Tài liệu Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số cho tỉnh Bắc Giang

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG  
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN DÂN TỘC THIỂU SỐ  
(EMDP) TỈNH BẮC GIANG  
(DỰ ÁN VILG)  
(Ban hành kèm theo công văn số  
/STNMT-KHTC ngày tháng 10 năm  
2019 của Sở TNMT tỉnh Bắc Giang)  
Bắc Giang, năm 2019  
1
 
CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Cơ sở dữ liệu  
CSDL  
DTTS  
EMDP  
MPLIS  
PTNT  
TCQLĐĐ  
TNMT  
TW  
Dân tộc thiểu số  
Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số  
Hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu  
Phát triển nông thôn  
Tổng cục Quản lý đất đai  
Tài nguyên và Môi trường  
Trung ương  
UBND  
VILG  
Ủy ban nhân dân  
Dự án “Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai”  
Văn phòng Đăng ký  
VPĐK  
PPMU  
Ban Quản lý Dự án cấp tỉnh  
2
MỤC LỤC  
3
 
I. TỔNG QUAN DỰ ÁN  
1. Khái quát về Dự án  
Mục tiêu của Dự án “Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất  
đai” (viết tắt VILG) là nhằm phát triển, vận hành một hệ thống thông tin đất đai  
quốc gia đa mục tiêu nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Chính phủ, doanh  
nghiệp và người dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả và minh bạch của công tác  
quản lý đất đai tại địa bàn thực hiện dự án thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ  
liệu đất đai, ở cả cấp quốc gia và các địa phương.  
Mục tiêu cụ thể của dự án:  
Phát triển và vận hành Hệ thống thông tin đất đai đa mục đích để đáp ứng  
tốt hơn nhu cầu của các tổ chức, doanh nghiệp và người dân.  
- Phát triển, vận hành một hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu nhằm  
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của địa phương, doanh nghiệp và người dân.  
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và minh bạch của công tác quản lý đất đai  
tại địa bàn thực hiện dự án thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.  
- Hoàn thiện và vận hành CSDL đất đai của địa phương (dữ liệu địa chính,  
dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm  
kê đất đai) phục vụ công tác quản lý đất đai, cung cấp dịch vụ công về đất đai,  
kết nối với Trung ương và chia sẻ thông tin đất đai với các ngành có liên quan  
(thuế, công chứng, ngân hàng,…).  
- Hoàn thiện việc cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai thông qua  
việc hiện đại hóa hệ thống VPĐK từ việc cải tiến quy trình, tiêu chuẩn dịch vụ  
tới việc trang bị thiết bị đầu - cuối của VPĐK và đào tạo cán bộ.  
- Nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của  
cộng đồng đối với Dự án; đặc biệt là đối với công tác xây dựng, quản lý và vận  
hành hệ thống thông tin đất đai; hệ thống theo dõi, đánh giá quản lý và sử dụng  
đất đai.  
2. Nội dung dự án  
Dự án sẽ bao gồm 3 hợp phần như sau:  
• Hợp phần 1: Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ đất đai  
Hợp phần này sẽ hỗ trợ: (I) Hiện đại hóa và tăng cường chất lượng cung cấp  
dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai, (II) Đào tạo, truyền thông và tổ chức thực hiện  
kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số; (III) Thiết lập và thực hiện Hệ thống theo dõi  
và đánh giá việc quản lý và sử dụng đất.  
Hợp phần này sẽ hỗ trợ nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ đất đai  
thông qua việc hoàn thiện quy trình và tiêu chuẩn dịch vụ, cải tạo cơ sở vật  
chất, nâng cao năng lực của các cán bộ VPĐK ở các huyện dự án. Hợp phần  
này sẽ hỗ trợ việc thống nhất các tiêu chuẩn nghiệp vụ và cơ sở vật chất của  
VPĐK và Chi nhánh VPĐK, đồng thời tăng cường sự tham gia của người  
4
     
dân, khu vực tư nhân và các bên liên quan khác thông qua các chiến dịch  
truyền thông và nâng cao nhận thức. Các hoạt động của hợp phần này sẽ tạo  
điều kiện để triển khai các hoạt động kỹ thuật trong khuôn khổ Hợp phần 2  
của dự án. Ngoài ra, Hợp phần này cũng sẽ giúp theo dõi việc thực hiện quản  
lý sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và dần dần đáp ứng  
các nhu cầu của nền kinh tế, xã hội trong hiện tại và trong tương lai về khả  
năng tiếp cận tốt hơn với các thông tin và dịch vụ thông tin đất đai.  
• Hợp phần 2: Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và triển khai hệ thống  
thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu (MPLIS)  
Hợp phần này hỗ trợ cho: (I) phát triển một mô hình hệ thống thông tin  
đất đai đa mục tiêu, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc; (thiết lập hạ  
tầng công nghệ thông tin, phần mềm để quản trị và vận hành hệ thống cho cả  
nước; (II) Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia với 04 thành phần là: (1)  
thông tin địa chính; (2) quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (3) giá đất và (4)  
thống kê, kiểm kê đất đai; (III) Phát triển triển Cổng thông tin đất đai, dịch vụ  
công điện tử trong lĩnh vực đất đai và chia sẻ, liên thông dữ liệu với các  
ngành, lĩnh vực khác dựa trên Khung kiến trúc chính phủ điện tử được Bộ  
Thông tin và Truyền thông ban hành nhằm tăng cường sự tham gia của người  
dân đối với hệ thống MPLIS.  
• Hợp phần 3: Hỗ trợ quản lý dự án  
Hợp phần này sẽ: (I) hỗ trợ quản lý dự án, (II) hỗ trợ theo dõi và đánh giá  
dự án.  
- Tên dự án: “Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai”,  
Tiếng Anh “Vietnam - Improved Land Governance and Database Project”, tên  
viết tắt: VILG.  
- Tên nhà tài trợ: Ngân hàng Thế giới.  
- Cơ quan chủ quản đề xuất dự án: Bộ Tài nguyên và Môi trường.  
- Cơ quan chủ quản tham gia dự án: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.  
- Chủ dự án:  
+ Chủ dự án đề xuất dự án: Tổng cục Quản lý đất đai (TCQLĐĐ), Bộ Tài  
nguyên và Môi trường (Bộ TNMT).  
+ Chủ dự án đối với địa bàn được đầu tư xây dựng CSDL đất đai: Sở Tài  
nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang.  
- Thời gian thực hiện dự án: Từ năm 2017 đến năm 2022.  
- Địa điểm triển khai dự án: Dự kiến dự án sẽ được triển khai tại 08  
huyện của tỉnh Bắc Giang, gồm: Thành phố Bắc Giang, huyện Yên Dũng, huyện  
Lạng Giang, huyện Lục Nam, huyện Yên Thế, huyện Tân Yên, huyện Hiệp Hòa,  
huyện Việt Yên.  
5
 
II. TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ XÃ HỘI  
PPMU sẽ tiến hành một đánh giá xã hội để thu thập dữ liệu và thông tin  
về các cộng đồng dân tộc thiểu số trong khu vực dự án.  
1. Phạm vi, khu vực DTTS sinh sống trong khu vực triển khai dự án  
Dân tộc thiểu số chính sống ở các huyện dự án của tỉnh Bắc Giang là  
người Tày và Nùng với dân số lần lượt là 41.136 và 29.937 người, trong đó  
người Kinh, dân tộc chiếm đa số ở Việt Nam, chiếm 1.459.875 người. Các  
huyện có người dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Bắc Giang như Bảng dưới  
đây:  
Nhóm người dân Nhóm người Nhóm người dân Nhóm người  
tộc 1  
dân tộc 2  
tộc 3  
dân tộc khác  
Huyện  
Tên  
Số  
Tên  
Số  
Tên Số lượng Tên  
Số  
lượng  
lượng  
lượng  
TP  
Bắc Nùng  
195  
Tày  
337  
Kinh 170.599 Khác  
27  
Giang  
Lạng Giang  
Lục Nam  
Yên Thế  
Nùng  
Nùng  
Nùng  
Nùng  
Nùng  
Nùng  
Nùng  
7.767  
7.701  
Tày  
Tày  
1.645 Kinh 212.265 Khác  
9.661 Kinh 222.345 Khác  
6.648 Kinh 106.407 Khác  
1.139 Kinh 189.794 Khác  
108  
365  
226  
203  
140  
76  
23.486 Tày  
Tân Yên  
1.299  
268  
Tày  
Tày  
Tày  
Tày  
Hiệp Hòa  
Việt Yên  
Yên Dũng  
Tổng cộng  
386  
232  
228  
Kinh 246.964 Khác  
Kinh 160.039 Khác  
Kinh 151.462 Khác  
232  
188  
83  
Nùng 41.136 Tày 29.937 Kinh 1.459.875 Khác 1.192  
Nguồn: Thống kê sách vàng tỉnh Bắc Giang năm 2017  
2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của DTTS trong vùng dự án  
Tính đến ngày 31/12/2017, tổng dân số trung bình toàn tỉnh Bắc Giang có  
1.774.421 dân; trong đó chủ yếu là dân tộc Nùng chiếm 6% tổng dân số; tiếp đến  
là dân tộc Tày chiếm 4%; dân tộc Kinh chiếm 86,1%; dân tộc Sán Dìu chiếm  
2%; dân tộc khác là chiếm 0,09%.  
Đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang sinh sống trải đều ở 10/10  
huyện, thành phố của tỉnh. Đặc thù riêng của từng dân tộc thiểu số như sau:  
a) Dân tộc Nùng:  
6
   
Dân tộc Nùng có số dân đứng thứ nhất trong tỉnh Bắc Giang. Tính đến  
năm 2017, dân số người Nùng ở Bắc Giang có khoảng 93.284 người, chiếm 6%  
tổng dân số của tỉnh. Người Nùng phân bố đều ở các huyện, thành phố trên địa  
bàn toàn tỉnh, nhất là sinh sống ở huyện Sơn Động, huyện Yên Thế, huyện Lạng  
Giang, huyện Lục Nam và huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.  
Người Nùng định cư thành từng làng với quy mô lớn nhỏ khác nhau.  
Làng bản được xây dựng tập trung chủ yếu ven triền đồi. Địa bàn cư trú nằm kề  
sát khu vực đất đai canh tác và gần nguồn nước. Phần lớn nhà của người Nùng  
là nhà sàn là loại nhà cột kê, hai mái chính và hai trái hình thang cân, có từ 3 đến  
5 gian vách bằng vầu, tre nứa, song những nhà khá giả lát bằng ván sẻ có hai cầu  
thang lên xuống, sàn thường làm cách mặt đất khoảng 1,6 mét.  
Nguồn sinh sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô. Họ kết hợp  
làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi. Đồng  
bào Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng,  
hồi... Hồi là cây quý nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể.  
Các ngành nghề thủ công phổ biến cũng được phát triển nhất là nghề dệt, nghề  
mộc và đan lát.  
Mỗi làng đều có Trưởng thôn được người dân trong thôn bầu và có trách  
nhiệm nắm bắt các thông tin liên quan, các chủ trương, chính sách của Đảng và  
nhà nước để truyền bá lại cho người dân trong thôn, nhiệm vụ của Trưởng thôn  
gần giống các Già làng trước đây. Nhìn chung, người Nùng vẫn mang tính cộng  
đồng đoàn kết gắn bó giữa các thành viên, tương trợ, đoàn kết, chia sẻ trong ăn  
uống lễ tết, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Sự liên kết giữa các gia đình cũng  
như sự gắn bó của mỗi thành viên với làng dựa trên quan hệ thân tộc hoặc quan  
hệ láng giềng.  
Về ngôn ngữ giao tiếp đa số người dân tộc Nùng đều nghe và nói được  
tiếng phổ thông ( Tiếng Việt), lên việc triển khai Kế hoạch phát triển dân tộc  
thiểu số là khá thuận lợi.  
Hiện nay, hầu hết người đồng bào dân tộc Nùng ở một số địa bàn các  
huyện trong tỉnh đã được cấp GCN theo dự án đo đạc cấp GCN thuộc dự án tổng  
thể hoặc các dự án cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các thửa đất của  
người dân cơ bản đã đã được cấp giấy theo đúng mục đích sử dụng và chủ sử  
dụng. Tuy nhiên trong quá trình cấp giấy chứng nhận QDS đất gặp rất nhiều khó  
khăn như thường thì các đồng bào dân tộc cho tặng con cái, mua bán, chuyển  
nhượng không có giấy tờ giao dịch theo quy định chủ yếu là giao dịch bằng  
miệng hoặc bằng giấy viết tay không có xác nhận…mặt khác việc làm thất lạc,  
mất giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cũng phổ biến vì người dân chưa thấy việc  
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quan trọng họ vẫn còn phong tục đất  
cha ông để lại sử dụng lâu đời không ai lấn chiếm được. Tuy nhiên bằng nhiều  
hình thức thực hiện, đến nay hầu hết người đồng bào dân tộc Nùng ở địa bàn các  
huyện, thành phố Bắc Giang đã thực hiện cơ bản việc cấp giấy chứng nhận QSD  
đất cho người dân trên địa bản tỉnh nói chung và đồng bào các dân tộc nói riêng.  
7
b) Dân tộc Tày  
Dân tộc Tày là dân tộc có số dân đông thứ hai sau dân tộc Nùng tại tỉnh  
Bắc Giang, với số lượng khoảng 54.919 người, chiếm 4 % dân số của tỉnh.  
Địa bàn cư trú của dân tộc Tày phân bố hầu hết ở 10/10 huyện, thành phố  
của tỉnh Bắc Giang. Giống như đồng bào người Nùng, người Tày sống tập trung  
thành từng bản, làng sinh sống định canh định cư, quây quần thành từng bản  
làng chừng 15 đến 20 hộ thậm trí 80 hộ; chủ yếu sống ở các vùng thung lũng,  
sườn núi nơi thuận tiện cho giao thông đi lại. Nhà của người Tày phổ biến là loại  
nhà đất 3 gian, 2 mái (không có chái), tường trình đất hoặc thưng phên nứa, gỗ  
xung quanh, mái lợp cỏ tranh. Đồng bào người Tày là cư dân nông nghiệp có  
truyền thống làm lúa nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các  
biện pháp thủy lợi như đắc máng, đắp phai làm cọn lấy nước tưới ruộng lúa.  
Ngoài lúa nước đồng bào người tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả...  
Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông  
cho đến nay vẫn còn phổ biến.  
Nội bộ làng bản người Tày bao gồm các quan hệ láng giềng và quan hệ  
thân tộc cùng tồn tại và chi phối đời sống bản sắc văn hóa dân tộc. Người trong  
làng, phần đông là họ hàng, dâu rể xa gần, quan hệ chằng chéo với nhau.  
Giống như đồng bào người Nùng, người Tày hiện nay hầu hết đã được  
cấp GCN theo dự án đo đạc, các loại đất còn lại sẽ tiếp tục thực hiện theo các dự  
án khác.  
Về ngôn ngữ giao tiếp đa số người dân tộc Tày đều nghe và nói được  
tiếng phổ thông ( Tiếng Việt), lên việc triển khai Kế hoạch phát triển dân tộc  
thiểu số là khá thuận lợi.  
Hiện nay, hầu hết người đồng bào dân tộc Tày ở một số địa bàn các  
huyện trong tỉnh đã được cấp GCN theo dự án đo đạc cấp GCN thuộc dự án tổng  
thể hoặc các dự án cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các thửa đất của  
người dân cơ bản đã đã được cấp giấy theo đúng mục đích sử dụng và chủ sử  
dụng. Tuy nhiên trong quá trình cấp giấy chứng nhận QDS đất gặp rất nhiều khó  
khăn như thường thì các đồng bào dân tộc cho tặng con cái, mua bán, chuyển  
nhượng không có giấy tờ giao dịch theo quy định chủ yếu là giao dịch bằng  
miệng hoặc bằng giấy viết tay không có xác nhận…mặt khác việc làm thất lạc,  
mất giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cũng phổ biến vì người dân chưa thấy việc  
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quan trọng họ vẫn còn phong tục đất  
cha ông để lại sử dụng lâu đời không ai lấn chiếm được.  
c) Dân tộc khác:  
Ngoài dân tộc Nùng, Tày tại tỉnh Bắc Giang còn có dân tộc Dao, Sàn Dìu,  
Hoa, Sán Chí, Cao Lan...về bản sắc văn hóa của các dân tộc này hầu hết gần  
giống với đồng bào Nùng, Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.  
3. Đánh giá tác động khi triển khai thực hiện dự án  
3.1. Các tác động tích cực:  
8
 
Qua các phương pháp điều tra, phân tích và phỏng vấn, tham vấn người  
dân, nhìn chung, việc triển khai thực hiện dự án được cho rằng sẽ đem lại nhiều  
tác động tích cực đối với cộng đồng dân cư trong vùng dự án, trong đó có lợi ích  
của cộng đồng dân tộc thiểu số, cụ thể như sau:  
- Giảm thời gian hành chính và tăng hiệu quả cho người sử dụng đất:  
Việc thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường mạng internet sẽ tăng  
cường tính minh bạch về thông tin trong việc kê khai, thực hiện các thủ tục của  
người dân, tiết kiệm thời gian và tính hiệu quả trong việc tiếp cận với các cơ  
quan và công chức nhà nước. Dựa vào các hoạt động cải cách hành chính, chi  
phí đi lại và giấy tờ, cùng với các vấn đề về quan liêu và sự phiền nhiễu sẽ được  
giảm thiểu.  
- Cải thiện môi trường kinh doanh: Với sự minh bạch về thông tin đất  
đai và việc tra cứu thông tin một cách thuận tiện, nhà đầu tư có thể thu được các  
thông tin mà họ cần để phục vụ cho lô đất mà họ nhắm tới (tình trạng của lô đất,  
yêu cầu và các thủ tục của hợp đồng mà không cần phải đến vị trí lô đất).  
- Cải thiện thủ tục hành chính cho các dịch vụ công cộng và người sử  
dụng đất hộ gia đình: Dựa vào việc chia sẻ về thông tin đất đai giữa các dịch vụ  
công liên quan, như phòng công chứng, cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan  
thuế …. cho thấy sự cải thiện đáng kể trong đẩy nhanh sự phối hợp trong giải  
quyết công cho người sử dụng đất. Đặc biệt, sự liên kết giữa các phòng công  
chứng với nhau sẽ tránh được việc sự chồng chéo trong dịch vụ công chứng như  
là công chứng viên có thể kiểm tra được lô đất đó có được công chứng tại một  
nơi khác hay không trước khi họ tiến hành các dịch vụ công chứng. Điều này  
cũng sẽ dẫn đến việc giảm chi phí của quá trình kiểm tra và xác mình hồ sơ vì  
hồ sơ đó đã có sẵn trên hệ thống MPLIS. Những đối tượng sử dụng là hộ gia  
đình, cá nhân có thể hưởng lợi từ việc liên kết giữa các phòng công chứng vì có  
thể giảm thiểu rủi ro và chi phí liên quan. Họ có thể kiểm tra về việc lô đất của  
họ có nằm trong khu vực dự án, hay quy hoạch cho vùng phát triển mới hoặc  
trong một cuộc tranh chấp nào đó. Điều này sẽ làm giảm tối thiểu các rủi ro  
trong giao dịch về đất.  
3.2. Tác động tiêu cực:  
Dự án sẽ đặt trọng tâm vào việc cải thiện khung pháp lý, xây dựng và điều  
hành MPLIS trên cơ sở dữ liệu về đất đai hiện có để quản lý đất tốt hơn và phát  
triển kinh tế - xã hội. Dự án không đề xuất xây dựng bất kỳ công trình dân dụng  
nào, do đó sẽ không có thu hồi đất. Sẽ không có bất kì tác động nào gây ra hạn  
chế cho việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên và ngược lại, do đó, tác động  
tiêu cực khi triển khai dự án hầu như không có. Tuy nhiên, sẽ phát sinh các vấn  
đề thực tiễn cần giải quyết khi các thông tin liên quan đến người sử dụng đất rõ  
ràng, cụ thể và minh bạch hơn như: Tranh chấp đất đai, quyền và lợi ích hợp  
pháp của từng chủ thể sử dụng đất khi có sự so sánh… Việc giải quyết những  
tác động tiêu cực sẽ được thể hiện trong các hoạt động cụ thể tại bản Kế hoạch  
này để đảm bảo việc tổ chức thực hiện.  
9
 
4. Khung chính sách và cơ sở pháp lý  
4.1. Quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam đối với các nhóm dân  
tộc thiểu số  
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân  
tộc luôn có vị trị chiến lược quan trọng. Tất cả người dân tộc ở Việt Nam đều có  
đầy đủ quyền công dân và được bảo vệ bằng các điều khoản công bằng theo  
Hiến pháp và pháp luật. Chủ trương, chính sách cơ bản đó là "Bình đẳng, đoàn  
kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”, trong đó vấn đề ưu tiên là "đảm bảo  
phát triển bền vững vùng DTTS và miền núi”.  
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi  
nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam (Điều 5) như sau:  
“1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của  
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.  
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát  
triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.  
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói,  
chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và  
văn hoá tốt đẹp của mình.  
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để  
các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”  
Hiến pháp sửa đổi qua các năm từ 1946, 1959, 1980, 1992 và đến năm  
2013 đều quy định rõ “Tất cả các dân tộc là bình đẳng, thống nhất, tôn trọng và  
giúp đỡ nhau để cùng phát triển; tất cả các hành vi phân biệt đối xử, phân biệt  
dân tộc; DTTS có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết, duy trì bản sắc của dân  
tộc, và duy trì phong tục, nguyên tắc và truyền thống của họ. Nhà nước thực  
hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện thuận lợi cho người DTTS  
phát huy sức mạnh nội lực để bắt kịp với sự phát triển của quốc gia”.  
Các vấn đề về đất đai là bản chất chính trị và có thể gây tác động tới sự  
phát triển kinh tế - xã hội của rất nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang  
phát triển. Chính sách đất đai có tác động rất lớn đối với sự phát triển bền vững  
và cơ hội về phát triển kinh tế - xã hội cho mọi người cả ở khu vực nông thôn và  
thành thị, đặc biệt là những người nghèo.  
Tại Điều 53, Hiến pháp và Điều 4, Luật đất đai 2013 đã nêu rõ về vấn đề  
sở hữu đất như sau: “Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện  
chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người  
sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Theo quy định này thì đất đai là thuộc  
sở hữu của toàn dân, Nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu để quản lý và  
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất (người sử dụng  
đất) với các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất  
theo các quy định của pháp luật về đất đai.  
10  
Điều 27, Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước có chính sách về đất  
ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào DTTS phù hợp với phong tục, tập  
quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; có chính sách tạo điều  
kiện cho đồng bào DTTS trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để  
sản xuất nông nghiệp.  
Điều 28, Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước có trách nhiệm xây  
dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức,  
cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai; thực hiện công bố kịp thời, công khai  
thông tin cho các tổ chức, cá nhân; cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền  
trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin  
về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định.  
Điều 43, Luật đất đai 2013 về “Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử  
dụng đất” quy định: Cơ quan nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như  
được quy định tại khoản 1 và 2 của Điều 42 của Luật này sẽ có trách nhiệm tổ  
chức lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất”.  
Việc lấy ý kiến của người dân sẽ được diễn ra thông qua công khai thông tin về  
nội dung của quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, qua các hội nghị và tham vấn  
trực tiếp.  
Điều 110, Luật Đất đai năm 2013 quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất,  
tiền thuê đất đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở  
đối với hộ gia đình, cá nhân là DTTS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc  
biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với  
hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số.  
Theo quy định của Luật Đất đai, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người  
Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ  
dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung  
dòng họ. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu,  
am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại Khoản 3, Điều 131, Luật  
Đất đai và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất  
xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Điều  
100) và được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản  
sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc (Điều 131), đồng thời  
việc giao đất, cho thuê đất phải ưu tiên hộ gia đình, cá nhân là DTTS không có  
đất hoặc thiếu đất sản xuất ở địa phương (Điều 133).  
Nhà nước yêu cầu áp dụng chính sách kinh tế - xã hội cho từng vùng và  
từng dân tộc, có tính đến nhu cầu cụ thể của các nhóm DTTS. Kế hoạch và chiến  
lược phát triển kinh tế - xã hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam  
chú trọng tới DTTS. Một vài chương trình chính của DTTS, như Chương trình  
135 (xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực nghèo, vùng xa và sâu) và Chương  
trình 134 (xóa nhà tạm).  
4.2. Sự thống nhất với chính sách hoạt động của Ngân hàng thế giới về  
11  
người bản địa  
Chính sách hoạt động 4.10 (cập nhật năm 2013) của Ngân hàng Thế giới  
(WB) yêu cầu Bên đi vay thực hiện một quá trình tham vấn tự do, được thông  
báo trước và được thực hiện trước khi tiến hành dự án với người dân bản địa khi  
người dân bản địa bị ảnh hưởng bởi dự án. Mục đích của việc tham vấn này là  
nhằm tránh hoặc giảm đến mức tối thiểu những tác động xấu của dự án đến  
người DTTS và để đảm bảo các hoạt động của dự án phù hợp với văn hóa và  
phong tục của địa phương. Khuyến khích việc ra quyết định của địa phương và  
sự tham gia của cộng đồng trong khuôn khổ quy định pháp luật của Việt Nam về  
phân cấp và về đất đai phù hợp với chính sách của Ngân hàng thế giới.  
Chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới chỉ rõ người dân bản địa là  
nhóm (a) tự xác định là những thành viên của nhóm văn hóa bản địa riêng biệt  
và điều đó được những nhóm khác công nhận; (b) cùng chung môi trường sống  
riêng biệt về mặt địa lý hoặc cùng lãnh thổ của tổ tiên trong khu vực dự án và  
cùng chung nguồn tài nguyên thiên nhiên trong những môi trường và lãnh thổ  
này; (c) thể chế về văn hóa theo phong tục tập quán riêng biệt so với xã hội và  
văn hóa chủ đạo; và (d) một ngôn ngữ bản địa, thường là khác với ngôn ngữ  
chính thức của đất nước hoặc của vùng.  
Trong phạm vi triển khai dự án VILG, các nhóm dân tộc thiểu số tại các  
địa bàn triển khai dự án có khả năng nhận được lợi ích lâu dài từ việc được  
truyền thông để nhận thức được các quy định của pháp luật cho đến việc được  
tiếp cận với các thông tin đất đai và các dịch vụ đất đai. Việc xây dựng kế hoạch  
phát triển DTTS (EMDP) là hành động để giảm thiểu các tác động tiềm tàng có  
thể xảy ra trong quá trình triển khai các hoạt động của dự án. Đảm bảo công  
cuộc giảm nghèo và phát triển bền vững, đồng thời, tôn trọng đầy đủ nhân phẩm,  
quyền con người, giá trị kinh tế và bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số.  
III. KẾT QUẢ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG  
1. Kết quả các phát hiện chính từ tham vấn về xã hội  
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với các huyện  
miền núi trong khu vực dự án tổ chức tham vấn người đồng bào DTTS tại 04  
xã/03 huyện (xã Đông Sơn, xã Canh Nâu, huyện Yên Thế; xã Hương Sơn,  
huyện Lạng Giang và xã Tam Dị, huyện Lục Nam). Thông tin chi tiết về các đối  
tượng được tham vấn xem tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2.  
PPMU đã thực hiện tham vấn với các đối tượng: (1) Làm công tác quản lý  
như cán bộ các Sở, ngành, phòng tài nguyên và môi trường, Chủ tịch Ủy ban  
nhân dân xã, Công chức địa chính xã,… (2) Các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng  
đất; và (3) Cộng đồng DTTS. Kết quả tổng hợp nội dung từ các Phiếu tham vấn  
cụ thể như sau:  
12  
   
Đơn vị tính: (%)  
Cán bộ quản lý  
Tổ chức  
Đồng bào DTTS  
STT  
Nội dung tham vấn  
Trung  
bình  
Trung  
bình  
Trung  
bình  
Tốt  
Kém Tốt  
Kém  
Tốt  
Kém  
Cung cấp các thông tin  
đất đai của các cơ quan  
đăng ký đất đai cho người  
sử dụng đất  
92  
100  
5  
5
3
89  
5  
95  
1
100  
1
2
  
15  
5
Kỹ năng ứng dụng và sử  
dụng công nghệ thông tin  
20  
80  
50  
  
Giải quyết các thủ tục  
hành chính về đất đai của  
các cơ quan đăng ký đất  
đai  
5
3
4
  
Giải quyết khiếu nại về  
đất đai  
95  
95  
5
5
93  
95  
7
85  
90  
15  
Tổ chức tuyền truyền,  
5 phổ biến để nâng cao  
5
  
nhận thức cộng đồng  
Ghi chú: Kết quả được lấy trên cơ sở đa số phiếu đã tổng hợp  
Trên cơ sở đó khi PPMU giới thiệu về Dự án “Tăng cường quản lý đất đai  
và cơ sở dữ liệu đất đai”, những mục tiêu cụ thể của dự án thì hầu hết các đối  
tượng được tham vấn đều bày tỏ sự đồng tình với Dự án và mong muốn dự án  
được triển khai sớm để họ được dễ dàng có được các thông tin đất đai cần thiết.  
Để giảm thiểu những tác động không mong muốn của dự án về dân tộc  
thiểu số, hầu hết những người được hỏi đồng ý đề xuất các biện pháp sau đây:  
- Tăng cường công tác cung cấp thông tin về đất đai cho các đối tượng sử  
dụng đất theo nhiều loại hình (bao gồm cả dịch vụ công) nhằm hạn chế các  
khiếu nại có liên quan đến đất đai của người dân và doanh nghiệp.  
- Tập trung, tuyền truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức đối với những  
đối tượng DTTS, người nghèo với nhiểu hình thức khác nhau phù hợp với từng  
đối tượng, phong tục tập quán;  
- Tập huấn kỹ năng sử dụng máy tính cho cán bộ thôn và người dân.  
2. Khung tham vấn và phương pháp tham vấn cộng đồng  
PPMU sẽ thiết lập một khung tham vấn bao gồm các vấn đề về giới và  
liên thế giới để cung cấp cơ hội tư vấn và sự tham gia của cộng đồng DTTS, tổ  
chức DTTS và các tổ chức dân sự khác trong các hoạt động của dự án trong quá  
trình thực hiện dự án. Khung tham vấn sẽ làm rõ (I) mục tiêu tham vấn, (II) nội  
dung tham vấn; (II) phương pháp tham vấn; và (IV) thông tin phản hồi. Dựa trên  
khung tham vấn, một kế hoạch tham vấn sẽ được xây dựng và triển khai như  
13  
 
sau: (I) Mục tiêu tham vấn và thông tin cơ bản cần có từ họ; (II) xác định các  
vấn đề cần thiết cho tham vấn; (III) lựa chọn các phương pháp tham vấn phù  
hợp với mục tiêu tham vấn và văn hóa của các nhóm DTTS; (IV) chọn địa điểm  
và thời gian để tham khảo ý kiến phù hợp với văn hóa và tập quán của các nhóm  
DTTS; (V) ngân sách để thực hiện; (VI) thực hiện tư vấn; và (VII) sử dụng kết  
quả tham vấn và trả lời.  
Một số phương pháp tham vấn phổ biến và hiệu quả là: (I) Họp cộng  
đồng hoặc thảo luận nhóm; (II) phỏng vấn với các nhà cung cấp thông tin quan  
trọng hoặc phỏng vấn sâu; (III) sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc; (IV) Triển lãm  
và trình diễn di động. Các phương pháp và ngôn ngữ được chọn sẽ phù hợp với  
văn hóa và thực tiễn của cộng đồng DTTS. Ngoài ra, thời gian thích hợp sẽ được  
phân bổ để có được sự hỗ trợ rộng rãi từ những người liên quan.  
Các thông tin liên quan đến dự án có liên quan, đầy đủ và có sẵn (bao  
gồm các tác động tiêu cực và tiềm năng) cần được cung cấp cho người DTTS  
theo những cách phù hợp nhất về mặt văn hóa trong quá trình thực hiện dự án.  
IV. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG  
Dựa trên kết quả tham vấn và đánh giá, kế hoạch hành động bao gồm các  
hoạt động sau để đảm bảo người dân tộc thiểu số nhận được lợi ích kinh tế xã  
hội tối đa của dự án theo cách phù hợp với văn hóa, bao gồm đào tạo để nâng  
cao năng lực của các cơ quan thực hiện dự án.  
1. Hoạt động 1: Thiết lập nhóm tư vấn cộng đồng cấp tỉnh, nhóm  
tham gia cộng đồng cấp huyện  
Để xây dựng một kênh phổ biến thông tin và tiếp nhận ý kiến phản hồi của  
người sử dụng đất, đặc biệt là cộng đồng DTTS, một nhóm tư vấn cộng đồng  
cấp huyện cần được thành lập. Thành phần của nhóm bao gồm đại diện của Ban  
DTTS, Phòng TNMT, VPĐK đất đai, Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, cán bộ Ban  
QLDA tỉnh, lãnh đạo xã, cán bộ địa chính xã, Mặt trận tổ quốc xã, Hội phụ nữ  
xã. UBND tỉnh Bắc Giang ra quyết định thành lập nhóm và quy định cơ chế hoạt  
động của nhóm. Nhiệm vụ chính của nhóm là phổ biến thông tin về dự án và  
thực hiện các cuộc tham vấn với cộng đồng DTTS về các hoạt động của dự án  
nhằm thu thập thông tin và ý kiến phản hồi của cộng đồng DTTS về các vấn đề  
chính sau đây để cung cấp kịp thời cho Ban QLDA và các cơ quan thực hiện dự  
án cũng như cộng đồng DTTS:  
- Nhu cầu về thông tin đất đai của cộng đồng DTTS ở địa phương;  
- Các yếu tố văn hóa và phong tục tập quán của cộng đồng DTTS cần được  
quan tâm trong quá trình thực hiện các hoạt động của dự án;  
- Phong tục truyền thống về sử dụng đất đai của cộng đồng DTTS cần được  
quan tâm xem xét trong quá trình xử lý cũng như cung cấp thông tin về đất đai;  
- Những trở ngại trong việc phổ biến thông tin, tham vấn và tham gia của  
cộng đồng DTTS trong quá trình thực hiện dự án và sử dụng các thành quả của  
dự án;  
14  
 
- Đề xuất các giải pháp khắc phục các trở ngại nhằm đảm bảo sự ủng hộ  
rộng rãi của cộng đồng DTTS đối với dự án và sử dụng các thành quả của dự án  
một cách hiệu quả và bền vững;  
- Tiếp nhận các khiếu nại và làm việc với các cơ quan liên quan để giải  
quyết các khiếu nại và phản hồi kết quả giải quyết khiếu nại của người dân một  
cách kịp thời.  
Trong quá trình thực hiện dự án, Ban QLDA và các đơn vị liên quan cần  
tham vấn thường xuyên với nhóm này.  
Các phương pháp tham vấn có thể được sử dụng phù hợp với đặc điểm  
văn hóa của các DTTS là họp cộng đồng, thảo luận nhóm mục tiêu (nhóm phụ  
nữ, nhóm dễ bị tổn thương), phỏng vấn sâu những người cung cấp thông tin chủ  
chốt (già làng, trưởng thôn bản, cán bộ quản lý đất đai, đại diện các nhà cung  
cấp dịch có liên quan), trình diễn mô hình. Các phương pháp này cần bao gồm  
các yếu tố về giới và liên thế hệ, tự nguyện, và không có sự can thiệp.  
Tham vấn cần được thực hiện hai chiều, tức là cả thông báo và thảo luận  
cũng như lắng nghe và trả lời thắc mắc. Tất cả các cuộc tham vấn cần được tiến  
hành một cách thiện chí, tự do, không hăm dọa hay ép buộc, tức là không có sự  
hiện diện của những người có thể ảnh hưởng đến người trả lời, cung cấp đầy đủ  
thông tin hiện có cho những người được tham vấn nhận được sự đồng thuận  
rộng rãi của cộng đồng DTTS đối với các hoạt động của dự án. Phương pháp  
tiếp cận toàn diện và đảm bảo bao gồm yếu tố về giới, phù hợp với nhu cầu của  
các nhóm bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương, đảm bảo các ý kiến có liên quan của  
những người bị ảnh hưởng, các bên liên quan khác được cân nhắc trong quá  
trình ra quyết định. Đặc biệt, người sử dụng đất là người DTTS sẽ được cung  
cấp các thông tin có liên quan về dự án càng nhiều càng tốt, một cách phù hợp  
về văn hóa trong thực hiện dự án, theo dõi và đánh giá để thúc đẩy sự tham gia  
và hòa nhập. Thông tin có thể bao gồm nhưng không giới hạn về các nội dung  
như khái niệm dự án, thiết kế, đề xuất, biện pháp bảo vệ, thực hiện, theo dõi và  
đánh giá.  
Tất cả các thông tin có liên quan cần lấy ý kiến cộng đồng DTTS sẽ được  
cung cấp thông qua hai kênh. Thứ nhất, thông tin sẽ được phổ biến cho các  
trưởng thôn/bản tại cuộc họp hàng tháng của họ với lãnh đạo của UBND xã hoặc  
Nhóm tham vấn để được chuyển tiếp cho người dân trong các cuộc họp thôn  
một cách phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ của các nhóm DTTS. Thứ hai, thông  
báo bằng tiếng Việt và bằng ngôn ngữ của người DTTS (nếu cần) sẽ được công  
khai tại UBND xã ít nhất một tuần trước cuộc tham vấn. Việc thông báo sớm  
như vậy đảm bảo người dân có đủ thời gian để hiểu, đánh giá và phân tích thông  
tin về các hoạt động được đề xuất.  
Ngoài ra, các hoạt động của dự án cần thu hút sự tham gia tích cực và sự  
hướng dẫn (chính thức và không chính thức) của các cán bộ địa phương như  
trưởng thôn, các thành viên của các nhóm hòa giải ở cấp thôn, bản, ấp… Ban  
giám sát cộng đồng ở cấp xã cần giám sát chặt chẽ việc tham gia của các tổ chức  
15  
địa phương và cán bộ trong các hoạt động khác nhau của dự án VILG. Thông tin  
đầu vào được sử dụng để theo dõi và đánh giá có thể bao gồm khả năng truy cập  
của người DTTS vào hệ thống thông tin đất đai được thiết lập trong khuôn khổ  
dự án, lợi ích từ các thông tin nhận được... Bằng cách cho phép sự tham gia của  
các bên liên quan thuộc nhóm DTTS trong quá trình lập kế hoạch dự án, thực  
hiện, giám sát và đánh giá, dự án có thể đảm bảo rằng người dân tộc thiểu số  
nhận được các lợi ích xã hội và kinh tế từ dự án một cách phù hợp với văn hóa  
của họ. Với sự tham gia của cộng đồng DTTS, các thông tin đất đai do VILG  
thiết lập sẽ góp phần tăng thêm sự minh bạch và hiệu quả, đạt được các mục tiêu  
của dự án đối với các nhóm DTTS. Cần xây dựng năng lực cho các bên liên  
quan, đặc biệt là Nhóm tham vấn để tránh những hạn chế đang tồn tại trong việc  
thực hiện tham vấn cộng đồng địa phương, chẳng hạn như tham vấn một chiều,  
không cung cấp đủ thông tin, vội vàng và có sự ép buộc.  
2. Hoạt động 2: Sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại.  
* Chiến lược truyền thông:  
Một chiến lược truyền thông thích hợp cần được thiết lập và thực hiện để  
thúc đẩy nhu cầu sử dụng thông tin đất đai của người dân nói chung và người  
DTTS cũng như nhóm dễ bi tổn thương nói riêng, đồng thời thể hiện sự cam kết  
mạnh mẽ hơn từ các chính quyền địa phương trong việc giải quyết những hạn  
chế về cung cấp các dịch vụ thông tin đất đai một cách đầy đủ. Chiến lược  
truyền thông và Sổ tay thực hiện của dự án VILG cần xem xét nội dung, các yêu  
cầu của người dân đã được phản ánh trong các cuộc tham vấn cộng đồng địa  
phương để tránh bỏ qua nhóm dễ bị tổn thương và lợi ích của họ trong dự án.  
Chiến lược truyền thông cần tạo ra một môi trường đối thoại hai chiều, nghĩa là  
nó không chỉ là kênh thông tin của dự án đến với cộng đồng, mà còn lắng nghe,  
phản hồi và đáp ứng các mối quan tâm của cộng đồng. Vì vậy, điều quan trọng  
là phải thiết kế và thực hiện một chiến lược truyền thông toàn diện để hỗ trợ dự  
án. Dự thảo chiến lược truyền thông nên tập trung vào các vấn đề sau đây:  
- Với bên cung cấp dịch vụ:  
✓ Cách thức có được và nâng cao sự cam kết của chính quyền và  
những cán bộ thực hiện tại trung ương cũng như địa phương đối với  
việc cải cách hệ thống thông tin đất đai hiện nay. Đây là một quá  
trình vận động xã hội để xây dựng lòng tin của những người sử  
dụng đất. Kết quả của quá trình này, các cơ quan quản lý đất đai  
cần tạo ra một môi trường thuận lợi với sự hỗ của VILG; đảm bảo  
sự tham gia thường xuyên của người sử dụng đất thông qua việc  
đưa ra các câu hỏi và mối quan tâm của họ về quyền lợi của mình  
về sử dụng đất cũng như tiếp cận với các thông tin đất đai; cung cấp  
các thông tin đất đai đáng tin cậy tại địa phương. Ngoài ra, các cán  
bộ địa phương cần nâng cao kỹ năng giao tiếp; biết cách tạo thuận  
lợi và tạo diễn đàn cho sự tham gia của cộng đồng trong việc phản  
hồi trong quá trình thực hiện dự án VILG.  
16  
✓ Cách thức xây dựng nền tảng cho sự tham gia của cộng đồng trong  
việc thảo luận và đối thoại với các cán bộ quản lý đất đai về các vấn  
đề khác nhau, bao gồm cả mối quan tâm và yêu cầu hiểu biết về  
quyền sử dụng đất của họ, cũng như kết quả về thông tin đất đai mà  
người dân có được từ hệ thống thông tin của dự án.  
✓ Cách thức xây dựng nền tảng truyền thông ở các cấp độ khác nhau  
(ví dụ phiếu báo cáo của người dân, các cuộc họp thôn …) để nhận  
được các thông tin phản hồi về hoạt động của bên cung cấp và khả  
năng của các bên này để đối phó với sự gia tăng nhu cầu đối với  
dịch vụ thông tin đất đai, đây cũng là một kết quả của dự án VILG.  
Các thủ tục về cơ chế phản hồi này cần phải rõ ràng và minh bạch,  
đặc biệt là đối với nhóm dễ bị tổn thương. Ví dụ như các việc liên  
quan đến các kênh tiếp nhận thông tin phản hồi và những bên liên  
quan phải chịu trách nhiệm giải quyết các ý kiến phản hồi và  
khoảng thời gian xử lý. Hướng dẫn kịp thời và đáp ứng những quan  
tâm và kiến nghị người sử dụng đất phải được cung cấp thông qua  
các nền tảng chiến lược truyền thông và quá trình theo dõi.  
- Với bên cầu:  
✓ Làm thế nào để nâng cao nhu cầu và sau đó duy trì cách thức sử  
dụng dịch vụ thông tin đất đai, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương.  
✓ Làm thế nào để tạo ra sự thay đổi trong hành vi giao tiếp, đặc biệt  
là giữa các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau trong địa bàn dự án.  
Chiến lược truyền thông và tài liệu nên được thiết kế có tính đến sự  
khác biệt văn hoá trong hành vi giữa các nhóm người dân tộc khác  
nhau và thay đổi phù hợp với các hành vi này.  
✓ Làm thế nào để điều chỉnh các hoạt động và các buổi tuyên truyền  
tại địa phương về thông tin đất đai trong chiến dịch truyền thông để  
giải quyết các nhu cầu cụ thể của các nhóm dân tộc thiểu số khác  
nhau về ngôn ngữ và văn hoá có liên quan. Chiến lược nên bao gồm  
sự khác nhau về phổ biến thông tin giữa các nhóm dân tộc khác  
nhau và tận dụng cấu trúc, cơ chế truyền thông đáng tin cậy và các  
tổ chức chính thức và không chính thức của người dân tộc thiểu số  
thuộc khu vực dự án để phổ biến, cho phép hỗ trợ và tư vấn cho  
những người dân tộc thiểu số về sử dụng đất, bằng ngôn ngữ của họ  
và theo cách phù hợp với văn hoá của họ. Các cán bộ địa phương sẽ  
được khuyến khích tích cực hỗ trợ nhóm khó tiếp cận.  
✓ Có cơ chế giải quyết các vướng mắc, rào cản và những khó khăn  
gây ra bởi tập quán và tín ngưỡng văn hoá của người DTTS và trả  
lời những thắc mắc của các bên liên quan.  
- Truyền thông tiếp cận cộng đồng:  
17  
Các tài liệu truyền thông phù hợp để phổ biến: xây dựng và phổ biến  
một bộ trọn gói các tài liệu in ấn và nghe nhìn (tập tài liệu, tờ rơi, áp phích, phim  
tài liệu ngắn, chương trình đào tạo, quảng cáo trên tivi, radio…với các biểu  
tượng có liên quan, các thông điệp và các khẩu hiệu) cho các nhóm mục tiêu của  
chiến lược truyền thông, điều này là cần thiết để đảm bảo các thông điệp và kiến  
thức chính sẽ được chuyển giao cho các bên liên quan của dự án VILG, bao gồm  
các nhóm dễ bị tổn thương. Công việc này sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho  
người sử dụng đất, thay đổi thái độ và hành vi của họ trong việc tìm kiếm thông  
tin đất đai và về lâu dài góp phần thay đổi và duy trì các hành vi được khuyến  
khích theo dự án. Các thiết kế của tài liệu nên phù hợp (về mặt xã hội và văn hoá  
đều được chấp nhận) cho các nhóm đối tượng dựa trên tiêu chuẩn về xây dựng  
tài liệu truyền thông (rõ ràng, súc tích, trình bầy đẹp và đầy đủ các nội dung…).  
Tài liệu cần phải được xây dựng một cách cẩn thận để phổ biến thông tin một  
cách hiệu quả cho các gia đình trí thức, các gia đình lao động và gia đình dân tộc  
mà tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, do đó cần sử dụng ngôn ngữ phi kỹ thuật  
cộng với các hình vẽ minh họa ở những chỗ có thể là rất quan trọng. Những tài  
liệu này nên được thử nghiệm với một số cộng đồng được lựa chọn tại một số  
tỉnh của dự án để đánh giá tính toàn diện và hiệu quả nhất có thể. Cuối cùng  
nhưng cũng không kém quan trọng là phải tiến hành định hướng, đào tạo cho  
các bên liên quan như đã được xác định trong chiến lược truyền thông về cách  
sử dụng các tài liệu truyền thông một cách hiệu quả.  
Chiến dịch truyền thông: Các chiến dịch truyền thông đại chúng cũng có  
thể thích hợp để phổ biến thông tin một chiều. Trọng tâm của chiến dịch nên chủ  
yếu tập trung vào thông tin ở các khu vực cụ thể, mà có thể được phát sóng trên  
đài truyền hình và đài phát thanh địa phương. Việc sử dụng các loa phóng thanh  
xã có thể là một phương tiện hiệu quả để truyền đạt được đến một số lượng lớn  
người dân với một chi phí tương đối thấp, nhưng cũng phải nhận thấy rằng  
thông tin truyền thông qua các phương tiện này không phải lúc nào cũng lưu lại  
và không thể được sử dụng trong các khu vực nơi người dân sống một cách rải  
rác. Một cách thích hợp, sử dụng một số các đoạn hát, tiểu phẩm hay các khẩu  
hiệu dễ nhớ có thể giải quyết được vấn đề này ở một mức độ nào đó. Cung cấp  
thông tin công khai về bản đồ, quy hoạch và thủ tục (theo cách thức dễ tiếp cận)  
ở cả cấp huyện và cấp xã cũng có thể hữu ích. Trước khi triển khai MPLIS, các  
chiến dịch truyền thông cần được triển khai với nội dung về lợi ích cơ bản và  
kiến thức về việc làm thế nào để truy cập và sử dụng thông tin đất đai của  
MPLIS và các loại lệ phí liên quan (nếu có). Những chiến dịch này nên được  
thực hiện thông qua các cuộc họp, phương tiện truyền thông đại chúng và phổ  
biến tài liệu IEC được in ấn hoặc tài liệu nghe nhìn, tùy thuộc vào bối cảnh xã  
hội của địa phương cụ thể.  
Sự tham gia của các đầu mối thông tin địa phương: Chính quyền địa  
phương được khuyến khích tham gia và phát huy vai trò của cán bộ thôn, đặc  
biệt là những người từ các tổ chức đoàn thể cộng đồng, công đoàn. Đầu mối  
thông tin liên lạc nên là trưởng thôn/bản, vì nhiều nghiên cứu đã cho thấy vai trò  
của họ rất quan trọng và hiệu quả trong thực hiện truyền thông. Các cá nhân và  
18  
tổ chức này chủ yếu là người dân tộc thiểu số đang sinh sống trong khu vực; do  
vậy, họ sẽ rất tích cực trong việc truyền, phổ biến chính sách, chương trình đến  
người dân địa phương có liên quan. Mỗi địa phương sẽ quyết định về các đầu  
mối thông tin liên quan và hiệu quả nhất phù hợp với bối cảnh hiện tại của địa  
phương mình.  
Tư vấn: Đánh giá chỉ ra rằng nhiều người trả lời không biết về pháp luật  
đất đai và làm thế nào áp dụng được nó trong thực tế (giải thích pháp luật). Vì  
vậy, có thể cần thiết phải có tư vấn hỗ trợ song song với MPLIS trong một số  
cộng đồng.  
Thường xuyên tổ chức các cuộc họp địa phương: Các cuộc họp tại  
phường, xã thường xuyên bao gồm cả các phiên chất vấn và trả lời định kỳ có  
thể là một trong những cách làm hiệu quả nhất để hỗ trợ các cộng đồng địa  
phương tham gia vào hoạt động dự án, nhận và phản hồi ý kiến của họ. Tại các  
khu vực đô thị, điều này cũng sẽ cung cấp cho người dân có cơ hội để tham gia  
chặt chẽ hơn với các cán bộ quản lý đất đai của địa phương so với hiện tại. Tuy  
nhiên, thông tin cho người nghèo cần được cung cấp thông qua việc đến thăm  
nhà của họ hoặc một cuộc họp với người nghèo vì họ thường không tham dự các  
cuộc họp phổ biến.  
Công cụ hiện đại: Ban quản lý dự án tỉnh sẽ biên soạn nội dung truyền  
thông và sử dụng công cụ truyền thông nghe nhìn dễ hiểu như đĩa DVD với  
phần tiếng Việt và một số nội dung dự án VILG dịch sang tiếng các DTTS (nếu  
phù hợp) sẽ được chuẩn bị để sử dụng trong quá trình hoạt động tại địa phương  
dựa trên các đề xuất của nhóm tham gia cộng đồng cấp huyện. Cách tiếp cận và  
sử dụng MPLIS và các dịch vụ của văn phòng đăng ký đất là một số nội dung  
được giới thiệu trong công cụ truyền thông này. Công cụ truyền thông này sẽ  
được lưu giữ tại các trung tâm văn hóa và UBND xã để có thể dùng diễn giải về  
Dự án VILG và việc quản lý/tiếp cận thông tin đất đai.  
Thiết bị hiện đại: Ban quản lý dự án tỉnh có thể xem xét trang bị máy  
tính tại xã, ấp để người DTTS có thể truy cập thông tin dễ dàng, thuận tiện (cần  
có đào tạo và hướng dẫn). Ban quản lý dự án tỉnh tăng cường tiếp cận và chia sẻ  
thông tin đất đai cho người DTTS.  
3. Hoạt động 3: Đào tạo cho các trưởng thôn, bản, già làng, người có  
uy tín trong cộng đồng.  
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng thuyết trình để tuyên truyền, vận dụng  
sáng tạo kiến thức, kỹ năng điều hành, xử lý các công việc phát sinh trong cộng  
đồng DTTS trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của các Trưởng thôn, bản,  
… vận động các hộ đồng bào DTTS tích cực tham gia, hưởng ứng thực hiện  
hiệu quả mục tiêu của dự án, Ban QLDA cấp tỉnh phối hợp với Ban QLDA cấp  
TW tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho các đối tượng là Trưởng thôn, bản,  
già làng, người có uy tín,… để họ có thể hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện  
Dự án. Các khóa đào tạo, tập huấn cần được thực hiện càng sớm càng tốt và  
trong suốt quá trình dự án.  
19  
4. Hoạt động 4: Tổ chức họp dân ở các thôn, bản… và các xã.  
Tại các thôn, bản, xã có đông đồng bào DTTS, Ban quản lý dự án tỉnh,  
Nhóm tham vấn cộng đồng cấp huyện sẽ tổ chức nhiều cuộc họp ở từng xã, ấp  
với người DTTS tại địa phương để trả lời các câu hỏi và mối quan tâm của họ  
(có phiên dịch sang tiếng dân tộc (nếu cần). Các hoạt động này sẽ được bắt đầu  
trước khi triển khai dự án và sẽ được duy trì trong suốt chu trình dự án.  
Trong các cuộc họp với người DTTS này, các kênh và cách truy cập các  
thông tin, tài liệu về đất đai, các chính sách ưu đãi các chính sách phản hồi thông  
tin cũng sẽ được giới thiệu.  
Ban quản lý dự án tỉnh kết hợp với cơ quan truyền thông đại chúng (đài  
phát thanh, truyền hình, báo địa phương) tuyên truyền, phổ biến các thông tin  
này trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh và các địa phương.  
Tài liệu để phục vụ cho các cuộc họp dân, tham vấn lấy ý kiến ở cấp xã do  
Văn phòng Ban quản lý dự án tỉnh cung cấp trên cơ sở sử dụng các mẫu, các văn  
bản pháp luật hoặc những tài liệu tuyên truyền do Ban quản lý dự án cấp Trung  
ương biên soạn. Tất cả các tài liệu thông tin được thực hiện một cách đơn giản,  
thông điệp và hình ảnh rõ ràng. Trong điều kiện kinh phí dự án cho phép, một số  
nội dung quan trọng sẽ được biên dịch sang ngôn ngữ dân tộc thiểu số (nếu cần)  
để phổ biến trong cộng đồng người dân tộc tại địa phương.  
5. Hoạt động 5: Đào tạo cán bộ quản lý đất đai.  
Nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm và kỹ năng của các cán bộ làm công  
tác quản lý nhà nước về đất đai tại các địa phương (Văn phòng đăng ký đất đai),  
đảm bảo việc giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai khi đồng bào DTTS có  
nhu cầu cần thực hiện.  
Tổ chức Hội thảo định hướng cho các cán bộ quản lý đất đai trong việc  
tiếp cận với người dân tộc thiểu số. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến: (1) nhu cầu  
đặc biệt của cộng đồng DTTS; (2) tầm quan trọng về vai trò, trách nhiệm của  
các cán bộ thực thi công vụ trong chiến lược, chủ trương, đường lối của Đảng,  
chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội khu  
vực DTTS. Nâng cao chất lượng phục vụ của các cán bộ làm công tác trong việc  
cung cấp dịch vụ thông tin về đất và thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai.  
6. Hoạt động 6: Thiết lập dịch vụ hỗ trợ tiếp cận thông tin đất đai và  
đăng ký đất đai ở các cộng đồng nơi có các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống.  
Các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện dịch vụ hỗ trợ tiếp  
cận thông tin đất đai và đăng ký đất đai cho các nhóm dân tộc thiểu số tại các  
vùng sâu, xa thông qua hình thức cử cán bộ làm việc định kỳ trực tiếp tại UBND  
xã những nơi này, đồng thời tập huấn cán bộ cấp xã thực hiện việc tra cứu, hỗ  
trợ tiếp nhận và sử dụng hệ thống thông tin đất đai qua mạng Internet để cung  
cấp thông tin đất đai cho các nhóm dân tộc thiểu số và xác nhận các hợp đồng  
giao dịch về đất đai.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 30 trang Thùy Anh 16360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số cho tỉnh Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfke_hoach_phat_trien_dan_toc_thieu_so_emdp_tinh_bac_giang_du.pdf