các loại báo, tạp chí, đồng bào dân tộc thiểu  
số trên địa bàn tỉnh được cập nhật các thông tin thời  
sự trong tỉnh, trong nước và quốc tế, nắm bắt được  
các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách,  
pháp luật của Nhà nước, từ đó chủ động thực hiện  
các chính sách và cảnh giác trước các âm mưu thủ  
đoạn của kẻ thù nhằm lợi dụng phá hoại khối đại  
đoàn kết dân tộc.  
b, Nhóm chính sách đặc thù  
Về thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã  
hội, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số  
Nhằm phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời  
sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh Tuyên  
Quang đã triển khai thực hiện hiệu quả nhiều chính  
sách dân tộc như: chính sách hỗ trợ trực tiếp cho  
người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn theo  
Quyết định số 102/2009/QĐ-Ttg ngày 07/07/2009  
của Thủ tướng Chính phủ; chính sách hỗ trợ đất ở,  
đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc  
thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt  
khó khăn theo Quyết định số 7555/QĐ-Ttg ngày  
20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số  
2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng  
Chính phủ về phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ  
phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và  
miền núi giai đoạn 2017-2020…  
Để thực hiện giảm nghèo bền vững cho vùng  
đồng bào dân tộc thiểu số, từ nguồn vốn Chương  
trình 135 và Chương trình 30a, Tuyên Quang đã hỗ  
trợ xây dựng, duy tu cơ sở hạ tầng cho các xã, thôn,  
bản đặc biệt khó khăn, hỗ trợ đồng bào phát triển sản  
xuất. Kết quả từ năm 2018 đến năm 2019, tỉnh đã hỗ  
trợ xây dựng mới 374 công trình (trong đó năm 2018:  
197 công trình, năm 2019: 177 công trình) [ 4; 5],  
[5;5]. Các công trình được hỗ trợ xây mới chủ yếu là  
đường giao thông, nhà văn hóa, các công trình thủy  
lợi, nhà lớp học, sân thể thao, chợ, các công trình  
điện sinh hoạt và nước sinh hoạt. Các dự án hỗ trợ  
phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng  
các mô hình giảm nghèo được thực hiện với 5.584  
triệu đồng [3; 4]. Từ dự án, các hộ nghèo và cận  
nghèo được hỗ trợ giống, cây trồng vật nuôi, máy  
móc, thiết bị sản xuất và thức ăn chăn nuôi. Căn cứ  
Về thực hiện các chính sách về giáo dục, y tế,  
chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số  
Những năm qua tỉnh đã quan tâm thực hiện việc  
đổi mới công tác dạy và học ở các cấp học, bậc học,  
giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
tuổi, hoàn thành phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 5  
Về thực hiện các chính sách phổ biến, giáo dục  
pháp luật và tuyên truyền vận động đồng bào vùng  
dân tộc thiểu số  
tuổi. Các chế độ đối với học sinh các trường dân tộc  
nội trú, trường bán trú theo Thông tư liên tịch số  
109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 liên  
Bộ Tài chính - Giáo dục và Đào tạo được thực hiện  
đầy đủ. Học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn, bản  
đặc biệt khó khăn được hỗ trợ theo Nghị định  
116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ; trẻ  
mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số ít  
người được hưởng chính sách ưu tiên theo Nghị định  
số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/05/2017 của Chính. Đến  
năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có 399 học sinh dân  
tộc rất ít người được hỗ trợ với tổng kinh phí là 3.524  
triệu đồng [3; 9]. Từ nguồn ngân sách tỉnh và hỗ trợ  
từ dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ và  
Đồng Bằng sông Hồng, Tuyên Quang đã thực hiện  
hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế cho người  
thuộc hộ cận nghèo, đảm bảo 100% người thuộc hộ  
nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở  
vùng khó khăn, người dân sống ở vùng đặc biệt khó  
khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế [3; 9]. Hệ thống cơ  
sở vật chất y tế và chất lượng đội ngũ cán bộ y tế  
vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng  
cao, góp phần chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân  
tộc thiểu số.  
Thực hiện đề án “Đẩy mạnh công tác phổ biến,  
giáo dục pháp luật và tuyên truyền vận động đồng  
bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 -  
2021” theo Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày  
08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ, trong 2 năm  
2018 và 2019, Ban dân tộc tỉnh đã phối hợp với Ủy  
ban nhân dân các huyện tổ chức nhiều hội nghị phổ  
biến, giáo dục pháp luật cho hàng trăm đại biểu,  
trong đó có các đại biểu là cán bộ làm công tác dân  
tộc cấp huyện, cấp xã; trưởng thôn, bản; đại diện các  
tổ chức đoàn thể thôn, bản và đồng bào dân tộc thiểu  
số ở các xã đặc biệt khó khăn. Các nội dung tuyên  
truyền tập trung vào các quy định pháp luật về hôn  
nhân và gia đình, an toàn giao thông, phòng chống  
tội phạm buôn bán người, phòng chống bạo lực gia  
đình, các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và  
Nhà nước…  
Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân  
cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số  
theo Quyết định số 498/QĐ-Ttg ngày 14/4/2015 của  
Thủ tướng Chính phủ được triển khai theo hướng  
chọn mô hình điểm để thực hiện. Năm 2018, Ban  
Dân tộc tỉnh đã tổ chức điều tra, khảo sát, thu thập  
thông tin, đánh giá thực trạng tình trạng tảo hôn ở các  
xã đặc biệt khó khăn thuộc 6 huyện trên địa bàn tỉnh,  
sau đó chọn 02 xã (xã Hùng Lợi và xã Trung Minh  
huyện Yên Sơn) làm mô hình điểm để thực hiện Đề  
án. Theo đó, tỉnh đã tổ chức 07 hội nghị tuyên truyền  
“Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết  
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số” trên địa bàn  
tỉnh với 731 đại biểu tham gia [4; 6]. Năm 2019, từ  
đánh giá kết quả thực hiện 02 mô hình điểm ở huyện  
Yên Sơn, Ban dân tộc tỉnh tiếp tục xây dựng kế  
hoạch để nhân rộng mô hình thực hiện Đề án trên địa  
bàn xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình; trực tiếp hướng  
dẫn thành lập mô hình và tập huấn kỹ năng tuyên  
truyền cho Ban chỉ đạo cấp xã và thành viên Tổ tư  
vấn thôn, bản của xã Xuân Lập.  
Về thực hiện chính sách đối với người có uy tín  
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số  
Hàng năm, Ban Dân tộc tỉnh chủ trì, phối hợp với  
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tình,  
Công an tỉnh triển khai, rà soát, bầu chọn bổ sung  
danh sách người có uy tín trong vùng đồng bào dân  
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số  
12/2018/QĐ-Ttg ngày 06/3/2018 của Thủ tướng  
Chính phủ. Năm 2019, toàn tỉnh có 1.247 người có  
uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số [5; 6]. Người  
có uy tín được cấp phát đầy đủ các loại báo theo quy  
định, được thăm hỏi, động viên kịp thời theo đúng  
chính sách đã quy định về ốm đau, qua đời, gia đình  
không may gặp rủi ro, thiên tai. Tỉnh đã tổ chức  
nhiều hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, cung  
cấp thông tin cho người có uy tín trên địa bàn tỉnh.  
Đại biểu người có uy tín trên địa bàn tỉnh được bầu  
chọn đã phát huy vai trò tích cực trong công tác phổ  
biến, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính  
sách và pháp luật của Nhà nước ở nơi cư trú; kịp thời  
trao đổi thông tin, phản ánh tâm tư nguyện vọng  
chính đáng của quần chúng nhân dân đối với cấp ủy,  
chính quyền các cấp, giữ vững khối đại đoàn kết dân  
tộc; góp phần tích cực trong công tác giảm nghèo,  
xây dựng nông thôn mới.  
Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân  
tộc thiểu số giai đoạn 2018 - 2025 theo Quyết định số  
1898/QĐ-Ttg ngày 28/11/2017 của Thủ tướng Chính  
phủ được triển khai thực hiện nghiêm túc. Ban Dân  
tộc tỉnh đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện  
Chiêm Hóa chỉ đạo duy trì, hướng dẫn hoạt động của  
Câu lạc bộ “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ và  
thúc đẩy bình đẳng giới” ở xã Linh Phú, tổ chức đoàn  
đại biểu gồm 10 người đại diện thành viên Câu lạc bộ  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
tham dự Hội nghị tập huấn nâng cao kiến thức pháp  
luật do Ủy ban dân tộc tổ chức tại Hà Nội, đồng thời  
chỉ đạo tổ chức đánh giá sơ kết 01 năm thực hiện mô  
hình tại xã Linh Phú.  
sâu, vùng xa chưa có đường bê tông vào thôn, nên  
nhân dân đi lại rất khó khăn như thôn Trung Phìn,  
thôn Khuổi Phìn, xã Sinh Long; thôn bản Bung, xã  
Thanh Tương, Na Hang... Đặc biệt tại thôn Trung  
Phìn và thôn Khuổi Pìn (Sinh Long, Na Hang) và  
một số thôn, bản khác ở các xã vùng sâu, vùng xa  
thuộc một số huyện miền núi hiện nay chưa có điện  
lưới quốc gia vào thôn bản nên đời sống nhân dân rất  
khó khăn. Chất lượng giáo dục, văn hóa, y tế ở vùng  
dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung của tỉnh còn  
thấp. Ở một số địa phương, trong vùng dân tộc thiểu  
số còn xảy ra tình trạng tảo hôn, đưa người đi lao  
động nước ngoài trái phép. Việc triển khai thực hiện  
một số chương trình, chính sách dân tộc còn có  
những khó khăn, bất cập. Ví dụ, việc bố trí vốn để  
thực hiện các chính sách đặc thù hỗ trợ vùng dân tộc  
thiểu số theo Quyết định số 2085/QĐ-Ttg ngày  
31/10/2016 và Quyết định số 2086/QĐ-Ttg ngày  
31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ còn hạn chế,  
chưa đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra [5;11].  
Nhờ tích cực thực hiện các chính sách dân dân  
tộc, hai năm qua, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh  
Tuyên Quang đã có sự phát triển, công tác giảm  
nghèo đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đời sống  
vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng  
lên. Với tinh thần đoàn kết, phát huy nội lực, vượt  
qua những khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số trên  
địa bàn tỉnh đã tích cực thực hiện các phong trào thi  
đua yêu nước, các cuộc vận động do các cấp, các  
ngành phát động, cùng với cấp ủy, chính quyền địa  
phương triển khai thực hiện có hiệu quả chương  
trình, chính sách của Nhà nước, củng cố khối đại  
đoàn kết dân tộc, từ đó góp phần quan trọng vào  
những kết quả, thành tựu mà tỉnh đã đạt được trong  
thời gian qua.  
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do kinh  
tế của tỉnh vẫn còn khó khăn, nguồn thu ngân sách hạn  
chế, vì vậy việc bố trí nguồn lực cho công tác giảm  
nghèo chưa đáp ứng được nhu cầu. Một số địa phương  
chưa chủ động phát huy được tiềm năng, thế mạnh để  
phục vụ cho công tác phát triển kinh tế - xã hội. Xuất  
phát điểm kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu  
số thấp. Địa hình vùng dân tộc thiểu số phức tạp, giao  
thông đi lại không thuận tiện, ảnh hưởng đến việc tiếp  
nhận các dịch vụ, khoa học, kỹ thuật và công nghệ của  
đồng bào dân tộc thiểu số. Sự phối hợp giữa các  
ngành, các cấp có lúc chưa chặt chẽ.  
2.3. Một số hạn chế trong thực hiện chính sách  
dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang  
Qua nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách  
dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang từ năm 2018 đến năm  
2019 cho thấy đã đạt được những kết quả đáng khích  
lệ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được,  
trong việc thực hiện chính sách dân tộc cũng còn tồn  
tại một số hạn chế. Trong phát triển kinh tế nông -  
lâm nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số, năng  
suất, chất lượng sản phẩm một số cây trồng vật nuôi  
còn thấp. Chất lượng giảm nghèo chưa thật sự bền  
vững, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số còn  
cao. Đời sống một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số  
còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hộ đồng bào dân tộc  
thiểu số chưa biết cách làm ăn, chủ yếu làm ăn manh  
mún, nhỏ lẻ, dựa vào khai thác rừng, làm nông, khai  
thác những nguồn lực tự nhiên sẵn có để sinh sống;  
sức lao động cũng chủ yếu dựa vào sức người, hạn  
chế trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật  
vào trong sản xuất. Thời gian gần đây, tuy đã bắt đầu  
áp dụng những công nghệ tiên tiến, máy móc vào  
trong sản xuất nhưng vẫn còn ít và thiếu đồng bộ.  
Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số chưa chủ  
động trong thực hiện các chính sách, còn ỷ lại vào  
các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Kinh tế một số  
địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số chưa  
phát triển, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông  
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị  
trường chuyển biến chậm.  
2.4. Một số giải pháp nhằm nâng hiệu quả  
chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang  
Để khắc phục những hạn chế nêu trên và thực  
hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên  
Quang cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống  
chính trị, các cấp, các ngành và đồng thời phải thực  
hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần thực hiện  
những giải pháp cơ bản sau:  
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp  
ủy Đảng, chính quyền tỉnh Tuyên Quang trong triển  
khai thực hiện chính sách dân tộc. Trong đó, tập  
trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những mong  
muốn chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số trong  
triển khai thực hiện các chính sách.  
Hai là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên  
và nhân dân về tầm quan trọng của chính sách dân  
tộc và thực hiện chính sách dân tộc thông qua việc  
tuyên truyền, giáo dục về các chủ trương, chính sách  
dân tộc, giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cách  
mạng cho đồng bào dân tộc thiểu số.  
Kết cấu hạ tầng nông thôn của tỉnh tuy được tăng  
cường đầu tư nhưng chưa thực sự đáp ứng nhu cầu  
phát triển kinh tế - xã hội. Ở một số thôn, bản vùng  
L.T.H.Hanh et al/ No.18_Oct 2020|p.133-139  
Ba là, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả  
từng chính sách trên cơ sở bám sát tình hình thực tiễn  
địa phương để vận dụng các chính sách có hiệu quả.  
sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện  
nay. Qua đó, chúng ta càng tin tưởng khẳng định  
rằng, đồng bào dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang sẽ  
phát triển xa hơn, tiến kịp với các dân tộc khác, cùng  
góp sức xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước  
giàu mạnh.  
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát,  
đánh giá quá trình thực hiện chính sách dân tộc, đặc  
biệt hướng tới khuyến khích người dân, các tổ chức  
quần chúng cùng tham gia kiểm tra, giám sát việc  
thực hiện các chính sách.  
REFERENCES  
1- Vietnam Communist Party, Document of the  
XI National Congress of Delegates, National Political  
Publishing House, Hanoi, 2011  
Năm là, tăng cường quản lý nhà nước về công tác  
dân tộc thông qua việc hoàn thiện pháp luật về công  
tác dân tộc, xây dựng hệ thống chính sách rõ ràng, cụ  
thể, không chồng chéo, mâu thuẫn, thống nhất đầu  
mối cơ quan chủ trì, tổ chức thực hiện chính sách  
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc.  
2- Ho Chi Minh National Academy of Politics,  
High-level curriculum of political theory: Ethnic  
theory and ethnic relations in Vietnam, Political  
Theory Publishing House, Hanoi, 2019, p. 13.14  
3-People's Committee of Tuyen Quang province,  
Documents of the third Congress of ethnic minorities  
in Tuyen Quang province in 2019  
3. Kết luận  
Tuyên Quang là một tỉnh có sự đa dạng về thành  
phần dân tộc. Các dân tộc trên địa bàn tỉnh giàu  
truyền thống đoàn kết, yêu nước, cùng gắn bó với  
nhau trong quá trình sinh sống. Mặc dù đồng dân tộc  
thiểu số nơi đây cư trú đan xen nhưng đều có bản sắc  
văn hóa riêng. Trong tiến trình đổi mới đất nước,  
đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc ở tỉnh  
Tuyên Quang đã tích cực chủ động tổ chức thực hiện  
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trên địa  
bàn và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng nhưng  
cũng không tránh khỏi một số hạn chế nhất định.  
Giải quyết đúng đắn và sáng tạo những khó khăn,  
hạn chế trong quá trình thực hiện sẽ góp phần phát  
triển kinh tế - xã hội, thay đổi diện mạo của vùng  
đồng bào dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang trên tinh  
thần đoàn kết, thống nhất, không ngừng khắc phục  
khó khăn về mọi mặt để phát triển, khẳng định ý chí  
vươn lên, tính tự lực tự cường, tin tưởng sâu sắc vào  
4-People's Committee of Tuyen Quang province,  
Committee for Ethnic Minorities, Report on  
summary of ethnic affairs in 2018, directions and  
tasks of ethnic affairs in 2019  
5-People's Committee of Tuyen Quang province,  
Committee for Ethnic Minorities, Report on the  
implementation of ethnic work in 2019, directions  
and tasks of ethnic work in 2020  
6-People's Committee of Tuyen Quang province,  
Report on results of implementation of socio-  
economic development tasks in 2018; expected  
socio-economic development plan in 2019  
7-People's Committee of Tuyen Quang province,  
Report on results of implementation of socio-  
economic development tasks in 2019, expected  
socio-economic development plan 2020  
THE RESULTS OF IMPLEMENTING ETHNIC POLICY  
IN TUYEN QUANG PROVINCE  
Article info  
Abstract  
Ethnic policy is one of the important contents, aiming at socio-economic  
development in ethnic minority areas across the our country. This article focuses  
on evaluating the achievements and limitations in the process of implementing  
ethnic policy in Tuyen Quang province, as well as coming up with solutions to  
improve efficiency of ethnic policy implementation in the locality.  
Recieved:  
28/4/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
ethnicity, ethnic policy,  
Tuyen Quang province,  
ethnic minorities, ethnic  
minority areas.  
pdf 7 trang Thùy Anh 10540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_ket_qua_thuc_hien_chinh_sach_dan_toc_o_tinh_tuyen_qua.pdf