Quản lý các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
Original Article  
Management of Biosphere Reserves in Vietnam:  
Status and Challenges  
Nguyen Van Hieu1,, Dang Thi Thanh Thuy1, Nguyen Hoang Nam2  
1Capacity Development Center for Environment and Natural Resources (CEN),  
97 Van Cao, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam  
2Institute of Strategy and Policy on Natural Resources and Environment (ISPONRE),  
479 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 08 July 2020  
Revised 22 December 2020; Accepted 14 January 2021  
Abstract: Vietnam has the second largest number of biosphere reserves (BRs) in Southeast Asia  
with 9 BRs, covering over 4.3 million hectares. Based on the specific conditions of each locality,  
some BRs have implemented a number of activities for sustainable management. However, there  
have been certain challenges to the effective management of BRs in Vietnam. This paper analyzes  
these challenges, including management policy aspect, organizational management, organizational  
management practices, and resources for management. The analysis results show that the term of  
BR has not yet been institutionalized in the national legal system as a unified management entity. In  
addition, the management structure and plan of the biosphere reserve is not consistent and not fully  
delineated at both national and local levels. The development and implementation of plans,  
coordination, cooperation and information sharing among key stakeholders at the BRs are  
inadequate. Moreover, there is difficulty in achieving the best results in implementing these  
activities and resources for management are still insufficient, especially human and financial  
resources.  
Keywords: Biosphere reserves, management, status and challenges, resources for management.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
81  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
82  
Quản lý các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam:  
Thực trạng và thách thức  
Nguyễn Văn Hiếu1,, Đặng Thị Thanh Thủy1, Nguyễn Hoàng Nam2  
1Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực Tài nguyên và Môi trường (CEN),  
32, Ngõ 97 Văn Cao, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
2Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE),  
479 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 08 tháng 7 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 22 tháng 12 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 14 tháng 01 năm 2021  
Tóm tắt: Việt Nam có số lượng khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ) đứng thứ hai ở khu vực Đông Nam  
Á với 9 khu, diện tích trên 4,3 triệu ha. Dựa vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, nhiều KDTSQ  
đã triển khai một số hoạt động để quản lý theo hướng bền vững. Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại một số  
các thách thức trong quản lý cần phải được giải quyết để để đảm bảo hiệu quả quản lý của các  
KDTSQ tại Việt Nam. Bài viết phân tích các thách thức này, bao gồm các thách thức về chính sách  
quản lý, tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động quản lý và nguồn lực cho quản lý. Kết  
quả cho thấy, hiện tại, KDTSQ vẫn chưa được thể chế hóa trong hệ thống luật pháp quốc gia như  
một chủ thể quản lý thống nhất. Cơ cấu quản lý, kế hoạch quản lý KDTSQ không thống nhất và  
không được phân định đầy đủ ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương. Việc xây dựng và thực hiện các  
kế hoạch, điều phối, hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan tại các KDTSQ còn chưa  
đầy đủ và việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn để đạt đến hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, nguồn lực  
cho quản lý vẫn còn một số hạn chế, đặc biệt là nhân lực và tài chính.  
Từ khóa: Khu dự trữ sinh quyển, quản lý, thực trạng và thách thức, nguồn lực cho quản lý.  
1. Mở đầu  
Khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ) là các khu  
Quốc (UNESCO MAB) khi đáp ứng 7 tiêu chí  
theo quy định của Điều 4, Khung Pháp lý của  
Mạng lưới toàn cầu các KDTSQ thế giới được  
thông qua tại Đại hội đồng UNESCO năm 1995  
[2]. Các KDTSQ được xem là mô hình góp phần  
thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững  
(SDGs) và các Thỏa thuận Đa phương về Môi  
trường (MEA) [3]. Hiện tại, trên toàn thế giới có  
701 KDTSQ thuộc 124 quốc gia [4]. Cấu trúc  
của một KDTSQ được thể hiện tại Hình 1.  
vực có hệ sinh thái trên cạn hoặc ven biển có vai  
trò quan trọng trong việc bảo tồn và cung cấp các  
giá trị nhân văn, kỹ năng và khoa học, hỗ trợ cho  
sự phát triển bền vững [1]. Các KDTSQ do chính  
phủ các nước đệ trình và được công nhận bởi  
Chương trình Con người và Sinh quyển của Tổ  
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
83  
Hình 1. Cấu trúc một KDTSQ.  
Nguồn: Tri et al., (2014) [5].  
Các KDTSQ có 3 chức năng chính, gồm: bảo  
tồn (cảnh quan, hệ sinh thái, loài và đa dạng gen),  
phát triển (kinh tế, văn hóa), hỗ trợ (nghiên cứu,  
giáo dục và đào tạo) [2, 5, 6]. Việc quản lý các  
KDTSQ được dựa trên nguyên tắc khung do  
UNESCO MAB đề ra, bao gồm: 1) có cơ chế để  
quản lý các hoạt động khai thác và sử dụng của  
con người tại vùng đệm/hoặc các vùng; 2) có  
chính sách/kế hoạch quản lý KDTSQ; 3) có cơ  
chế để thực hiện các chính sách/kế hoạch quản  
lý KDTSQ; 4) có các chương trình nghiên cứu,  
giám sát, giáo dục và đào tạo [2]. Như vậy, có  
thể hiểu việc quản lý KDTSQ là sự kết hợp chặt  
chẽ giữa khai thác và bảo tồn để duy trì ba chức  
năng của KDTSQ [7]. Cách tiếp cận này mở rộng  
so với cách tiếp cận quản lý vùng lõi (vườn quốc  
gia, khu bảo tồn thiên nhiên,...) được thiết lập với  
mục đích chính là bảo tồn [8].  
nhận năm 2004), KDTSQ ven biển và biển đảo  
Kiên Giang (công nhận năm 2006), KDTSQ  
miền Tây Nghệ An (công nhận năm 2007),  
KDTSQ Mũi Cà Mau (công nhận năm 2009),  
KDTSQ Cù Lao Chàm - Hội An (công nhận năm  
2009), KDTSQ Đồng Nai (công nhận năm 2011-  
nâng cấp và mở rộng từ KDTSQ Cát Tiên được  
công nhận năm 2001), KDTSQ Lang Biang  
(công nhận năm 2015).  
Hiện nay, 9 KDTSQ của Việt Nam có tổng  
diện tích hơn 4,3 triệu ha, chiếm khoảng 13,12%  
diện tích tự nhiên của cả nước [10]. Diện tích  
vùng lõi (9 vườn quốc gia, 4 khu bảo tồn thiên  
nhiên và 2 khu bảo vệ cảnh quan), vùng đệm và  
vùng chuyển tiếp của các KDTSQ lần lượt chiếm  
khoảng 10,8%; 31,1%; và 58,1% tổng diện tích  
của các KDTSQ. Trong đó, có 4 KDTSQ (Cần  
Giờ, Cát Bà, Châu thổ sông Hồng và Cù Lao  
Chàm - Hội An) là tương đối phù hợp theo tiêu  
chí diện tích của Cộng hòa Liên bang Đức, còn  
5 KDTSQ còn lại đều có diện tích lớn hơn diện  
tích tối đa từ khoảng 2 lần (Lang Biang, Mũi Cà  
Mau), đến hơn 6 lần (Đồng Nai) và khoảng 8 lần  
(Kiên Giang, Tây Nghệ An) diện tích tối đa của  
một KDTSQ [11]. Trong khi đó, có 2 KDTSQ là  
nhỏ hơn tiêu chí diện tích của Nam Phi (Cát Bà,  
Cù Lao Chàm - Hội An) [12]. Đặc điểm về diện  
tích và vị trí của các KDTSQ tại Việt Nam được  
thể hiện tại Hình 2.  
Cho đến hiện nay, Việt Nam có 9 KDTSQ  
được (UNESCO) công nhận. Trong khu vực  
Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 2 về số lượng  
KDTSQ (sau Indonesia với 16 khu) [9]. Các  
KDTSQ của Việt Nam có các hệ sinh thái (HST)  
hết sức đa dạng (HST biển đảo, rừng ngập mặn  
ven biển và biển, rừng nhiệt đới gió mùa, rừng  
nhiệt đới, rừng trên đất liền và đất ngập nước nội  
địa). 9 KDTSQ đã được công nhận bao gồm:  
KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ (công nhận  
năm 2000), KDTSQ quần đảo Cát Bà (công nhận  
năm 2004), KDTSQ Châu thổ sông Hồng (công  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
84  
Hình 2. Đặc điểm về diện tích và vị trí các KDTSQ tại Việt Nam.  
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.  
Như vậy, sau 20 năm Việt Nam chính thức  
(UNESCO MAB) và Việt Nam, các báo cáo của  
các KDTSQ và các nghiên cứu liên quan khác  
được thu thập, phân tích và đánh giá. Khung tiếp  
cận đánh giá được thể hiện tại Hình 3.  
là thành viên Mạng lưới các KDTSQ thế giới,  
cho đến nay, số lượng và diện tích các KDTSQ  
của Việt Nam đã gia tăng một cách mạnh mẽ.  
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích  
đánh giá hiện trạng cũng như làm nổi bật những  
thách thức trong việc quản lý các KDTSQ tại  
Việt Nam.  
Phương pháp tham vấn chuyên gia thực hiện  
trong nghiên cứu này nhằm xác nhận các thông  
tin, kiểm tra chéo, cập nhật và đánh giá các thông  
tin tổng hợp được từ tài liệu thứ cấp và các  
nghiên cứu đã có. Theo đó 8 chuyên gia đang  
công tác tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông  
thôn (NN&PTNT), KDTSQ (Cát Bà và Châu thổ  
sông Hồng) và các tổ chức phi chính phủ đang  
triển khai các hoạt động dự án tại các KDTSQ đã  
được lựa chọn để phỏng vấn sâu. Các nội dung  
tham vấn gồm có: chính sách và các quy định về  
quản lý KDTSQ; đánh giá thuận lợi, khó khăn và  
thách thức trong quá trình quản lý các KDTSQ.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên  
cứu tại bàn và tham vấn chuyên gia để tìm hiểu  
hiện trạng, phát hiện những thách thức trong quá  
trình quản lý các KDTSQ tại Việt Nam. Các tài  
liệu liên quan về hệ thống thể chế luật pháp, các  
chính sách, quy định của các cơ quan quốc tế  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
85  
Hình 3. Khung tiếp cận nghiên cứu.  
3. Kết quả và thảo luận  
Môi trường (TN&MT) được giao nhiệm vụ làm  
đầu mối quốc gia, nhằm chỉ đạo, hướng dẫn việc  
lập hồ sơ đề cử công nhận và quản lý các  
KDTSQ2, tuy nhiên cho đến nay, Bộ vẫn chưa  
ban hành được bất cứ một văn bản quy phạm  
pháp luật nào về KDTSQ. Đặc biệt là các chính  
sách liên quan tới việc tổ chức quản lý thống nhất  
các KDTSQ, cũng như định hướng cho sự phát  
triển của hệ thống này trong tương lai.  
Qua phân tích 4 yếu tố của khung tiếp cận kể  
trên, nghiên cứu này đã có một số phát hiện cụ  
thể như sau:  
3.1. Về chính sách quản lý khu dự trữ sinh quyển  
Hiện tại đã có các chính sách tương đối chặt  
chẽ liên quan đến quản lý ở vùng lõi của các  
KDTSQ, gồm vườn quốc gia (VQG), khu bảo  
tồn thiên nhiên (KBTTN) và khu bảo vệ cảnh  
quan (KBVCQ). Thậm chí, một số chính sách có  
tính đột phá, mở đường cho việc huy động, xã  
hội hóa các nguồn đầu tư, từng bước tạo lập tài  
chính bền vững cho hoạt động của các khu vực  
này. Tuy nhiên, một thách thức đặt ra là hiện nay  
KDTSQ không được đề cập đến trong hệ thống  
chính sách quốc gia như là một thể thống nhất.  
Cụ thể, khái niệm KDTSQ vẫn chưa có trong hệ  
thống quy phạm pháp luật quản lý quốc gia hiện  
hành và thiếu một khung pháp lý chuyên biệt  
dành cho việc quản lý các KDTSQ. Hiện tại,  
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân  
dân (2003) vẫn chưa đề cập đến chức năng quản  
lý nhà nước về quản lý KDTSQ. Ngoài ra, vẫn  
chưa có chính sách quản lý thống nhất đối với  
KDTSQ từ cấp trung ương đến địa phương.  
3.2. Về cơ cấu và chức năng của các cơ quan  
quản lý khu dự trữ sinh quyển  
Tại Việt Nam, KDTSQ chịu sự quản lý của  
nhiều cơ quan khác nhau. Trong khi vùng lõi  
(VQG/KBTTN/KBVCQ) được quản lý trực tiếp  
theo ngành dọc của các bộ chuyên ngành (Bộ  
NN&PTNT, Bộ TN&MT), thì vùng đệm và  
vùng chuyển tiếp lại chịu sự quản lý của các địa  
phương. Do đó, để tổ chức phối hợp hoạt động  
của các sở, ban, ngành liên quan, của các cấp  
chính quyền địa phương và cộng đồng, các  
KDTSQ đã thành lập các Ban quản lý (BQL) và  
các bộ phận hỗ trợ (gọi chung là BQL). Đối với  
các KDTSQ nằm trong ranh giới 1 tỉnh, quyết  
định thành lập BQL do UBND tỉnh phê duyệt.  
Trong trường hợp KDTSQ nằm trong ranh giới  
của nhiều tỉnh như KDTSQ Châu thổ sông Hồng,  
quyết định thành lập BQL do Ủy ban quốc gia  
UNESCO Việt Nam ban hành. BQL thực hiện  
nhiệm vụ tham mưu giúp UBND tỉnh/thành phố  
quản lý KDTSQ theo các quy định của pháp luật  
Việt Nam và theo hướng dẫn về chuyên môn,  
nghiệp vụ của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt  
Kết quả rà soát và tham vấn chuyên gia cũng  
cho thấy, các hướng dẫn về các quy định chung  
đối với quản lý KDTSQ vẫn còn đang rất thiếu.  
Mặc dù KDTSQ được đề cập đến trong Chiến  
lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020,  
tầm nhìn đến năm 20301 và Bộ Tài nguyên và  
________  
1
2
Quyết định số 1250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  
Nghị định số 36/2017/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ  
ngày 31 tháng 07 năm 2013 về phê duyệt Chiến lược quốc  
gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm  
2030.  
ngày 04/4/2017 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
86  
Nam và Ủy ban Quốc gia Chương trình Con  
người và Sinh quyển (MAB Việt Nam).  
cũng tham gia như: các nhà khoa học, tổ chức  
chính trị xã hội. Tuy nhiên, hầu hết thành viên  
BQL các KDTSQ vẫn chủ yếu là các thành viên  
của cơ quan quản lý nhà nước, sự tham gia của  
cộng đồng và doanh nghiệp còn tương đối vắng  
bóng [13]. Đồng thời, sự phối hợp của các bên  
còn tương đối yếu. Ví dụ BQL KDTSQ Cù Lao  
Chàm đã có đại diện đầy đủ 4 thành phần (nhà  
quản lý - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - cộng  
đồng), tuy nhiên, sự tham gia của đại diện 4 nhà  
chưa thật sự đồng đều, sự phối hợp còn hạn chế  
[14]. Ngoài ra, một đặc thù của BQL KDTSQ là  
hầu hết các thành viên đều làm việc theo chế độ  
kiêm nhiệm.  
- Về cơ cấu tổ chức, các BQL KDTSQ hiện  
chưa có mô hình tổ chức thống nhất. Mỗi địa  
phương hình thành bộ máy tổ chức quản lý  
KDTSQ tùy thuộc tiếp cận của mình. Các  
KDTSQ thường có một cơ cấu sau: (1) Ban quản  
lý; (2) Văn phòng hoặc Bộ phận thư ký; (3) Hội  
đồng tư vấn. Cụ thể: BQL do một lãnh đạo cấp  
tỉnh/thành phố làm trưởng ban, với các thành  
viên là lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND các  
huyện thuộc KDTSQ. Tùy theo điều kiện đặc thù  
của từng KDTSQ, một số thành viên BQL là đại  
diện của các bên có liên quan khác tại địa phương  
Hình 4. Hệ thống quản lý KDTSQ tại Việt Nam.  
Nguồn: Van Cuong et al., (2017) [8]  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
87  
- Về chức năng, BQL thường không quản lý  
trực tiếp về mặt lãnh thổ mà tổ chức điều phối  
các hoạt động. Hiện tại, việc quản lý các KDTSQ  
dựa trên sự hợp tác giữa MAB Việt Nam và BQL  
của các KDTSQ.  
Hiện tại, do thiếu hụt các hướng dẫn về quản  
lý KDTSQ, nên các chính sách phát triển dài hạn  
đều là các sáng kiến của BQL KDTSQ. KDTSQ  
Đồng Nai đã xây dựng đề án bảo tồn và phát triển  
KDTSQ giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến  
2030; KDTSQ miền Tây Nghệ An đã xây dựng  
định hướng chiến lược quản lý bền vững  
KDTSQ giai đoạn 2017-2027; KDTSQ Kiên  
Giang đã xây dựng kế hoạch hành động 2013-  
2015, tầm nhìn 2020; KDTSQ Cù Lao Chàm-  
Hội An đã xây dựng kế hoạch quản lý tổng hợp  
2015-2019, tầm nhìn 2030; KDTSQ Cần Giờ đã  
xây dựng dự án tổ chức quản lý bền vững tầm  
nhìn 2025; KDTSQ Langbiang đã xây dựng và  
đưa vào thực hiện kế hoạch quản lý 05 năm  
(2018-2022); KDTSQ quần đảo Cát Bà là  
KDTSQ đầu tiên tại Việt Nam đã xây dựng Kế  
hoạch hành động Lima cho KDTSQ của mình.  
Trong khi đó, KDTSQ Châu thổ sông Hồng và  
Mũi Cà Mau vẫn đang loay hoay trong việc kiện  
toàn bộ máy quản lý và vẫn chưa xây dựng được  
kế hoạch phát triển dài hạn. Theo kết quả tham  
vấn chuyên gia, mặc dù một số KDTSQ đã xây  
dựng được các kế hoạch quản lý dài hạn, một số  
kết hoạch vẫn còn nhiều điểm chưa tương thích  
với hệ thống giám sát theo Khung Pháp lý và Kế  
hoạch hành động Lima. Kết quả này cũng tương  
đồng phát hiện trong nghiên cứu của Van Cuong  
và cộng sự (2018) tại KDTSQ Kiên Giang [13].  
Tính đến thời điểm hiện tại, MAB Việt Nam  
cũng chưa đưa ra được một hướng dẫn mang tính  
thống nhất để giúp các KDTSQ kiện toàn bộ máy  
tổ chức và quy chế thực hiện. Theo ý kiến tham  
vấn chuyên gia, điều này dẫn tới nhiều KDTSQ  
hiện vẫn gặp khó khăn trong việc kiện toàn bộ  
máy tổ chức quản lý. Điển hình như KDTSQ  
miền Tây Nghệ An, phải sau 6 năm thành lập  
mới thành lập được BQL KDTSQ và sau 7 năm  
mới ban hành được quy chế quản lý. KDTSQ  
Mũi Cà Mau, sau 5 năm thành lập, quy chế quản  
lý mới được ban hành.  
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng,  
nhiều khu KDTSQ ở Việt Nam nằm trong nhiều  
huyện của 1 tỉnh, hoặc nhiều tỉnh với diện tích  
và dân số rất lớn, nên công tác quản lý của  
KDTSQ đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.  
Điển hình như KDTSQ Đồng Nai, nằm trong địa  
giới hành chính của 5 tỉnh, 18 huyện, 1 thành phố  
và 1 thị xã. Tuy nhiên, BQL chỉ bao gồm các  
thành phần nhà nước, đại diện tổ chức xã hội và  
doanh nghiệp của tỉnh Đồng Nai, nên những hoạt  
động của KDTSQ tại 4 tỉnh còn lại không mạnh  
mẽ, thậm chí không có hoạt động nào được thực  
hiện dưới danh nghĩa của KDTSQ như một thể  
thống nhất.  
Hiện trạng thực tế và kết quả tham vấn ý  
kiến chuyên gia cũng cho thấy, nỗ lực quản lý ở  
hầu hết các KDTSQ thường tập trung vào bảo  
tồn đa dạng sinh học truyền thống trong vùng lõi  
- khu vực bảo vệ nghiêm ngặt. Trong khi đó, rất  
ít chú ý tới vùng đệm và vùng chuyển tiếp cũng  
như toàn bộ KDTSQ như một chỉnh thể thống  
nhất. Các mục tiêu lớn hơn về phát triển bền  
vững và lợi ích kinh tế từ KDTSQ vẫn chưa được  
thực hiện đầy đủ hoặc chỉ được thực hiện thông  
qua một số các dự án hạn chế. Điển hình như  
KDTSQ Châu thổ sông Hồng, ngoài các hoạt  
động chuyên môn của 2 vùng lõi chính là VQG  
Xuân Thủy và KBTTN đất ngập nước Tiền Hải  
cùng các Chi cục Biển, đảo là đầu mối của  
KDTSQ trực thuộc Sở TN&MT 3 tỉnh, trong  
năm 2019, KDTSQ không có hoạt động nổi bật  
nào do không có nguồn lực chủ đạo. Hay  
3.3. Về tổ chức thực hiện quản lý của các khu dự  
trữ sinh quyển tại Việt Nam  
Nguyên tắc thứ 2 trong 4 nguyên tắc quản lý  
KDTSQ trong Khung Pháp lý của Mạng lưới  
toàn cầu các KDTSQ thế giới đã nhấn mạnh tầm  
quan trọng của việc xây dựng được một chiến  
lược/kế hoạch trong quản lý KDTSQ [2]. Bởi lẽ  
đây là cơ sở quan trọng để quản lý các KDTSQ  
một cách thống nhất, xuyên suốt, có định hướng  
và là căn cứ quan trọng để BQL KDTSQ huy  
động được những nguồn lực cần thiết để triển  
khai thực hiện những hoạt động của mình.  
Về công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch  
của các khu dự trữ sinh quyển tại Việt Nam  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
88  
KDTSQ Mũi Cà Mau, hoạt động năm 2019 mới  
Về quy trình quản lý và điều phối  
chỉ dừng lại ở một vài hoạt động truyền thông là  
chủ yếu [15]. Những mô hình nâng cao thu nhập  
người dân theo hướng gắn với bảo tồn thiên  
nhiên còn ít và chưa thực sự đạt hiệu quả cao,  
bền vững, chưa xứng tầm với vị trí đáng có trong  
chuỗi giá trị quốc gia, khu vực và toàn cầu [16].  
BQL KDTSQ cũng chưa chủ động thực hiện các  
chương trình dự án, chỉ tham gia mang tính phối  
hợp nên hiệu quả mang lại chưa cao [17].  
Đảm bảo sự tham gia và hợp tác của các bên  
liên quan được xem là 2 nhân tố quan trọng nhất  
ảnh hưởng đến sự thành công trong quản lý  
KDTSQ [8, 13, 18]. Do có rất nhiều bên liên  
quan trong KDTSQ (Hình 5), việc quản lý một  
KDTSQ thực chất là công việc điều phối sự hợp  
tác và tham gia của các bên tuân theo các định  
chế pháp lý hiện hành, dựa trên nguyên tắc đồng  
thuận, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm [5].  
Hình 5. Các bên liên quan trong KDTSQ.  
Nguồn: Tri et al., (2014) [5]  
Hiện tại, 8/9 KDTSQ chưa xây dựng và ban  
tham gia. Tuy nhiên, sự phối hợp và quản lý thực  
tế của KDTSQ thường thuộc về một sở hoặc  
VQG/KBTTN nằm dưới sự quản lý của Chi cục  
Lâm nghiệp thuộc Sở NN&PTNT. Sự phối hợp  
liên ngành trong thực hiện quản KDTSQ còn hạn  
chế [8]. Ví dụ, cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi  
ích giữa BQL KDTSQ và cộng đồng thông qua  
đồng quản lý và chia sẻ lợi ích ở KDTSQ Cù Lao  
Chàm - Hội An và Châu thổ sông Hồng được  
thực hiện giữa VQG và cộng đồng địa phương  
dưới sự hỗ trợ từ các dự án thay vì BQL KDTSQ  
[19].  
hành được cơ chế điều phối, hợp tác và chia sẻ  
thông tin giữa các bên liên quan. Kết quả tham  
vấn chuyên gia của nghiên cứu này cũng cho  
thấy, mặc dù KDTSQ Châu thổ sông Hồng đã  
ban hành quy chế phối hợp liên tỉnh3, tuy nhiên,  
các hoạt động hợp tác liên vùng giữa các tỉnh  
trong KDTSQ còn hạn chế.  
Theo chức năng nhiệm vụ, BQL KDTSQ  
đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy sự tham  
gia và hợp tác của các bên liên quan. Hiện tại,  
BQL do phó chủ tịch tỉnh/thành phố làm chủ  
tịch. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc  
huy động các nguồn lực và điều phối các bên  
Mặc dù sự tham gia và hợp tác mạnh mẽ giữa  
khu vực công lập và ngoài công lập là một trong  
________  
3 Quyết định số 466/QĐ-UBQG UNESCO ngày 26/7/2013  
ban hành quy chế phối hợp quản lý bảo tồn và phát triển bền  
vững khu DTSQ đất ngập nước liên tỉnh ven biển đồng bằng  
Châu thổ sông Hồng.  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
89  
những nhân tố quan trọng để đảm bảo thành công  
trong quản lý KDTSQ [20, 21], tuy nhiên kết quả  
tham vấn chuyên gia cho thấy, các quyết định lập  
kế hoạch và quản lý cho KDTSQ cho đến nay chỉ  
có sự tham gia của cơ quan cấp tỉnh và các sở  
chuyên ngành, trong khi sự tham gia của cộng  
đồng địa phương và khu vực tư nhân còn rất hạn  
chế. Gần đây, sự tham gia của cộng đồng trong  
công tác quản lý KDTSQ cũng bắt đầu được chú  
trọng, điều này thể hiện ở sự phối hợp giữa các  
cơ quan nhà nước với cộng đồng dân cư trong  
việc xây dựng một số quy hoạch, kế hoạch,  
chương trình quản lý và phát triển sinh kế thuộc  
KDTSQ [22].  
viên ở tất cả các BQL KDTSQ là một vấn đề cần  
được xem xét. Họ đều là lãnh đạo các cơ quan  
quản lý của địa phương hay tổ chức xã hội. Công  
việc chính của họ cũng khá nặng nề, cả về khối  
lượng công việc cần giải quyết hàng ngày, cũng  
như thời gian dành cho giải quyết các công việc  
đó. Điều này dẫn tới việc dành thời gian của họ  
cho các hoạt động liên quan đến KDTSQ còn hạn  
chế. Đây cũng là một trong những khó khăn  
trong công tác quản lý KDTSQ. Bên cạnh đó,  
hầu hết các thành viên BQL và nhân viên chỉ  
được đào tạo đơn ngành, hiểu biết của họ về vai  
trò của việc quản lý và lập kế hoạch quản lý  
KDTSQ như là một quá trình tích hợp còn giới  
hạn [13, 23]. Khả năng ngoại ngữ chưa đáp ứng  
yêu cầu hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học  
[24]. Đồng thời, nguồn kinh phí phục vụ cho việc  
nâng cao năng lực, đặc biệt là năng lực quản lý  
và yêu cầu kiến thức hệ thống cho đổi mới, thay  
đổi còn hạn chế [19].  
3.4. Về nguồn lực cho quản lý  
Trước hết, về nguồn nhân lực quản lý. Số cán  
bộ trực tiếp làm việc liên quan đến công tác quản  
lý của các KDTSQ khoảng 30 người (1 trưởng  
ban, 2-6 phó trưởng ban, 18-21 ủy viên, 4-6  
thành viên ban thư ký/văn phòng). Tuy nhiên,  
điểm đặc thù của các KDTSQ là các thành viên  
của BQL thường là lãnh đạo của các sở, ban,  
ngành, UBND địa phương (cấp huyện) và các  
VQG/KBTTN/KBVSC trong phạm vi không  
gian của KDTSQ và làm việc với cơ chế kiêm  
nhiệm là chủ yếu. Mỗi đơn vị, cơ quan này lại có  
một bộ máy với các nguồn lực riêng biệt để thực  
hiện các chứ năng nhiệm vụ của mình. Ví dụ,  
BQL KDTSQ Kiên Giang hoạt động theo hình  
thức kiêm nhiệm gồm 01 trưởng ban là Phó Chủ  
tịch UBND tỉnh Kiên Giang, 6 Phó Trưởng ban  
(Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ là phó  
trưởng ban thường trực) và 21 ủy viên là đại diện  
lãnh đạo các sở ngành, địa phương. Hay đối với  
KDTSQ Châu thổ sông Hồng, Trưởng ban là Phó  
Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách TN&MT của một  
trong 3 tỉnh được bầu theo cơ chế luân phiên 5  
năm/1 nhiệm kỳ, 2 Phó Trưởng ban là 2 Phó Chủ  
tịch UBND phụ trách TN&MT của hai tỉnh còn  
lại. Như vậy, công tác quản lý hay hiệu quả quản  
lý của KDTSQ, về thực chất là công việc và mức  
độ huy động, điều phối được nguồn nhân lực sẵn  
có từ các cơ quan, đơn vị mà lãnh đạo là thành  
viên của BQL KDTSQ.  
Thứ hai, về nguồn lực tài chính cho quản lý.  
Các nguồn tài chính cơ bản cho hoạt động quản  
lý của KDTSQ bao gồm: (1) nguồn ngân sách  
của nhà nước; (2) nguồn ngân sách cho vùng lõi  
của KDTSQ; (3) nguồn kinh phí từ các đề tài dự  
án hợp tác; (4) nguồn kinh phí từ hoạt động du  
lịch, chi trả dịch vụ môi trường rừng; (5) nguồn  
kinh phí khác (các nguồn kinh phí tự chủ, bao  
gồm các hoạt động nghiên cứu, dịch vụ và phát  
triển).  
Do KDTSQ hiện nay về thực chất vẫn chưa  
phải thực thể quản lý đầy đủ và đúng nghĩa đặt  
ra một thách thức cho các KDTSQ để có được  
ngân sách của trung ương. Hiện tại, hoạt động  
của các KDTSQ hiện vẫn phụ thuộc vào ngân  
sách tỉnh và các dự án bên ngoài.  
Nhìn chung, nguồn lực tài chính cho quản lý  
các KDTSQ còn vừa rất hạn chế so với nhu cầu  
quản lý (khoảng 1 tỷ đồng/năm/KDTSQ cho  
hoạt động điều phối của BQL KDTSQ), tương  
đối ít kết nối với hệ thống quản lý tài chính công  
ở địa phương. Nguồn tài chính này hiện chủ yếu  
dựa vào nguồn ngân sách nhà nước, cấp vào tài  
khoản của một sở đầu mối (thường là Sở  
NN&PTNT) theo dự trù hàng năm, được UBND  
cấp tỉnh/thành phố phê duyệt. Việc phân bổ kinh  
phí phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện kinh tế  
Kết quả thực tế và tham vấn ý kiến chuyên  
gia cũng cho thấy, sự kiêm nhiệm của các thành  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
90  
cụ thể của mỗi địa phương. Chẳng hạn, KDTSQ  
4. Kết luận  
Việt Nam bắt đầu tham gia mạng lưới các  
Cần Giờ, Cát Bà và Đồng Nai có được sự hỗ trợ  
tài chính tốt hơn so với các KDTSQ khác như  
Châu thổ sông Hồng, Tây Nghệ An vì cả Đồng  
Nai, Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh đều  
là những tỉnh có nguồn thu ngân sách lớn. Với  
số kinh phí này, các BQL KDTSQ chủ yếu thực  
hiện các hoạt động chi thường xuyên và một vài  
hoạt động đào tạo cán bộ và nâng cao nhận thức  
cho cộng đồng. Trừ vùng lõi của KDTSQ được  
quy định nguồn tài chính theo luật định, vùng  
đệm và vùng chuyển tiếp của KDTSQ nằm trên  
địa bàn quản lý của một hay một vài huyện, xã,  
nhưng hiện không có quy định nào về tài chính  
(cấp tỉnh, thành phố, huyện, xã) dành cho quản  
lý vùng đệm và vùng chuyển tiếp của KDTSQ.  
KDTSQ thế giới từ năm 2000. Cho đến nay, Việt  
Nam đứng thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á về số  
lượng KDTSQ. Đây là những khu vực chứa HST  
đa dạng, văn hóa và kinh tế tiêu biểu, đóng góp  
quan trọng trong việc bảo tồn, phát triển bền  
vững của khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, thực  
tế cho thấy, vẫn còn nhiều thách thức trong quản  
lý các KDTSQ hiện nay.  
Thứ nhất, KDTSQ vẫn chưa được đưa vào  
hệ thống luật pháp quốc gia như một thể thống  
nhất. Điều này dẫn đến việc thiếu khung pháp lý  
liên quan đến quản lý, giám sát các KDTSQ.  
Thứ hai, cơ cấu quản lý KDTSQ ở Việt Nam  
chưa thống nhất và không được phân định đầy  
đủ ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương. Sự vắng  
mặt của cộng đồng, các tổ chức xã hội và khu  
vực tư nhân trong hệ thống quản lý các KDTSQ  
là một trong những thách thức trong việc quản  
lý, thiết lập quan hệ đối tác công - tư có sự tham  
gia của cộng đồng trong quản lý KDTSQ.  
Các dự án bên ngoài là nguồn tài trợ lớn thứ  
hai (sau ngân sách chính phủ) cho đa dạng sinh  
học và bảo vệ môi trường tại Việt Nam [22]. Bên  
cạnh đó, phần lớn các chuyên gia được tham vấn  
trong nghiên cứu này cũng cho rằng, việc huy  
động nguồn ngoài ngân sách nhà nước là rất khó  
khăn, ít ỏi và chưa ổn định (thường là một số  
đóng góp mang tính tài trợ của một số tổ chức  
quốc tế, doanh nghiệp). Ngoài ra, hoạt động tài  
trợ thường tập trung vào "điều trị triệu chứng"  
thay vì can thiệp ở quy mô hệ thống [25]. Một số  
dự án quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn, các  
hoạt động được thiết kế riêng rẽ, thiếu liên kết  
đồng bộ với các hoạt động của các chương  
trình/dự án khác [13]. Điều này dẫn đến các can  
thiệp có thể có tác động tạm thời nhưng chưa  
thiết lập các giải pháp lâu dài và bền vững.  
Thứ ba, sự phối hợp liên ngành trong công  
tác lập kế hoạch và quản lý KDTSQ ở Việt Nam  
đặc biệt bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Do  
thiếu các hướng dẫn về quản lý KDTSQ, nên các  
kế hoạch quản lý hiện nay đều là các sáng kiến  
của địa phương. Các kế hoạch quản lý dài hạn  
các KDTSQ ở Việt Nam vẫn chưa thực sự tương  
thích theo Khung Pháp lý và Kế hoạch hành  
động Lima. Đồng thời, sự tham gia của cộng  
đồng địa phương và khu vực tư nhân vào việc lập  
kế hoạch và quản lý còn hạn chế. Các mục tiêu  
lớn hơn về phát triển bền vững và lợi ích kinh tế  
từ KDTSQ vẫn chưa được thực hiện đầy đủ hoặc  
chỉ được thực hiện thông qua một số các dự án.  
Thực tế hiện nay, chưa có cơ chế huy động  
nguồn lực tài chính mang tính chất bền vững từ  
các hoạt động phát triển (du lịch, nuôi trồng thủy  
hải sản, nghiên cứu khoa học …). Ngoài KDTSQ  
quần đảo Cát Bà đã thiết lập Quỹ phát triển bền  
vững4, hiện tại, quan hệ đối tác giữa KDTSQ với  
các bên liên quan để tạo nguồn lực quản lý còn  
hạn chế.  
Thứ tư, việc xây dựng và thực hiện cơ chế  
điều phối, hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các  
bên liên quan tại các KDTSQ còn thiếu và thực  
hiện chưa hiệu quả. Các hoạt động hợp tác liên  
vùng giữa các tỉnh trong KDTSQ còn hạn chế.  
Các BQL KDTSQ chưa thực sự phát huy một  
________  
4
Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) quần đảo Cát Bà là khu  
triển khai doanh nghiệp xã hội, là thành viên của mạng lưới  
vốn xã hội và doanh nghiệp xã hội trong các khu SQTG  
toàn cầu.  
DTSQ đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á thành lập Quỹ  
Phát triển bền vững Khu DTSQ. Đây là Khu SQTG đầu tiên  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
91  
Land/seascape  
Planning,  
Inter-sectoral  
cách tích cực trong việc điều phối sự tham gia  
của các bên liên quan.  
Coordination and Quality Economy (SLIQ), the  
57th Annual Meeting of the ISSS, Hai Phong,  
Vietnam, 2014,  
h/article/view/2118.  
Thứ năm, nguồn nhân lực cho hoạt động  
quản lý KDTSQ còn hạn chế. Việc cán bộ quản  
lý chủ yếu là kiêm nhiệm và thiếu những kỹ năng  
và kinh nghiệm cần thiết, nên đây cũng là những  
khó khăn trở ngại lớn của các KDTSQ.  
[6] UNESCO, The MAB Strategy 2015-2025, 2015,  
http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIME  
DIA/HQ/SC/pdf/MAB_Strategy_2015-  
2025_final_text.pdf.  
Thứ sáu, thiếu khung pháp lý quốc gia liên  
quan tạo ra khó khăn cho các KDTSQ có được  
tài trợ từ ngân sách trung ương. Hoạt động của  
các KDTSQ chỉ dựa vào nguồn phân bổ hạn chế  
từ tỉnh/thành phố trực thuộc và sự hỗ trợ không  
thường xuyên của các tổ chức quốc tế. Việc thiếu  
kinh phí hoạt động khiến các KDTSQ hoạt động  
chưa thực sự hiệu quả. Hiện tại, chưa có cơ chế  
huy động nguồn lực tài chính mang tính chất bền  
vững từ các hoạt động phát triển. Quan hệ đối tác  
giữa KDTSQ với các bên liên quan để tạo nguồn  
lực quản lý còn hạn chế.  
[7] K. L. Coetzer, E. T. Witkowski, B. F. Erasmus,  
Reviewing Biosphere Reserves Globally: Effective  
Conservation Action or Bureaucratic Label?,  
Biological Reviews, Vol. 89, No. 1, 2014, pp. 82-  
104,  
[8] C. Van Cuong, P. Dart, N. Dudley, M. Hockings,  
Factors Influencing Successful Implementation of  
Biosphere Reserves in Vietnam: Challenges,  
opportunities and Lessons Learnt, Environmental  
Science and Policy, Vol. 67, 2017, pp. 16-26,  
[9] UNESCO, Directory of the World Network of  
Biosphere Reserves (WNBR), 2020,  
Tài liệu tham khảo  
sciences/environment/ecological-  
sciences/biosphere-reserves/world-network-  
wnbr/wnbr/ (accessed on: June 5th, 2020)  
[1] N. Ishwaran, A. Persic, N. H. Tri, Concept and  
Practice: The Case of UNESCO Biosphere  
Reserves, International Journal of Environment  
and Sustainable Development, Vol. 7, No. 2, 2008,  
pp. 118-131,  
[10] UNESCO MAB, MAB Vietnam, UNESCO  
Vietnam, Handbook of frequently asked questions  
about Biosphere Reserves in Vietnam, Hanoi,  
Vietnam, 2021 (in Vietnamese)  
[2] UNESCO, Biosphere Reserves: the Seville  
Strategy and the Statutory Framework of the World  
Network, 1996,  
[11] German MAB National Committee, Criteria for  
Designation and Evaluation of UNESCO  
Biosphere Reserves in Germany, 1996,  
849.  
Dokumente/BR_Kriterien_nat_eng.pdf (accessed  
on: June 18th, 2020).  
[3] UNESCO, Lima Action Plan for UNESCO’s Man  
and the Biosphere (MAB) Programme and its  
World Network of Biosphere Reserves (2016-  
2025) as endorsed by the 4th World Congress of  
Biosphere Reserves on 17 March 2016, and as  
adopted by the 28th MAB ICC on 19 March 2016,  
Lima, Peru, 2016,  
[12] R. Pool-Stanvliet, S. Stoll-Kleemann, J. H.  
Giliomee, Criteria for Selection and Evaluation of  
Biosphere Reserves in Support of the UNESCO  
MAB Programme in South Africa, Land Use  
Policy, Vol. 76, 2018, pp. 654-663,  
http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIME  
DIA/HQ/SC/pdf/Lima_Action_Plan_en_final.pdf.  
[13] C. V. Cuong, P. Dart, N. Dudley, M. Hockings,  
Building Stakeholder Awareness and Engagement  
Strategy to Enhance Biosphere Reserve  
Performance and Sustainability: The Case of Kien  
Giang, Vietnam, Environmental Management,  
Vol. 62, No. 5, 2018, pp. 877-891,  
[4] UNESCO, World Network of Biosphere Reserves,  
2020,  
on: June 18th, 2020).  
(accessed  
[5] N. H. Tri, T. T. Hoa, L. T. Tuyen, Management of  
MAB Vietnam’s Network of Biosphere Reserves  
Through the Approach of System Thinking,  
N.V. Hieu et al. / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 81-92  
92  
[14] Management Board of Cu Lao Cham-Hoi An  
Management: Evidence and Reflections from Two  
Parallel Global Surveys, Environmental  
Conservation, Vol. 37, No. 3, 2010, pp. 227-238,  
Biosphere Reserve, Performance Report in 2019  
and Orientation for 2020, 2019 (in Vietnamese)  
https://doi.org/10.1017/S037689291000038X.  
[15] N. H. Tri , V. T. Hien, Implementation of the Lima  
Action Plan "Promoting Eco-tourism in the  
World's Biosphere Reserves in Vietnam",  
Performance Review Workshop in 2019,  
Orientation for 2020, Hoi An, Vietnam, 2019, (in  
Vietnamese).  
[21] S.  
Stoll-Kleemann,  
M.  
Welp,  
Society,  
Participatory and Integrated Management of  
Biosphere Reserves Lessons from Case Studies and  
a Global Survey, Gaia-ecological Perspectives for  
Science, Vol. 17, 2008, pp. 161-168,  
[16] Management Board of Cat Ba Archipelago  
Biosphere Reserve, Performance Report in 2019  
and Orientation for 2020, 2019 (in Vietnamese).  
[22] V. T. Son, Final Report on Implementation of  
National Science and Technology Task: Research  
and Development of a Set of Criteria and Process  
for Monitoring and Evaluation of the Efficiency of  
Management of Biosphere Reserves in Vietnam.  
Institute of Natural Resources and Environment,  
Hanoi National University, 2018 (in Vietnamese).  
[17] Management Board of Mui Ca Mau Biosphere  
Reserve, Performance Report in 2019 and  
Orientation for 2020, 2019 (in Vietnamese).  
[18] C. V. Cuong, P. Dart, M. Hockings, Biosphere  
Reserves: Attributes for Success, Journal of  
Environmental Management, Vol. 188, 2017, pp.  
9-17,  
[23] Management Board of Hong River Delta Biosphere  
Reserve, Performance Report in 2019 and  
Orientation for 2020, 2019 (in Vietnamese).  
[24] D. H. Giap, N. H. Tri, H. T. N. Ha, 10 Year  
Reriodic Review Report of Western Nghe An  
Biosphere Reserve. Report submitted to UNESCO,  
2017.  
[19] C. Van Cuong, P. Dart, N. M. Ha, V. T. M. Le, M.  
Hockings, Biosphere Reserves in Vietnam:  
Management Challenges, in: M. G. Reed and M. F.  
Price (Eds.), UNESCO Biosphere Reserves:  
Supporting Biocultural Diversity, Sustainability  
and Society, Routledge, London, 2019, pp. 201-  
212,  
[25] N. C. Nguyen, O. J. Bosch, A Systems Thinking  
Approach to identify Leverage Points for  
Sustainability: A Case Study in the Cat Ba  
Biosphere Reserve, Vietnam, Systems Research  
and Behavioral Science, Vol. 30, No. 2, 2013, pp.  
104-115,  
[20] S. Stoll-Kleemann, A. C. de la Vega-Leinert, L.  
Schultz, The Role of Community Participation in  
the Effectiveness of UNESCO Biosphere Reserve  
pdf 12 trang Thùy Anh 19960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_ly_cac_khu_du_tru_sinh_quyen_o_viet_nam_thuc_trang_va_t.pdf