Tài liệu bồi dưỡng Nghiệp vụ công tác thống kê viên (Phần 2)
Chuyên đề 5
CÔNG TÁC THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ VÀ GIÁ
PHẦN I: CÔNG TÁC THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TÁC THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI VÀ
DỊCH VỤ
1. Vị trí, vai trò của thống kê thương mại và dịch vụ
Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, những năm gần đây, các ngành
dịch vụ nói chung, thương mại dịch vụ nói riêng phát triển mạnh và đang trở thành một
trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Hoạt
động thương mại, dịch vụ phát triển khá nhanh với nhiều loại hình phong phú. Dịch vụ
hiện nay không chỉ được cung cấp bởi các đơn vị của nhà nước mang tính chất sự nghiệp
mà còn có sự tham gia mang tính chuyên nghiệp, vì mục đích lợi nhuận của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Sự phát triển của hoạt động thương mại dịch vụ và tầm quan trọng của nó thể hiện
qua số lượng các doanh nghiệp, cơ sở cá thể có hoạt động chính là thương mại dịch vụ và
lao động của các đơn vị này trong tổng thể chung
Bảng 1. Số lượng và lao động của DN, cơ sở XSKD cá thể hoạt động thương mại,
dịch vụ năm 2008 - 2010
Doanh nghiệp
Cơ sở SXKD cá thể
Số DN
(1000)
Lao động
(1000 )
Số cơ sở
(1000)
Lao động
(1000)
Tổng số
2008
205.7
8246
8921
10080
3869
6700
2009
248.8
291.0
3986
4125
7066
7436
2010
Trong đó:
Khu vực thương mại và
dịch vụ
2008
1033
127.8
155.0
1702.0
1976.0
2395.0
2841.0
2938.0
3069.0
4363.0
4640.0
4929.0
2009
2010
Cơ cấu (%):
221
Doanh nghiệp
Cơ sở SXKD cá thể
Số cơ sở
(1000)
Số DN
(1000)
Lao động
(1000 )
Số DN
(1000)
Tổng số
2008
50.2
20.6
73.4
65.1
2009
51.4
53.3
22.1
23.8
73.7
74.4
65.7
66.3
2010
Số liệu Bảng 1 cho thấy số lượng doanh nghiệp, cơ sở cá thể và lao động của các
ngành thương mại dịch vụ thuộc hai khối này chiếm tỷ trọng lớn và đóng góp đáng kể
trong GDP của khu vực dịch vụ
Bảng 2. Tỷ trọng GDP theo giá hiện hành của khu vực dịch vụ và
thương mại dịch vụ năm 2008 - 2010 (%)
2008
37.44
2009
38.3
2010
37.76
Tổng khu vực dịch vụ
Tr/đó: các ngành thương mại và dịch vụ
25.83
26.53
26.28
1. Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy
và xe có động cơ khác
14.03
14.51
14.33
2. Vận tải, kho bãi
3.42
3.84
2.43
0.43
1.68
3.34
4.06
2.44
0.43
1.75
3.30
4.08
2.4
3. Lưu trú và ăn uống
4. Kinh doanh bất động sản
5. Hành chính và hỗ trợ
6. Dịch vụ khác
0.43
1.74
Nhận thức được vai trò của khu vực dịch vụ trong sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước giai đoạn 2011 - 2020, ngày 27/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 175/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ
của Việt Nam đến năm 2020" và "Giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
hướng dẫn, kiểm tra và tổng hợp tình hình thực hiện Chiến lược, định kỳ hàng năm báo
cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ kết tình hình thực hiện Chiến lược vào năm 2015
và tổng kết tình hình thực hiện Chiến lược vào năm 2020".
Định hướng của chiến lược là "Phát triển khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng
cao hơn khu vực sản xuất vận chất và tốc độ tăng GDP" với các mục tiêu cụ thể: "Giai
đoạn 2011 - 2015: tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 7,8 – 8,5% với qui mô khoảng
41 – 42% GDP của toàn bộ nền kinh tế"; giai đoạn 2016 – 2020: tốc độ tăng trưởng khu
vực dịch vụ đạt 8 – 8,5% với qui mô khoảng 42 – 43% GDP của toàn bộ nền kinh tế"
222
Chiến lược phát triển khu vực dịch vụ cũng đưa ra các mục tiêu định hướng cụ thể
cho các ngành dịch vụ. Để giám sát, kiểm điểm việc thực hiện các mục tiếu chiến lược,
đáp ứng các yêu cầu sử dụng số liệu khác, vai trò của số liệu thống kê dịch vụ nói chung,
số liệu thống kê về thương mại và dịch vụ nói riêng là hết sức quan trọng, thể hiện trên
các khía cạnh sau:
(1) Là nền tảng cần thiết để hoạch định các chiến lược, chương trình, chính sách
phát triển các ngành thương mại dịch vụ, phân bổ nguồn lực phát triển một cách hiệu quả,
đúng mục tiêu;
(2) Là công cụ quan trọng sử dụng để giám sát, đánh giá mức độ và hiệu quả của
việc thực hiện các chiến lược, chương trình, chính sách phát triển thương mại, dịch vụ ở
cấp quốc gia và địa phương;
(3) Giúp cho việc tính toán các chỉ tiêu thống kê quốc gia và địa phương đảm bảo
chất lượng, độ tin cậy, đáp ứng nhu cầu sử dụng của các cơ quan Chính phủ, các đối
tượng sử dụng số liệu khác;
(4) Giúp cho các tổ chức quốc tế, các đối tác nước ngoài cung cấp vốn ODA cho
Việt Nam có căn cứ xác thực để quyết định phân bổ nguồn lực và kiểm soát việc thực
hiện cam kết;
(5) Hỗ trợ mục tiêu hội nhập, so sánh quốc tế và khu vực về phát triển và thực hiện
cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam với các nước trong bối cảnh đàm phán
thương mại về dịch vụ đang gặp nhiều khó khăn.
(6) Góp phần thực hiện Chiến lược phát triển thống kê, nâng cao vị thế của thống kê
Việt Nam trên thế giới và khu vực.
2. Giới thiệu nghiệp vụ công tác thống kê thương mại và dịch vụ
2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Vụ TK Thương mại và Dịch vụ
Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ là một trong 7 Vụ thống kê chuyên ngành của
Tổng cục Thống kê. Chức năng, nhiệm vụ của Vụ TK Thương mại và Dịch vụ được
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao tại Quyết định số 58/QĐ-TCTK ngày
23/2/2012 về việc qui định chức năng, nhiệm vụ và chế độ làm việc của Vụ Thống kê
Thương mại và Dịch vụ.
Vụ TK Thương mại và Dịch vụ là đơn vị hành chính thuộc Tổng cục Thống kê,
có chức năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện
công tác thống kê thương mại và dịch vụ:
- Thống kê bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác;
223
- Thống kê dịch vụ ăn uống và lưu trú;
- Thống kê du lịch;
- Thống kê dịch vụ kinh doanh bất động sản;
- Thống kê thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ;
- Thống kê dịch vụ hành chính và hỗ trợ;
- Thống kê hoạt động dịch vụ khác.
Nhiệm vụ của Vụ TK Thương mại và Dịch vụ bao gồm:
(1) Xây dựng phương án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Tổng điều tra cơ sở kinh tế,
hành chính, sự nghiệp; điều tra cơ sở SXKD cá thể và các điều tra thống kê khác được giao;
(2) Hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức thu thập, tổng hợp và biên soạn các chỉ tiêu thuộc
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các chỉ tiêu thống kê khác được giao;
(3) Phân tích, dự báo thống kê và thực hiện báo cáo thống kê tổng hợp, báo cáo
thống kê định kỳ, báo cáo thống kê chuyên đề và báo cáo thống kê đột xuất về lĩnh vực
được giao;
(4) Cung cấp thông tin thống kê cho Vụ Thống kê Tổng hợp, các đơn vị trong
ngành và đối tượng khác theo qui định của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và pháp
luật; xây dựng nội dung thông tin của cơ sở dữ liệu thuộc lĩnh vực được giao;
(5) Kiểm tra, giám sát các đơn vị liên quan riển khai thực hiện các lĩnh vực được giao;
(6) Phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu:
- Xây dựng, cải tiến hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, tỉnh, huyện, xã, bảng phân
loại thống kê, chế độ báo cáo, điều tra thống kê;
- Thẩm định chuyên môn nghiệp vụ đối với hệ thống chỉ tiêu thống kê, chế độ báo
cáo, phương án điều tra thống kê thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ, ngành, địa phương;
- Nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin; tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi
dưỡng công chức, viên chức; hợp tác quốc tế; thanh tra nghiệp vụ; thi đua, khen thưởng;
kế hoạch tài chính và văn phòng
(1) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng giao.
2.2. Tổ chức, phân công công việc của Vụ TK Thương mại và Dịch vụ
Vụ TK Thương mại và Dịch vụ tổ chức công việc theo 4 nhóm:
224
Sơ đồ 1: Tổ chức công việc Vụ TMDV
Vụ Thống kê
Thương mại và
dịch vụ
Nhóm TK nội thương
- TK bán buôn, bán lẻ;
sửa chữa ô tô, mô tô,
xe máy và xe có động
cơ khác
Nhóm TK dịch vụ
Nhóm TK du lịch,
vận tải, tổng hợp
- TK du lịch
- TK vận tải, kho bãi
- Công tác kế hoạch,
thi đua của Vụ
Nhóm TK ngoại
thương
- TK xuất nhập khẩu
hàng hóa
- TK XNK dịch vụ
- TK FATS
- TK lưu trú, ăn uống
- TK Kinh doanh bất
động sản
- TK hành chính và
hỗ trợ
- Điều tra cá thể
- Đầu mối về TĐT cơ
sở KTHCSN
- TK dịch vụ khác
- Công tác kinh phí
- Tổng hợp phương
pháp, chế độ của Vụ
TMDV
- Tổng hợp niên
giám, ấn phẩm
Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp 5 năm/lần
Về tổ chức, biên chế: Vụ TK Thương mại và Dịch vụ được Lãnh đạo Tổng cục
Thống kê biên chế 23 cán bộ, công chức. Ban Lãnh đạo Vụ gồm:
- Vụ trưởng: phụ trách chung toàn bộ các công việc của Vụ, trực tiếp phụ trách
nhóm thống kê nội thương, Tổng điều tra cơ sở kinh tế, HCSN với vai trò Tổ trưởng Tổ
thường trực của Ban chỉ đạo TĐT Trung ương
- 03 Phó vụ trưởng được giao phụ trách, chỉ đạo công việc của 3 nhóm giúp Vụ
trưởng.
2.3. Nhiệm vụ cụ thể về thống kê thương mại và dịch vụ
Nghiệp vụ thống kê thương mại và dịch vụ được Vụ TMDV triển khai thông qua
các công việc thường xuyên, không thường xuyên gồm:
(1) Đảm bảo thông tin thống kê thương mại dịch vụ
- Thực hiện các báo cáo nhanh tháng, quý, các chỉ tiêu được giao;
- Biên soạn và công bố số liệu chính thức;
225
- Cung cấp số liệu cho Niên giám thống kê;
- Cung cấp số liệu đột xuất cho Chính phủ, các Bộ ngành, các Tổ chức quốc tế,
doanh nghiệp và người dùng tin khác
(2) Chỉ đạo các Cục Thống kê thực hiện chế độ báo cáo, các cuộc điều tra thường
xuyên, không thường xuyên:
- Chế độ báo cáo ban hành cho doanh nghiệp nhà nước và FDI;
- Điều tra hàng tháng về tổng mức lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ của các DN ngoài
Nhà nước, HTX, cơ sở cá thể;
- Điều tra hàng tháng về vận tải của các DN ngoài nhà nước, HTX, cơ sở cá thể;
- Điều tra quý về xuất nhập khẩu dịch vụ của các doanh nghiệp ngoài nhà nước;
- Điều tra các cơ sở SXKD cá thể 1/10 hàng năm;
- Điều tra chi tiêu của khách du lịch trong nước và quốc tế 2 năm/lần;
- Điều tra chi phí vận tải, bảo hiểm hàng nhập khẩu 3 năm/lần
- Điều tra toàn bộ các DN về XNK dịch vụ 5 năm/lần
(3) Công tác phương pháp chế độ
- Dự thảo xây dựng, sửa đổi các Hệ thống chỉ tiêu thống kê thương mại dịch vụ;
- Dự thảo xây dựng, sửa đổi Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng cho các Bộ,
ngành được giao phụ trách;
- Dự thảo xây dựng, sửa đổi Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng cho các
doanh nghiệp;
- Dự thảo xây dựng, sửa đổi Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho Cục Thống kê;
- Xây dựng các phương án điều tra thống kê được giao cho lĩnh vực thương mại và
dịch vụ;
- Tham gia thẩm định hệ thống chỉ tiêu, chế độ báo cáo, phương án điều tra của Bộ,
ngành, các đơn vị liên quan;
- Tham gia ý kiến các văn bản, đề án khác của Tổng cục, Bộ, ngành khác có liên quan;
- Tham gia ý kiến các văn bản, công việc khác được phân công
(4) Ứng dụng công nghệ thông tin:
- Phối hợp với Vụ PPCĐ xây dựng kế hoạch công nghệ thông tin hàng năm và
nghiệm thu các phần mềm ứng dụng được giao;
226
- Phối hợp với đơn vị tin học triển khai thực hiện các phần mềm nghiệp vụ báo cáo
tháng, năm phần thương mại, dịch vụ được giao
(5) Hợp tác quốc tế: thực hiện theo kế hoạch, phân công của Tổng cụ
(6) Chủ trì xây dựng phương án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Tổng điều tra cơ sở
kinh tế, HCSN 5 năm/lần;
(7) Các công tác khác:
- Tham gia hoạt động thường xuyên của các tổ công tác liên ngành, các hoạt động
phối hợp Bộ ngành theo yêu cầu:
- Dự toán kinh phí điều tra cho địa phương hàng năm;
- Chỉ đạo, giám sát công việc thường xuyên của địa phương;
- Xây dựng kế hoạch công tác giao địa phương hàng năm về TMDV;
- Theo dõi, chấm thi đua cho địa phương hàng năm;
- Thực hiện các công tác tổ chức, đào tạo theo kế hoạch và yêu cầu của Tổng cục;
- Thực hiện các đề tài khoa học, các nội dung nghiên cứu khoa học khác
3. Sơ đồ tổ chức thông tin thống kê thương mại và dịch vụ
Do sự khác nhau về nguồn số liệu, việc tổ chức luồng thông tin thống kê thương
mại dịch vụ cũng có sự khác biệt, về cơ bản bao gồm 3 mô hình dưới đây:
- Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức luồng thông tin TK thương mại dịch vụ trong nước;
- Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức luồng thông tin TK thương mại dịch vụ quốc tế;
- Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức luồng thông tin thống kê du lịch
Nội dung các sơ đồ thông tin như sau:
227
Sơ đồ 1: Tổ chức luồng thông tin thống kê thương mại, dịch vụ trong nước
TỔNG CỤC
THỐNG KÊ
Báo cáo tổng hợp bán lẻ
hàng hóa, DV, VT
Chế độ 111
một số chỉ
tiêu
BỘ CÔNG
THƯƠNG,
BỘ GIAO
VỤ TK THƯƠNG MẠI
CỤC THỐNG KÊ
VÀ DỊCH VỤ
Chế độ báo cáo Sở, ngành
Báo cáo tổng hợp bán lẻ hàng hóa, DV,
VT theo Chế độ báo cáo Cục TK
PHÒNG TK TM
SỞ CÔNG THƯƠNG,
SỞ GIAO THÔNG
Báo cáo, phiếu điều tra tháng, quý,
năm về tổng mức BL, DV, VT
UBND
QUẬN/HUYỆN
CHI CỤC THỐNG KÊ
Chế độ 77
DOANH NGHIỆP NGOÀI
NHÀ NƯỚC, HTX, CƠ SỞ
SXKD CÁ THỂ
DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC, FDI
Phương án điều tra tổng mức bán
lẻ, dịch vụ, vận tải ngoài nhà nước
Cũng như hầu hết các lĩnh vực thống kê kinh tế khác, thông tin thống kê về tổng
mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu một số ngành dịch vụ, thống kê vận tải được các Cục
Thống kê thu thập từ các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở SXKD cá thể hàng tháng, năm
dựa vào chế độ báo báo áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước, FDI, điều tra chọn mẫu
doanh nghiệp ngoài nhà nước, hợp tác xã và cơ sở SXKD cá thể. Từ đó suy rộng, tổng
hợp thành các báo cáo chuyên ngành và gửi về Tổng cục Thống kê để xử lý, tổng hợp
chung toàn quốc.
228
Ở một số lĩnh vực, số liệu được thu thập từ báo cáo của Bộ, ngành, cụ thể:
- Xuất nhập khẩu hàng hóa: số liệu tổng hợp từ báo cáo của Tổng cục Hải quan dựa
trên Tờ khai hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu;
- Xuất nhập khẩu dịch vụ: một số khoản mục tổng hợp từ báo cáo của Cục Hàng
hải, Tổng công ty Hàng không, TCT cụm cảng, TCT hàng hải, Tổng công ty Bưu chính,
viễn thông…
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức luồng thông tin TK thương mại dịch vụ quốc tế
TỔNG CỤC
THỐNG KÊ
Báo cáo tổng hợp bán lẻ
hàng hóa, DV, VT
Chế độ 111
TỔNG CỤC
HẢI QUAN
VỤ TK THƯƠNG MẠI
VÀ DỊCH VỤ
CỤC THỐNG KÊ
Qui chế thống kê hải quan
PHÒNG TK TM
CHI CỤC HẢI
QUAN
Chế độ 77
CHI CỤC THỐNG KÊ
Tờ khai hải quan theo
Luật Hải quan
Phương án điều tra
DN ngoài nhà nước
DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC, FDI
DOANH NGHIỆP NGOÀI
NHÀ NƯỚC, HTX, CƠ SỞ
SXKD CÁ THỂ
229
Thống kê XNK hàng hóa được Tổng cục Thống kê tổng hợp và công bố từ năm
1956 Trước năm 1996, hoạt động ngoại thương chỉ do một số ít đơn vị chuyên doanh của
nhà nước - nơi phát sinh chứng từ ghi chép ban đầu như hợp đồng, chứng từ, vận đơn -
thực hiện. Từ năm 1996 Tổng cục Hải quan chính thức được giao trách nhiệm thu thập và
xử lý số liệu từ tờ khai hải quan và cung cấp cho Tổng cục Thống kê để biên soạn và
công bố. Đây là bước chuyển đổi quan trọng, tạo điều kiện cho thống kê xuất nhập khẩu
dần hội nhập với thống kê thế giới. Tuy nhiên kênh thông tin dựa trên báo cáo doanh
nghiệp vẫn được duy trì. Sơ đồ 2.2 cho thấy từ năm 1996 đến nay hệ thống thông tin
thống kê XNK hàng hóa tồn tại hai kênh thu thập và tổng hợp thông tin XNK:
- Kênh 1: Số liệu của Tổng cục Thống kê tổng hợp từ báo cáo của Tổng cục Hải
quan dựa trên nguồn số liệu là tờ khai hải quan, được sử dụng là kênh thông tin chính
thống để công bố số liệu ở cấp quốc gia.
- Kênh 2: Số liệu của các Cục Thống kê địa phương tổng hợp từ báo cáo của các
doanh nghiệp nhà nước, FDI và điều tra doanh nghiệp ngoài nhà nước có hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hóa đóng trên địa bàn, sử dụng để tính toán các chỉ tiêu thống kê của địa
phương phục vụ lãnh đạo địa phương điều hành kinh tế. Đây là nguồn số liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu tiềm năng, thế mạnh xuất nhập khẩu của vùng, địa phương cũng như
công tác phân vùng, qui hoạch, không sꢀ dụng để công bố chung của cả nước.
- Sự tồn tại hai kênh thông tin thống kê trong thời điểm hiện nay xuất phát từ ba
nguyên nhân chủ yếu:
- Về nhu cầu sử dụng số liệu: số liệu ước tính hàng tháng phục vụ lãnh đạo các cấp
ở địa phương để tham gia điều hành hoạt động kinh tế. Số liệu này các địa phương
thường phải ước tính vào khoảng giữa tháng tham chiếu trong khi nguồn số liệu từ Tổng
cục Hải quan là số liệu thực hiện. Về lý thuyết việc sử dụng nguồn ước tính từ doanh
nghiệp dựa trên cơ sở hợp đồng ngoại mà doanh nghiệp đã hoặc có khả năng ký kết là sát
với thực tế nhất
- Về phương pháp thống kê: hai kênh thông tin cơ bản sử dụng thông nhất phương
pháp thống kê dựa trên khái niệm, định nghĩa về hàng hóa xuất/nhập khẩu, phạm vi thống
kê của Tổng cục Thống kê. Tuy nhiên vì đơn vị thống kê của địa phương là đơn vị
thường trú đóng tại địa phương nên trị giá xuất nhập khẩu địa phương được tổng hợp từ
trị giá xuất/nhập khẩu của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, trong đó trị giá của
doanh nghiệp được tính theo công thức:
XNK của DN = XNK trực tiếp của DN (-) XNK ủy thác cho DN khác (+) Uỷ thác
XNK cho DN khác
Phạm vi này không hoàn toàn trùng với số liệu từ nguồn hải quan vốn chỉ bao gồm
phần XNK trực tiếp của doanh nghiệp có mã số thuế đăng ký tại địa bàn tỉnh.
230
- Về khả năng cung cấp số liệu của Tổng cục Hải quan: cho đến nay, số liệu của
Tổng cục Hải quan cung cấp cho Tổng cục thống kê mới chỉ bao gồm trị giá XNK trực
tiếp của các địa phương, không có chi tiết theo mặt hàng/thị trường để đáp ứng yêu cầu
thống kê địa phương. Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ đã làm việc với TCHQ để có
được số liệu 6 tháng, cả năm với các thông tin định danh cơ bản và trị giá XNK của
doanh nghiệp, gửi cho các địa phương làm căn cứ giúp Cục Thống kê đối chiếu, rà soát
và thu thập bổ sung.
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức luồng thông tin thống kê du lịch
TỔNG CỤC
THỐNG KÊ
BỘ CÔNG AN,
BỘ QUỐC PHÒNG
(Số lượng người
Chế độ 111
VỤ TK THƯƠNG MẠI
VÀ DỊCH VỤ
CỤC THỐNG KÊ
xuất/nhập cảnh)
PHÒNG TK TM
CỬA KHẨU
Phương án điều tra
chi tiêu của khách
du lịch
CƠ SỞ LƯU TRÚ
(Điều tra khách nghỉ tại cơ sở lưu trú)
II. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
1. Tổng quan Hệ thống chỉ tiêu thống kê Thương mại, dịch vụ
Theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 2/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Thông tư số 02/2011-TT-BKHĐT của Bộ
KHĐT Quy định nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ
thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã, hệ thống chỉ tiêu thống kê thương mại dịch
vụ bao gồm:
231
Bảng 3: Số lượng các chỉ tiêu thống kê thương mại và dịch vụ
Chỉ tiêu TK
quốc gia
Chỉ tiêu
TK tỉnh
Chỉ tiêu TK
huyện
Tổng số
50
2
26
2
3
1
2
-
1. Cơ sở kinh tế, HCSN
2. Thương mại, DV trong nước
3. Thương mại quốc tế
4. Vận tải, kho bãi
5. Bưu chính, viễn thông
6. Du lịch
4
4
14
14
9
2
8
-
7
-
7
3
-
Ở mỗi lĩnh vực thống kê nêu trong bảng 3, tài liệu này giới thiệu danh mục các chỉ
tiêu của từng lĩnh vực trong Phụ lục 1 và chỉ đề cập chi tiết một số chỉ tiêu chủ yếu, quan
trọng của tứng lĩnh vực, được nhiều người sử dụng số liệu quan tâm, hiện được Vụ
Thương mại và Dịch vụ tổng hợp, Tổng cục Thống kê công bố thường xuyên, bao gồm
14 chỉ tiêu sau:
(1) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội;
(2) Số lượt hành khách vận chuyển và luân chuyển;
(3) Khối lượng hàng hoá vận chuyển và luân chuyển;
(4) Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam;
(5) Chi tiêu của khách du lịch quốc tế;
(6) Số lượng, năng lực và công suất sử dụng của cơ sở lưu trú;
(7) Giá trị xuất khẩu hàng hóa;
(8) Giá trị nhập khẩu hàng hóa;
(9) Mặt hàng xuất khẩu;
(10) Mặt hàng nhập khẩu;
(11) Xuất siêu, nhập siêu hàng hóa;
(12) Giá trị xuất khẩu dịch vụ;
(13) Giá trị nhập khẩu dịch vụ;
(14) Xuất siêu, nhập siêu dịch vụ.
Riêng nhóm chỉ tiêu về bưu chính viễn thông, hiện nay Vụ Thống kê Thương mại
và Dịch vụ đang thực hiện nhưng sẽ được chuyển giao cho Vụ Thống kê Xã hội và Môi
trường từ năm 2013. Vì vậy trong tài liệu này không đề cập nhóm chỉ tiêu trên
232
Ngoài các chỉ tiêu thống kê thương mại dịch vụ nêu trên, tài liệu này còn giới thiệu
nội dung hai chỉ tiêu cơ bản liên quan đến cuộc Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính,
sự nghiệp và Điều tra cơ sở SXKD cá thể do Vụ TMDV chủ trì thực hiện, cụ thể là:
(15) Số cơ sở, lao động trong các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp;
(16) Số cơ sở, lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông. Lâm,
ngư nghiệp.
2. Một số chỉ tiêu chủ yếu
2.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu DV tiêu dùng xã hội
a. Mục đích, ý nghĩa.
Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của các đơn vị sản
xuất kinh doanh cho tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình, nói cách khác, nó phản ánh
một phần lớn mức tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thông qua thị trường. Trong
thống kê, chỉ tiêu này phục vụ việc tính giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm của ngành
thương nghiệp bán lẻ, lưu trú và ăn uống, du lịch và một số ngành dịch vụ khác
b. Nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu
Bán lẻ hàng hóa là bán những hàng hoá loại mới, hàng đã qua sử dụng, chủ yếu cho
tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, tại các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, hợp tác
xã mua bán, quầy hàng, bán tại chợ hoặc bán lưu động,...
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội bao gồm toàn bộ
số tiền thu được, hoặc sẽ thu được (doanh thu) từ bán lẻ hàng hoá (kể cả các khoản phụ
thu và phí thu thêm ngoài giá bán, nếu có), cung cấp dịch vụ tiêu dùng (ăn uống, lưu trú,
du lịch lữ hành, dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng của các doanh nghiệp, cơ sở
SXKD cá thể, không bao gồm doanh thu cung cấp dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp như
y tế, giáo dục, thể thao, vui chơi giải trí...).
Định kỳ, chỉ tiêu này do các Cục Thống kê tổng hợp và báo cáo cho Vụ Thương
mại và Dịch vụ theo qui định của Chế độ báo cáo ban hành theo Quyết định số 734/QĐ-
TCTK 734/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
Số liệu hiện nay đang được Cục Thống kê thu thập từ các nguồn:
- Báo cáo của toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước theo qui định của Chế độ báo cáo
thống kê ban hành theo Quyết định số 63/2003/QĐ-BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch
Đầu tư và Quyết định số 158/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
- Phương án điều tra chọn mẫu các doanh nghiệp ngoài nhà nước, FDI, hợp tác xã
ban hành theo Quyết định số 410/2003/QĐ-TCTK ngày 29/7/2003
- Phương án điều tra chọn mẫu các cơ sở SXKD cá thể ban hành theo Quyết định số
411/2003/QĐ-TCTK ngày 29/7/2003
233
Số liệu điều tra mẫu doanh nghiệp ngoài nhà nước, FDI, hợp tác xã, cơ sở SXKD cá
thể được suy rộng, tổng hợp cùng với báo cáo của doanh nghiệp nhà nước để có được chỉ
tiêu Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh, thành
phố. Việc chọn mẫu, nhập tin, tổng hợp số liệu tháng, báo cáo chính thức năm được thực
hiện bằng chương trình máy tính do Tổng cục Thống kê cung cấp cho các Cục Thống kê.
c. Phân tổ chính
- Báo cáo tháng: số liệu được phân theo loại hình kinh tế (kinh tế nhà nước, tập thể,
cá thể, tư nhân và khu vực FDI); theo ngành kinh tế (thương nghiệp, khách sạn nhà hàng,
du lịch và dịch vụ khác).
- Báo cáo chính thức năm: ngoài các phân tổ như báo cáo tháng, chỉ tiêu này còn
được phân theo nhóm hàng hóa gồm: lương thực thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng,
dụng cụ, trang thiết bị gia đình; vật phẩm văn hóa, giáo dục, y tế; gỗ và vật liệu xây
dựng; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng ); xăng dầu các loại; nhiên liệu khác (trừ xăng,
dầu); hàng hóa khác.
- Tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
d. Một số bất cập và hướng cải tiến
Chỉ tiêu “Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội” mang
tính lịch sử lâu đời và khá đặc thù của Việt nam, được sử dụng phổ biến trong phân tích
kinh tế từ trung ương đến địa phương hiện nay. Vụ TMDV hiện đang tổ chức thu thập và
tính chỉ tiêu này từ các doanh nghiệp, cơ sở SXKD cá thể hoạt động trong các ngành kinh
tế sau theo VSIC 2007:
- Ngành G: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô xe máy và xe có động cơ khác;
- Ngành I: dịch vụ lưu trú và ăn uống;
- Ngành L: dịch vụ kinh doanh bất động sản;
- Ngành M: dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ;
- Ngành N: dịch vụ hành chính và hỗ trợ;
- Ngành P: dịch vụ giáo dục, đào tạo;
- Ngành Q: dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe;
- Ngành R: dịch vụ văn hoá thể thao, vui chơi, giải trí;
- Ngành S: dịch vụ khác
Với các phân tổ chỉ tiêu theo ngành kinh tế được công bố hiện nay, doanh thu bán lẻ
hàng hóa được xếp vào ngành “thương nghiệp”, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống
được xếp vào “Doanh thu khách sạn, nhà hàng”, dịch vụ du lịch lữ hành được phân tổ
trong “Dịch vụ du lịch”, các dịch vụ còn lại gộp chung vào nhóm “Dịch vụ khác”.
234
Chỉ tiêu này không bao gồm doanh thu của các đơn vị không hoạt động theo luật
doanh nghiệp như: trường học, bệnh viện, câu lạc bộ, trung tâm thể thao, viện nghiên
cứu… vì vậy nó chỉ phản ánh một bộ phận lớn, không phải là toàn bộ tiêu dùng của dân
cư nếu so sánh với số liệu chi tiêu của hộ gia đình thu thập qua điều tra thu/chi hộ gia
đình. Số liệu những năm qua đã đáp ứng một phần yêu cầu đánh giá, phân tích nền kinh
tế thị trường của đất nước. Tuy nhiên chưa có sự bóc tách nội dung số liệu một số lĩnh
vực dịch vụ một cách rõ ràng, phương án điều tra để thu thập thông tin phục vụ các mục
tiêu sử dụng. Số liệu cần được tính toán theo hướng tổng hợp, công bố riêng các ngành,
phù hợp với việc phân công chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong Tổng cục
Theo quy định của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, tỉnh, huyện mới được ban
hành, chỉ tiêu này được tách thành 3 chỉ tiêu “Tổng mức bán lẻ hàng hóa”, “Doanh thu
dịch vụ lưu trú, ăn uống”, “Doanh thu dịch vụ du lịch”. Doanh thu một số ngành dịch vụ
còn lại sẽ được nghiên cứu thu thập để tiếp tục công bố theo lộ trình, phù hợp với qui
định của Hệ thống ngành kinh tế Việt nam nhằm đảm bảo sự rõ ràng về phạm vi, giúp
cho người sử dụng thông tin hiểu chính xác về con số.
Thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, tỉnh, huyện mới được ban hành, Vụ
Thương mại và Dịch vụ đang nghiên cứu đổi mới theo hướng tách riêng chỉ tiêu cho từng
ngành, cụ thể:
- Chỉ tiêu “Tổng mức bán lẻ hàng hóa”
- Chỉ tiêu “Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống”, “Doanh thu du lịch”
- Thu thập, tổng hợp để công bố số liệu về các ngành dịch vụ được phân công gồm:
dịch vụ kinh doanh bất động sản; dịch vụ hành chính và hỗ trợ; dịch vụ khác
Các ngành dịch vụ khác gồm ngành M, P, Q, R đã được phân công cho Vụ TK Xã
hội và Môi trường thu thập, tổng hợp số liệu. Vì vậy doanh thu của các doanh nghiệp, cơ
sở cá thể kinh doanh các ngành này sẽ được phản ánh riêng cùng với doanh thu của các
đơn vị sự nghiệp, đảm bảo đầy đủ về phạm vi.
Cùng với Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho các DN nhà nước và FDI ban hành
theo Quyết định số 77/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/11/2010, các
phương án điều tra chọn mẫu áp dụng cho doanh nghiệp ngoài nhà nước, hợp tác xã, cơ
sở SXKD cá thể hiện đang được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp, đi đôi với việc sửa đổi
chế độ báo cáo ban hành cho Cục Thống kê theo kế hoạch chung của Tổng cục Thống kê
2.2. Số lượt hành khách vận chuyển và luân chuyển
a. Mục đích, ý nghĩa
Chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh vận chuyển hành khách của các
đơn vị kinh doanh vận tải thuộc các loại hình kinh tế trong một thời gian nhất định, là cơ
235
sở đánh giá tình hình vận chuyển hành khách trong kỳ, đồng thời là một trong những
nguồn thông tin quan trọng cho công tác quản lý, lập kế hoạch vận chuyển hành khách
đáp ứng nhu cầu đi lại của dân cư.
b. Khái niệm, nội dung, phương pháp tính
- Số lượt hành khách vận chuyển: Là số hành khách thực tế đã vận chuyển trong
kỳ, bất kể độ dài quãng đường vận chuyển là bao nhiêu. Đơn vị tính là lượt hành khách.
- Số lượt hành khách luân chuyển: Là số lượt hành khách được luân chuyển tính
theo cả hai yếu tố: số lượt vận chuyển và cự ly (quãng đường) vận chuyển thực tế. Đơn vị
tính là Hành khách – Kilômét (Hk.Km).
Phương pháp tính:
Số lượt hành
khách vận
chuyển (Hk)
Số lượt hành khách luân
chuyển (Hk.Km)
Cự ly vận chuyển thực tế
=
x
(Km)
Trong đó:
Cự ly vận chuyển thực tế: là quãng đường tính giá vé đã được cơ quan có thẩm
quyền quy định.
Đối với xe khách cho thuê theo hợp đồng vận tải chuyến thì lượt hành khách vận
chuyển của mỗi hợp đồng chỉtính 1 lần hành khách vận chuyển theo số ghế phương tiện.
c. Phân tổ chủ yếu
- Ngành vận tải (đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không);
- Loại hình kinh tế;
- Trong nước/ngoài nước;
- Tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.
d. Nguồn số liệu
- Báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp vận tải nhà nước và doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Điều tra vận tải doanh nghiệp ngoài nhà nước;
- Điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp.
2.3. Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển
a. Mục đích, ý nghĩa
Chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá của các loại
hình kinh tế trong một thời gian nhất định, là cơ sở phân tích, đánh giá tình hình vận
236
chuyển hàng hóa trong kỳ, đồng thời phục vụ công tác quản lý, lập kế hoạch vận
chuyển hàng hóa
b. Khái niệm, nội dung, phương pháp tính
- Khối lượng hàng hoá vận chuyển
Là khối lượng hàng hoá đã được vận chuyển trong kỳ, bất kể độ dài quãng đường
vận chuyển là bao nhiêu. Đơn vị tính khối lượng hàng hoá vận chuyển là Tấn (T), vận tải
đường ống là mét khối (m3), nhưng quy đổi ra Tấn để cộng chung khi tính tổng khối
lượng vận chuyển.
Khối lượng hàng hoá vận chuyển được tính theo trọng lượng thực tế của hàng hoá
vận chuyển (kể cả bao bì nếu có). Khối lượng hàng hoá vận chuyển chỉ được tính sau khi
kết thúc quá trình vận chuyển, đã vận chuyển đến nơi giao nhận theo quy định trong hợp
đồng vận chuyển và làm xong thủ tục thực tế xếp trên phương tiện để tính khối lượng
hàng hoá vận chuyển. Đối với hàng hoá cồng kềnh vận chuyển bằng ô tô, trong điều kiện
không thể cân đo trực tiếp được khối lượng thì qui ước tính bằng 50% tấn trọng tải
phương tiện hoặc tính theo thỏa thuận giữa chủ phương tiện và chủ hàng để tính khối
lượng hàng hoá thực tế.
- Khối lượng hàng hóa luân chuyển
Là khối lượng vận tải hàng hóa tính theo cả hai yếu tố: Khối lượng hàng hoá vận
chuyển và cự ly vận chuyển thực tế. Đơn vị tính là Tấn-Kilômet (T.Km).
Phương pháp tính
Khối lượng hàng hóa
luân chuyển (T.Km)
Khối lượng hàng
Cự ly vận chuyển
thực tế (Km)
=
x
hóa vận chuyển (T)
c. Phân tổ chủ yếu
- Ngành vận tải (đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không);
- Loại hình kinh tế;
- Trong nước/ngoài nước;
- Tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
d. Nguồn số liệu
- Báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp vận tải nhà nước và doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục thống kê tỉnh/ thành phố trực
thuộc Trung ương.
- Điều tra doanh nghiệp ngoài nhà nước.
237
- Điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp.
2.4. Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam
a. Mục đích, ý nghĩa
Thông tin này đáp ứng nhiều yêu cầu nghiên cứu, quản lý, hoạch định chiến lược,
chính sách phát triển kinh tế, an ninh xã hội của các cấp, các ngành. Làm căn cứ để tính
toán kết quả xuất nhập khẩu dịch vụ du lịch.
b. Khái niệm, nội dung, phương pháp tính
- Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam.
- Tổng hợp theo báo cáo hàng tháng của Cục quản lýxuất nhập cảnh (đối với người
nước ngoài vào Việt Nam bằng đường hàng không) và Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng (đối
với người nước ngoài vào Việt Nam bằng đường bộ, đường sắt và đường thuỷ).
c. Phân tổ chủ yếu
- Phân theo mục đích đến (báo chí, du lịch, thương mại, thăm thân nhân, học tập,
định cư, lao động và các mục đích khác);
- Quốc tịch;
- Phương tiện đến.
d. Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Công an
(Cục quản lýxuất nhập cảnh) và Bộ Quốc phòng (Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng).
2.5. Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt nam
a. Mục đích, ý nghĩa:
Thông tin thu được từ chỉ tiêu này kết hợp với thông tin thu được từ các chế độ báo
cáo, điều tra thống kê khác, tính toán suy rộng tổng doanh thu hoạt động du lịch; doanh
thu xuất khẩu dịch vụ du lịch; các chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch…, đáp
ứng nhiều yêu cầu thông tin nghiên cứu, quản lý, hoạch định chiến lược, chính sách phát
triển du lịch các cấp, các ngành.
b. Khái niệm, định nghĩa
Là tổng số tiền chi tiêu của khách quốc tế đi du lịch hoặc của đại diện cho đoàn đi
du lịch trong suốt thời gian đi và ở lại Việt nam.
Chi tiêu của khách du lịch được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu khách du lịch
người nước ngoài đang nghỉ tại các cơ sở lưu trú. Chi tiêu của khách bao gồm các khoản
mục như: chi phí lưu trú, ăn uống, đi lại tại Việt Nam, mua hàng hóa, tham quan, giải trí,
y tế, giáo dục….được tính toán bình quân cho một ngày khách ở tại Việt Nam.
238
c. Phân tổ chính:
- Phân theo quốc tịch, khoản chi, phương tiện, mục đích, nghề nghiệp, độ tuổi, giới
tính và theo loại cơ sở lưu trú.
d. Nguồn số liệu
Thu thập từ Điều tra mẫu chi tiêu của khách du lịch do Tổng cục Thống kê tiến
hành 2 năm/lần tại một số tỉnh thành phố có lượng du khách lớn được chọn để điều tra..
2.6. Số lượng, năng lực và công suất sử dụng cơ sở lưu trú
a. Mục đích, ý nghĩa:
Thông tin này đáp ứng nhiều yêu cầu thông tin nghiên cứu, quản lý, hoạch định
chiến lược, chính sách phát triển du lịch các cấp, các ngành.
b. Khái niệm, định nghĩa:
- Số lượng cơ sở lưu trú du lịch: Là số lượng cơ sở cho thuê buồng, giường và cung
cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú du lịch ngắn ngày, trong đó khách sạn là cơ
sở lưu trú du lịch chủ yếu.
- Năng lực sử dụng cơ sở lưu trú: Là chỉ tiêu đánh giá khả năng phục vụ khách du
lịch mà các cơ sở lưu trú có thể đảm nhận được như: số lượng buồng, giường, … của các
cơ sở lưu trú.
- Công suất sử dụng của cơ sở lưu trú: Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của
các cơ sở lưu trú trong một thời kỳ nhất định như một tháng, quí, 6 tháng và năm. Công
suất sử dụng của các cơ sở lưu trú được phản ánh qua chỉ tiêu hệ số sử dụng buồng,
giường (tỉ lệ % của tổng những ngày có sử dụng buồng, giường trong kỳ so với khả năng
có thể cung cấp buồng, giường của đơn vị tính trong kỳ). Công suất sử dụng của cơ sở
lưu trú thường được tính thông qua chỉ tiêu hệ số sử dụng buồng (giường).
c. Nội dung, phương pháp tính:
Hệ số sử dụng
buồng (%)
Số lượt ngày sử dụng buồng
=
=
------------------------------------------- X 100
Số buồng có trong các cơ sở lưu trú
nhân với số ngày trong kỳ báo cáo
Hệ số sử dụng
giường (%)
Số lượt ngày sử dụng giường
------------------------------------------- X 100
Số giường có trong các cơ sở lưu trú
nhân với số ngày trong kỳ báo cáo
239
c. Phân tổ chính: theo loại hình kinh tế, loại cơ sở lưu trú, loại khách sạn.
d. Nguồn số liệu: tổng hợp từ báo cáo của các Cục Thống kê.
2.7. Giá trị xuất khẩu hàng hóa
a. Mục đích, ý nghĩa
Là chỉ tiêu phản ánh lượng ngoại tệ của đất nước thu được từ hàng hóa do nền
kinh tế tạo ra trong một thời kỳ nhất định, đồng thời cũng thể hiện sức cạnh tranh của
nền sản xuất trong nước so với các nước, khả năng tiếp cận, thâm nhập thị trường hàng
hóa thế giới.
b. Khái niệm, nội dung:
Tổng giá trị hàng hóa đưa ra nước ngoài, làm giảm nguồn của cải vật chất của đất
nước. Giá trị xuất khẩu hàng hóa được tính theo giá loại FOB (Free on Board) hoặc
tương đương, là giá giao hàng tại biên giới Việt Nam, được tính cho một thời kỳ nhất
định, theo một loại tiền thống nhất là đô la Mỹ.
Hàng hoá xuất khẩu gồm toàn bộ hàng hoá có xuất xứ trong nước và hàng tái xuất,
được đưa ra nước ngoài, làm giảm nguồn của cải, vật chất trong nước, trong đó:
- Hàng có xuất xứ trong nước: là hàng hoá được khai thác, sản xuất, chế biến trong
nước theo qui tắc xuất xứ của Việt Nam;
- Hàng tái xuất: là những hàng hoá Việt Nam đã nhập khẩu, sau đó lại xuất khẩu
nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, không làm thay đổi tính chất cơ bản
của hàng hoá được, trừ những hàng hóa tạm nhập khẩu dưới sự kiểm tra giám sát của cơ
quan hải quan và phải tái xuất theo các qui định của pháp luật.
Khái niệm hàng hóa xuất khẩu nêu trên được thực hiện từ năm 2009 theo Hệ thống
thương mại chung dựa trên khuyến nghị của Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (UNSD)
thay thế cho Hệ thống thương mại đặc biệt mở rộng được sử dụng trước đó. Điểm khác
biệt là: theo Hệ thống thương mại chung, hàng hóa từ kho ngoại quan đưa ra nước ngoài
được tính là hàng xuất khẩu trong khi Hệ thống thương mại đặc biệt mở rộng chỉ tính
những hàng hóa đưa từ nội địa vào kho ngoại quan.
240
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu bồi dưỡng Nghiệp vụ công tác thống kê viên (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_boi_duong_nghiep_vu_cong_tac_thong_ke_vien_phan_2.pdf

