Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cục quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA  
CÔNG CHỨC CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH THANH HÓA  
Bùi Thị Ninh1, Phạm Trung Kiên2  
TÓM TẮT  
Yếu tố con người luôn được xem là yếu tố quan trọng bậc nhất và có tính chất quyết  
định cho sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức. Do vậy, năng lực của cán bộ nhân viên hay  
người lao động cần phải được đặc biệt chú trọng. Đặc biệt là đội ngũ công chức Việt Nam  
hiện nay, là đội ngũ chủ chốt trong các cơ quan Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc  
xây dựng và phát triển đơn vị vững mạnh. Nghiên cứu này đánh giá năng lực thực thi công vụ  
của công chức tại Cục quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa; từ đó đưa ra các giải pháp và kiến  
nghị nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ tại đơn vị trong thời gian tới.  
Từ khóa: Năng lực thực thi, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng công chức.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ công  
chức - những người thực thi công vụ, Cục Quản lý thị trường (Cục QLTT) tỉnh Thanh  
Hóa đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu cải  
cách hành chính. Hàng năm, Cục đã cử một số lượng lớn cán bộ, công chức Nhà nước  
tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng bao gồm cả trong nước và ngoài nước…, đồng thời  
có những chính sách nhằm khuyến khích, động viên đội ngũ cán bộ, công chức tích cực  
học tập, tu dưỡng để không ngừng nâng cao trình độ, năng lực. Nhờ những biện pháp đó  
mà trình độ, năng lực của cán bộ, công chức được nâng lên đáng kể.  
Sau một thời gian nghiên cứu, nhận thấy một bộ phận cán bộ công chức tại Cục  
QLTT tỉnh Thanh Hóa đã được chuẩn hóa về kiến thức, phù hợp với ngạch công chức và  
nhiệm vụ đảm nhận, nhưng vẫn còn một bộ phận công chức chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ  
năng và thái độ.  
Việc nghiên cứu năng lực thực thi công vụ là cần thiết, đặc biệt là nghiên cứu về kỹ  
năng, thái độ, hành vi của công chức hành chính, từ đó tạo cơ sở để tuyển dụng, đào tạo,  
bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, góp  
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung  
và trong hoạt động quản lý thị trường nói riêng.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Phương pháp thu thập số liệu  
Số liệu thứ cấp: được thu thập từ phòng Tổ chức hành chính; các tài liệu, văn bản  
khác từ sách, báo, báo cáo của các sở ban ngành, báo cáo tổng kết hoạt động công tác  
Cục QLTT Thanh Hóa, tham khảo tài liệu trên mạng internet.  
1 Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hồng Đức; [email protected]  
2 Cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa  
107  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Số liệu sơ cấp: Tác giả phát phiếu khảo sát cho đối tượng: Tất cả cán bộ nhân viên là  
công chức tại Cục QLTT. Tính thời điểm khảo sát có 155 cán bộ công chức, tác giả phát ra  
131 phiếu (số còn lại trong quá trình đi công tác, đào tạo, nghỉ phép, nghỉ ốm). Có thể tham  
khảo tại phụ lục 1, phụ lục 2. Trong đó: Số phiếu phát ra: 131 phiếu. Số phiếu thu về: 131  
phiếu. Số phiếu hợp lệ: 126 phiếu. Số phiếu không hợp lệ: 5 phiếu. Nội dung phiếu khảo sát  
điều tra về mức độ đáp ứng về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ hành  
vi của công chức - các tiêu chí chính trong đánh giá năng lực thực thi công vụ của công  
chức Cục QLTT. Tác giả sử dụng thang đo Likert (cho điểm từ 1-5) từ “rất không đồng ý”  
cho đến “rất đồng ý” và tính điểm trung bình của từng nội dung.  
Phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh  
để đánh giá thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Tổng quan về Cục Quản lý thị trường Thanh Hóa  
Cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa tiền thân là Chi Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa  
được thành lập theo Quyết định 3650/QĐ-BCT ngày 11 tháng 10 năm 2018 của Bộ  
trưởng Bộ Công Thương là tổ chức trực thuộc Tổng Cục Quản lý thị trường, sắp xếp lại  
trên cơ sở Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa theo mục tiêu lộ trình thực hiện tại Đề án thành lập  
Tổng Cục Quản lý thị trường đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.  
Cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa có chức năng giúp Tổng Cục trưởng Tổng  
Cục Quản lý thị trường quản lý Nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về phòng, chống,  
xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm,  
hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi  
phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm; hành vi vi phạm pháp  
luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các hành vi gian lận thương mại theo quy  
định pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành  
theo đúng quy định của pháp luật.  
Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa không ngừng nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc  
nhiệm vụ chính trị mà cấp trên giao phó, đồng thời duy trì trật tự kỷ cương trong hoạt  
động thương mại dịch vụ, chống các hoạt động buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả,  
hàng kém chất lượng, chống gian lận thương mại và các hành vi kinh doanh trái phép  
khác trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.  
Về kết quả quản lý thị trường  
Trong báo cáo tổng kết công tác QLTT tỉnh Thanh Hóa 3 năm gần đây, tổng số vụ  
kiểm tra trong 3 năm qua liên tục giảm, từ 1343 vụ năm 2018 xuống còn 970 vụ năm  
2019 và 845 vụ năm 2020. Có thể một trong hai nguyên nhân: một là do số vụ vi phạm  
thực tế giảm, hai là do cuối năm 2018 có sự thay đổi của Cục QLTT chuyển sang ngành  
dọc, đơn vị giảm so với năm 2017 gần 50 lao động. Năm 2020, lao động bổ sung thêm 10  
cán bộ, tuy nhiên gặp phải dịch Covid-19, số doanh nghiệp, cửa hiệu dừng hoạt động  
nhiều nên có thể số vụ kiểm tra cũng giảm [6,7,8].  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
3.2. Đặc điểm nguồn nhân lực  
Lực lượng toàn Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa năm 2018, 2019, 2020 lần lượt là 157,  
155 và 165 người. Như vậy, hiện tại công chức chiếm 93%, lao động hợp đồng (theo nghị  
định số 68) là 10 người chiếm 7% (Kết quả bảng 1).  
Bảng 1. Cơ cấu công chức theo giới tính, độ tuổi  
Năm 2018  
Năm 2019  
Năm 2020  
Nội dung  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
Giới tính  
110  
Nam  
Nữ  
112  
35  
76,19  
23,81  
100  
75,86  
24,14  
100  
115  
40  
74,19  
25,81  
100  
35  
Tổng  
147  
145  
155  
Độ tuổi  
14  
Dưới 30  
Từ 30 - 50  
Từ 51 - 60  
Tổng  
14  
122  
11  
9,52  
82,99  
7,48  
100  
9,66  
84,14  
6,21  
100  
15  
131  
9
9,68  
84,52  
5,81  
100  
122  
9
147  
145  
155  
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính  
Số lượng công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Cục QLTT tỉnh Thanh  
Hóa giai đoạn (2018 - 2020) tương đối ổn định và có sự giảm đều về số lượng do việc hạn  
chế tuyển dụng công chức và chính sách tinh giản biên chế. Từ 30 đến 50 tuổi chiếm số  
lượng lớn trên 84%, đây là độ tuổi mà kinh nghiệm làm việc đã có trên vài năm trở lên,  
sức khỏe tốt nên có thể đáp ứng được công việc tương đối tốt (bảng 1).  
3.3. Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại Cục Quản lý thị  
trường tỉnh Thanh Hóa  
3.3.1. Thực trạng năng lực thực thi công vụ - Nhìn từ góc độ các yếu tố cấu thành năng lực  
Để tìm hiểu được thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại Cục  
QLTT tỉnh Thanh Hóa, một mặt nhóm tác giả tìm hiểu về thực tế khách quan liên quan  
đến năng lực thực thi, một mặt khác nhóm tác giả cố gắng tìm hiểu góc nhìn của chính  
công chức đơn vị.  
3.3.1.1. Thực trạng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ  
Hiện tại, đội ngũ công chức Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa có chuyên môn cao, thể  
hiện trong trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tỷ lệ công chức đại học và trên đại học chiếm  
tỷ lệ lớn phần lớn công chức đang có trình độ đại học và trên đại học, phần nhỏ đang  
trong quá trình tham gia học tập nâng cao trình độ lên đại học.  
109  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Bảng 2. Cơ cấu lao động theo các chỉ tiêu cấu thành năng lực  
Năm 2018  
Năm 2019  
Năm 2020  
Nội dung  
1. Nghiệp vụ  
Công an  
Bộ đội chuyên nghiệp  
Luật kinh tế  
Kinh tế - QTKD  
Tài chính- kế toán  
Thuế  
Công nghệ kỹ thuật hóa học  
Công nghệ kỹ thuật xây dựng  
Chuyên môn khác  
2. Trình độ lý luận chính trị  
Cao cấp, cử nhân  
Trung cấp  
Người  
Tỉ lệ  
100  
8,16  
Người  
Tỉ lệ  
100  
8,28  
Người  
Tỉ lệ  
100  
7,74  
147  
12  
13  
20  
19  
24  
18  
7
145  
12  
11  
20  
18  
24  
18  
7
155  
12  
14  
21  
22  
25  
20  
8
8,84  
7,59  
9,03  
13,61  
12,93  
16,33  
12,24  
4,76  
13,79  
12,41  
16,55  
12,41  
4,83  
13,55  
14,19  
16,13  
12,90  
5,16  
7
4,76  
8
5,52  
7
4,52  
27  
147  
17  
18  
36  
147  
93  
54  
147  
125  
22  
147  
1
18,37  
100  
11,56  
12,24  
24,49  
100  
63,27  
36,73  
100  
85,03  
14,97  
100  
27  
145  
14  
15  
25  
145  
93  
52  
145  
126  
19  
145  
1
18,62  
100  
9,66  
10,34  
17,24  
100  
64,14  
35,86  
100  
26  
155  
15  
14  
26  
155  
100  
55  
155  
127  
28  
155  
9
16,77  
100  
9,68  
9,03  
16,77  
100  
64,52  
35,48  
100  
81,94  
18,06  
100  
Sơ cấp  
3. Trình độ ngoại ngữ  
Đại học  
Chứng chỉ  
4. Trình độ tin học  
Trung cấp trở lên  
Chứng chỉ  
5. Ngạch công chức  
Chuyên viên cao cấp  
Chuyên viên chính  
Chuyên viên  
86,90  
13,10  
100  
0,68  
0,69  
5,81  
10  
100  
30  
6
6,80  
12  
99  
28  
5
8,28  
14  
103  
32  
5
9,03  
68,03  
20,41  
4,08  
68,28  
19,31  
3,45  
66,45  
20,65  
3,23  
Cán sự  
Nhân viên  
6. Trình độ chuyên môn  
Trên đại học  
Đại học  
Cao đẳng  
Trung cấp  
147  
18  
103  
20  
6
100  
145  
19  
110  
11  
5
100  
155  
22  
112  
16  
5
100  
12,24  
70,07  
13,61  
4,08  
13,10  
75,86  
7,59  
14,19  
72,26  
10,32  
3,23  
3,45  
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính  
Qua số liệu bảng 2 ta thấy: Đa số công chức ở ngạch chuyên viên trở lên, chuyên  
viên cao cấp chiếm trên 6%, chuyên viên chính chiếm trên 10%, chuyên viên chiếm 23%.  
Về trình độ đào tạo, số lượng công chức có trình độ từ đại học trở lên, chiếm trên 82 - 84%.  
Nhìn chung, công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Cục QLTT tỉnh đã đạt chuẩn về  
tiêu chuẩn ngạch công chức và trình độ đào tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận  
chính trị ngày càng tăng về số lượng và chất lượng.  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Bảng 3. Mức độ đáp ứng của công chức về trình độ chuyên môn  
Mức độ đồng ý  
Trung  
STT  
Nội dung  
1
3
0
2
3
4
5
Tổng  
126  
bình  
Số lượng  
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ  
đủ để đáp ứng thực thi công vụ  
Chuyên ngành đào tạo khi được  
tuyển dụng phù hợp với công  
việc đang đảm nhận  
1
2
15 38 39 31  
3,63  
3,44  
21 45 44 16  
126  
Trình độ ngoại ngữ đủ để thực  
thi công vụ  
Trình độ tin học đủ để thực thi  
công vụ  
Trình độ lý luận chính trị thật sự  
cần thiết để thực thi công vụ  
3
4
5
0
0
5
8
32 48 38  
126  
126  
126  
3,92  
3,69  
3,63  
18 36 39 33  
12 35 46 28  
Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả  
Sau khi khảo sát và kết quả cho thấy tại bảng 3, giống như tác giả nhận định phía  
trên điểm trung bình 3,63 được coi là tương đối tốt, hầu hết công chức đều cho rằng trình  
độ chuyên môn của bản thân và đồng nghiệp là đủ để đáp ứng nhu cầu công việc, tuy  
nhiên, vẫn còn một số ít công chức không đồng ý (15 người) và rất không đồng ý (3  
người). Lý do của công chức chưa đồng tình đó là có 1 số công chức chuyên ngành đào  
tạo chính không liên quan đến QLTT, và tương đối nhiều trong số công chức đó thực  
hiện công việc đạt hiệu quả không cao.  
Một số cán bộ công chức cho rằng trình độ chuyên môn của bản thân/đồng nghiệp  
chưa thực sự phù hợp với nghiệp vụ QLTT. Điều này cũng tương đối dễ hiểu, bởi vì yêu  
cầu tuyển dụng kiểm soát viên thị trường theo Tổng Cục QLTT đôi khi có sự khác nhau  
trong tiêu chuẩn về bằng cấp. Việc tuyển dụng kiểm soát viên thị trường làm việc tại mỗi  
đơn vị lại có yêu cầu khác nhau: hoặc là tốt nghiệp đại học hoặc tốt nghiệp đại học Luật,  
kinh tế… Tại mục tuyển dụng không có mô tả công việc khiến các ứng viên khó hiểu lý  
do tại sao lại có sự khác nhau về trình độ chuyên môn như vậy.  
Trình độ ngoại ngữ, tin học, bản thân công chức cho rằng bằng cấp đạt được không  
thể hiện được mức độ thành thạo, lý do là sự nỗ lực cố gắng trong công việc. Có nhiều  
trường hợp công chức chỉ có chứng chỉ nhưng sử dụng máy tính thành thạo và soạn thảo  
văn bản, báo cáo rất nhanh và khoa học, công chức của Cục QLTT cần tiếp tục phát huy.  
Công chức cho rằng việc đi học lý luận chính trị không hỗ trợ nhiều cho quá trình làm  
việc, mà chỉ giúp một phần nào đó cho nhận thức tốt hơn trong quá trình làm việc và đặc  
biệt giúp cho kỹ năng tiếp dân được chuẩn chỉ, thái độ đúng mực hơn.  
3.3.1.2. Thực trạng về kỹ năng nghề nghiệp  
Qua bảng khảo sát ở bảng 4 cho thấy trong công tác tham mưu đã được triển khai  
trong các cuộc họp báo cáo hằng tháng, hàng quý, hàng năm và báo cáo chuyên đề cho  
cấp trên, tuy nhiên chưa thực sự được chú ý. Vẫn còn đâu đó các trường hợp công chức  
111  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
đi làm nhiệm vụ chỉ chăm chú việc của mình, có thể nhìn thấy được những bất cập trong  
quá trình công tác nhưng lại ít phát biểu trong các cuộc họp. Tác giả cho rằng đó là do  
một phần trách nhiệm công việc của cá nhân công chức chưa có, một phần nữa là do có  
thể tham mưu cho các cấp lãnh đạo nhưng lại không được chú ý và ghi nhận. Điểm trung  
bình 3,34 (chưa cao). Ngoài ra, một vài trường hợp còn đưa ra lý do: ngại ngần khi tham  
mưu cho cấp trên vì chưa thật sự thấy gần gũi.  
Bảng 4. Mức độ đáp ứng của công chức về kỹ năng nghề nghiệp  
Mức độ đồng ý  
Trung  
bình  
3,34  
3,50  
3,67  
3,94  
STT  
Kỹ năng  
Tổng  
1
5
4
0
0
2
3
4
5
1
2
3
4
Kỹ năng tham mưu cho cấp trên  
Lập kế hoạch công tác cá nhân  
Kỹ năng phối hợp trong công việc  
Kỹ năng giải quyết công việc  
Sử dụng máy vi tính, điện thoại  
công nghệ cao  
23 45 30 23  
28 31 27 36  
126  
126  
126  
126  
5
7
59 35 27  
34 45 40  
5
2
14 53 17 40  
126  
3,63  
6
7
Soạn thảo văn bản  
5
7
16 54 21 30  
22 45 23 29  
126  
126  
3,44  
3,36  
Giao tiếp hành chính/tiếp dân  
Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả  
Như đã nêu ở trên, nhân lực của đơn vị chủ yếu ở độ tuổi 30 - 50. Lao động trên 30  
dưới 40 có ít kinh nghiệm, kỹ năng xử lý, viết báo cáo nhìn chung chưa mạnh nhưng đổi  
lại tiếp thu tốt về công nghệ phục vụ công tác trong thời kỳ 4.0. Ngược lại đối với lao  
động trên 40 tiếp xúc với công nghệ không tốt lắm, nhưng các kỹ năng viết báo cáo, phân  
tích và giải quyết công việc, tiếp nhận và xử lý thông tin khá thành thạo, nhanh chóng và  
tương đối chính xác; việc phối kết hợp trong công việc tương đối tốt. Do đó, điểm trung  
bình của 2 kỹ năng này là 3,67 và 3,94.  
Nguyên nhân của việc phối kết hợp và giải quyết công việc chưa thật tốt phần lớn  
do việc lập kế hoạch cá nhân chưa tốt. Chính vì thế điểm trung bình chỉ đạt 3,5.  
Đối với kỹ năng tiếp dân/ hành chính, tác giả nhận thấy chưa thật sự tốt (điểm trung  
bình 3,36). Trong quá trình xử lý các vụ việc cần có sự mềm mỏng hơn, giúp người dân  
mắc phải vi phạm nhận biết được lỗi vi phạm, đồng thời vẫn tôn trọng thái độ làm việc  
của cán bộ QLTT. Cũng không tránh khỏi các trường hợp người dân có ý kiến phản hồi  
vì phải đi lại nhiều lần vì một lỗi vi phạm (thủ tục hành chính) do tư vấn cho người dân  
không rõ ràng, dứt khoát.  
3.3.1.3. Thực trạng về thái độ hành vi  
Thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ như tác phong làm việc, tinh  
thần trách nhiệm trong công việc, tinh thần phối hợp trong công tác thực hiện khá tốt.  
Tuy nhiên, thái độ công chức trong tiếp dân, trong giao tiếp hành chính ở mức trung bình,  
đạt nhưng chưa cao. Mức độ hài lòng của người dân về thái độ, hành vi của công chức  
hành chính tại các cơ quan chuyên môn thuộc Cục QLTT còn chưa thực sự cao thể hiện ở  
một số nội dung:  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Tinh thần, thái độ phục vụ làm việc của công chức tại một số ít bộ phận công chức  
tại một số đơn vị còn chưa cao, tình trạng gây khó khăn, hách dịch, cửa quyền, hướng  
dẫn thiếu nhiệt tình... vẫn còn xảy ra.  
Quá trình giải quyết công việc của một bộ phận công chức còn chậm, hiệu quả  
công việc, trách nhiệm trong xử lý công việc chưa cao, còn hiện tượng đùn đẩy trách  
nhiệm, xử lý công việc máy móc.  
Nhiều công chức còn có ý thức, tác phong trong hoạt động công vụ chưa cao như:  
đi làm muộn, về sớm, xử lý công việc cá nhân trong giờ làm việc, thiếu ý thức trách  
nhiệm công vụ, không tận tình với công việc.  
Bảng 5. Mức độ đáp ứng các yêu cầu về thái độ, hành vi  
Mức độ đồng ý  
Trung  
STT  
Nội dung  
1
2
3
4
5
Tổng  
bình  
3,63  
3,37  
3,76  
3,09  
Số lượng  
Tác phong, phong  
cách làm việc tốt  
Trách nhiệm trong  
công việc cao  
Tinh thần cao trong  
phối hợp công việc  
Thái độ tốt khi phục  
vụ nhân dân  
1
2
3
4
12  
7
9
33  
42  
35  
40  
32  
46  
33  
19  
40  
15  
42  
24  
126  
126  
126  
126  
16  
11  
30  
5
13  
Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả  
Qua bảng số liệu 5 cho thấy thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ  
như: tác phong làm việc, tinh thần phối hợp trong công việc. Tinh thần phối hợp trong  
công việc được cho điểm tương đối hay nói cách khác là thực hiện khá tốt; tuy nhiên thái  
độ công chức trong tiếp dân, trong giao tiếp hành chính ở mức độ trung bình (3,09 điểm).  
Vấn đề đặt ra cần khắc phục những hạn chế và đưa ra giải pháp để nâng cao thái độ hành  
vi của đội ngũ công chức đảm bảo giải quyết hiệu quả công việc cao nhất.  
3.3.2. Thực trạng năng lực thực thi công vụ - Nhìn từ kết quả thực thi công vụ  
3.3.2.1. Công tác chỉ đạo điều hành  
Công tác chỉ đạo điều hành là kết quả đầu ra của nhóm công chức giữ vị trí lãnh  
đạo, quản lý và khả năng tham mưu của công chức không giữ vị trí lãnh đạo quản lý. Mọi  
hoạt động của Cục QLTT đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật, UBND Tỉnh, Sở  
Công thương, Cục Quản lý thị trường và Quy chế làm việc; Quy chế kiểm tra xử lý vi  
phạm hành chính của Cục QLTT. Đảm bảo tuân thủ trình tự, thủ tục và thời gian giải  
quyết công việc theo đúng quy định của pháp luật, chương trình, kế hoạch và Quy chế  
làm việc, Quy chế kiểm tra xử lý vi phạm hành chính của Cục QLTT. Đảm bảo phát huy  
năng lực, sở trường của từng cán bộ công chức, đề cao sự phối hợp công tác trao đổi  
thông tin trong giải quyết công việc và trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn được pháp luật quy định. Bảo đảm dân chủ, rõ ràng, minh bạch trong mọi hoạt  
động, không gây phiền hà, sách nhiễu, tham ô hối lộ khi thi hành công vụ.  
113  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo đảm hoạt  
động kiểm tra, kiểm soát thị trường có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật; đặc thù  
công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; nhằm cụ thể hóa các  
văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường vai trò, phát huy tinh thần trách nhiệm trong  
việc chỉ đạo, lãnh đạo và thực thi nhiệm vụ của lãnh đạo Cục QLTT, đội trưởng, trưởng  
phòng và công chức trong toàn Cục QLTT. Phòng Kiểm tra tăng cường kiểm tra đột xuất  
và giám sát các cuộc kiểm tra, kiểm soát thị trường của các Đội QLTT. Cán bộ phòng  
Kiểm tra xuống địa bàn nắm bắt tình hình (được phép mặc thường phục), nếu phát hiện  
có dấu hiệu vi phạm thì tiến hành kiểm tra lập biên bản đối với công chức vi phạm, báo  
cáo lãnh đạo Cục QLTT để xem xét xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.  
Pháp lệnh Quản lý thị trường năm 2016; Nghị định số 148/2016/NĐ- CP được coi  
là khung hành lang pháp lý cơ bản của lực lượng QLTT.  
Để phù hợp với tình hình thực tế, diễn biến của thị trường và năng lực thực thi công  
vụ của công chức, Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng, ban hành và tổ chức thực  
hiện các quyết định, quy chế, kế hoạch kiểm tra, giám sát lề lối, tác phong làm việc, quá  
trình thực thi công vụ, chỉ đạo, điều hành của cán bộ, công chức trong toàn Cục QLTT, tổ  
chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức  
cho công chức trong toàn Cục QLTT.  
Các văn bản chỉ đạo của Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa đều hướng tới việc làm cho  
công chức quản lý thị trường nhận thức đúng về bổn phận và trách nhiệm của mình cũng  
như có đủ năng lực và trách nhiệm để thực hiện bổn phận và trách nhiệm mà nhà nước  
giao cho, cụ thể hóa các nhiệm vụ, quyền hạn, cách thức quản lý công chức của Cục  
QLTT, phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn phát triển của tỉnh gắn với diễn biến, thay đổi  
và đáp ứng nhu cầu phát triển trong xu thế hội nhập và mở cửa đất nước hiện nay.  
Tuy nhiên, Cục QLTT cũng chưa có cơ chế cụ thể trong công tác điều hành chỉ  
đạo: quy trách nhiệm, gắn trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa bàn;  
khen thưởng, kỉ luật với các vụ việc, địa bàn xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý, có  
tình trạng buôn lậu và vụ việc xảy ra kéo dài, phức tạp; xử lý vụ việc luân chuyển và  
điều động cán bộ còn chưa kịp thời, công khai biện pháp xử lý điều này cũng phần nào  
ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của những công chức “tâm huyết” với “nghề”,  
ngành quản lý thị trường.  
3.3.2.2. Kết quả kiểm tra, xử lý  
Tiến độ thực hiện công việc  
Bảng 6. Tiến độ thực hiện kế hoạch theo số vụ  
Năm 2018  
Năm 2019  
Năm 2020  
Kế  
hoạch  
(vụ)  
Thực  
hiện  
(vụ)  
Kế  
hoạch  
(vụ)  
Thực  
hiện  
(vụ)  
Kế  
hoạch  
(vụ)  
Thực  
hiện  
(vụ)  
TL hoàn  
thành %  
TL hoàn  
thành %  
TL hoàn  
thành %  
1343  
970  
72,23%  
970  
730  
75,26%  
845  
809  
95,74%  
Nguồn: Phòng nghiệp vụ - tổng hợp Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Qua bảng số liệu 6 trên cho thấy: Năm 2020 có sự vượt trội trong tỷ lệ hoàn thành  
kế hoạch trong phòng chống hàng nhập lậu. Tỷ lệ trung bình gần 96%. Trong đó rất đáng  
nhắc tới như đội 9, đội 10 tỷ lệ hai năm trước đó thấp dao động từ 42% đến 62%, nhưng  
đến năm 2020 lại hoàn thành 100%. Có tới 11/16 đội hoàn thành 100% kế hoạch đặt ra.  
Lý do: Việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát ngày càng hiệu quả. Tuy nhiên, cũng không  
loại trừ khả năng, trong kế hoạch đề ra số liệu thấp hơn nhiều so với thực tế để có thể đạt  
tỷ lệ cao trong kiểm tra kiểm soát, đạt thành tích trong báo cáo nhiệm vụ.  
Kết quả kiểm tra, kiểm soát  
Hàng năm, Cục Quản lý thị trường đã chỉ đạo các đội tăng cường công tác kiểm tra,  
kiểm soát thị trường theo kế hoạch đã phân công. Số vụ vi phạm về hàng nhập lậu đã  
giảm qua các năm. Đáng ghi nhận kết quả của Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa phát hiện và  
xử lý nhiều vụ vi phạm trong lĩnh vực hàng nhập lậu. Số vụ kiểm tra và xử lý của Cục  
QLTT tỉnh Thanh Hóa giảm cho thấy dấu hiệu đáng mừng trong công tác QLTT của cán  
bộ ngành trong việc đấu tranh về hàng nhập lậu. Các vụ việc được phát hiện và xử lý kiên  
quyết hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy được mặt tiêu cực khác đó là tình trạng  
vận chuyển, kinh doanh và tiêu thụ hàng nhập lậu diễn biến vô cùng phức tạp.  
Số vụ xử lý trong số vụ thực hiện kiểm tra kiểm soát về hàng nhập lậu ngày càng  
thấp. Điều đó cho thấy, số vụ kinh doanh hàng nhập lậu ngày càng giảm. Tuy nhiên, tỷ  
lệ số vụ thực hiện được xử lý là không cao, ngày càng giảm xuống Năm 2018 là  
541/970 tương ứng 55,8%; năm 2019 là 222/730 tương ứng 30,4% và năm 2020 là  
264/809 tương ứng 32,63%. Như vậy, vẫn còn nhiều vấn đề trong công tác kiểm tra,  
kiểm soát hàng nhập lậu.  
Công tác phối hợp, tham gia các Đoàn kiểm tra liên ngành  
Việc kiểm tra và giám sát về hàng nhập lậu được giao cho nhiều lực lượng khác  
nhau: Ở cửa khẩu biên giới, cảng biển, sân bay gồm: Lực lượng hải quan giữ vai trò chủ  
chốt, bộ đội biên phòng; kiểm tra, kiểm soát trên thị trường nội địa gồm: Quản lý thị  
trường, Công an, khoa học công nghệ,… Công tác kiểm tra, kiểm soát chưa được tổ chức  
thường xuyên, liên tục, nhiều nơi còn khá manh mún, các trường hợp vi phạm xử lý trên  
87% từ thanh tra chuyên đề.  
Phối kết hợp với đoàn kiểm tra liên ngành như phòng cảnh sát kinh tế mới thu được  
kết quả, các sở ban ngành khác không thu về được kết quả gì.  
Công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các thành phần khác (các doanh  
nghiệp, tổ chức, đoàn thể xã hội, các cơ quan truyền thông… và người dân) chưa được phát  
huy tốt. Phần lớn các doanh nghiệp chưa quan tâm đến công tác chống hàng nhập lậu, chưa  
chủ động bảo vệ sản phẩm của mình cũng như phối hợp với các cơ quan chức năng.  
Hiện nay, vẫn chưa có quy định cụ thể về cơ chế phối hợp, thời gian, thời hạn thực  
hiện kiểm tra, kiểm soát giữa Cục QLTT và các sở ban ngành phối hợp. Do đó, công tác  
phối hợp giữa các ngành, các cấp trong công tác đấu tranh chống hàng nhập lậu còn khá  
lỏng lẻo, tình trạng mạnh ai người ấy làm, tính địa phương, cục bộ còn diễn ra phổ biến.  
115  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa đồng bộ, chưa tốt, thủ tục còn rườm  
ra, thiếu tin tưởng lẫn nhau, đôi khi sử dụng việc chồng chéo về văn bản quy định, còn  
đùn đẩy trách nhiệm của các bên.  
3.4. Đánh giá chung thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại  
Cục quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa  
3.4.1. Những ưu điểm  
Đội ngũ công chức tại Cục QLTT Thanh Hóa nhìn chung có tinh thần trách nhiệm  
cao trong công việc (điều này thể hiện các chỉ tiêu đạt được các năm luôn vượt chỉ tiêu  
được giao cả về số lượng và giá trị); có tinh thần đoàn kết, thống nhất trong toàn Cục  
QLTT; Có tinh thần học hỏi, hoàn thành, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trình  
độ, năng lực của đội ngũ công chức nhất là lớp trẻ ngày càng nâng lên, trình độ đào tạo,  
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngày càng mở rộng cả về số lượng và chất lượng  
3.4.2. Một số hạn chế  
Bên cạnh những ưu điểm, năng lực thực thi công vụ của công chức tại Cục QLTT  
tỉnh Thanh Hóa vẫn còn tồn tại những hạn chế sau:  
Chất lượng và kỹ năng xử lý công việc của công chức tại Cục QLTT tỉnh Thanh  
Hóa hiện nay chưa đồng đều giữa các đơn vị (đội thành phố và huyện), vẫn còn tình trạng  
Đội thừa - đội thiếu công chức (kể cả công chức lãnh đạo); chưa đáp ứng được yêu cầu  
trong tình hình mới.  
Về độ tuổi và giới tính: Đội ngũ công chức tại Cục QLTT đang có biểu hiện già  
hóa. Cơ cấu nam - nữ trong đội ngũ công chức thiếu cân bằng, những điều này cũng ảnh  
hưởng không nhỏ đến năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức toàn Cục QLTT.  
Ý thức tổ chức kỷ luật, thái độ, tác phong công tác và trách nhiệm, đạo đức công  
vụ: Một bộ phận công chức tại Cục QLTT còn có những biểu hiện sa sút về đạo đức công  
vụ: hạch sách, quan liêu, cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân  
dân. Trong công tác đấu tranh các biểu hiện tiêu cực còn nhiều hạn chế.  
3.4.3. Nguyên nhân  
Về con người: Lực lượng còn mỏng, yếu so với tình hình thực tế hiện nay. Chất  
lượng đội ngũ cán bộ công chức cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Chưa có cơ sở  
đào tạo riêng về nghiệp vụ quản lý thị trường. Một bộ phận không nhỏ các ngành sau thực  
hiện tinh giảm biên chế, rút gọn đầu mối đã xin chuyển ngang sang quản lý thị trường, điều  
này cũng là một trở ngại lớn cho Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa trong thực thi công vụ.  
Kinh phí dành cho công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, công tác đấu tranh  
chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả còn ít, chưa đảm bảo và đáp ứng khối  
lượng được giao. Trang thiết bị và công cụ hỗ trợ cho công chức thực thi công vụ vẫn còn  
eo hẹp và hạn chế.  
Chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp chức vụ và công tác cho lực lượng quản lý thị  
trường chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay và còn thua kém rất nhiều so với lực  
lượng chuyên ngành khác.  
116  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Thể chế pháp lý, hệ thống văn bản chính sách phát luật về đấu tranh, chống buôn  
lậu, gian lận thương mại và hàng giả chưa đồng bộ, còn chồng chéo.  
Việc quán triệt và thực hiện các văn bản chính sách, chỉ đạo từ cấp trên và cũng  
như đưa nội dung văn bản chỉ đạo của Cục QLTT vào công tác thực thi tại các đội địa  
bàn còn nhiều hạn chế, chưa có cơ chế giám sát cụ thể.  
Các bài học kinh nghiệm về công tác tuyển dụng; công tác đào tạo bồi dưỡng sau  
tuyển dụng; thi đua khen thưởng; tuyên truyền phổ biến pháp luật... tại Cục QLTT tỉnh  
Thanh Hóa cũng còn có vấn đề cần phải xem xét.  
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thực thi công vụ một số vụ việc còn chưa  
hiệu quả, việc xử lý vẫn còn “cả nể” mang nặng tình cảm cá nhân; không có biện pháp xử  
lý đúng, xử lý trúng những vụ việc, những biểu hiện, hành vi vi phạm của công chức.  
Một số lượng tương đối công chức tại Cục QLTT vẫn còn thói quen, phương thức  
làm việc thủ công nhất là đội ngũ công chức lớn tuổi (trên 45 tuổi), không thường xuyên  
cập nhật sổ bộ, không có số liệu ghi chép, theo dõi... cũng là nguyên nhân dẫn đến chất  
lượng giải quyết công việc chưa cao.  
Công tác giám sát và phản biện của người dân chưa thật sự được thực hiện trên  
thực tế, chưa có chế độ bảo vệ, khích lệ người dân đứng lên đấu tranh, trấn áp tội phạm  
do vậy vẫn còn tình trạng che dấu hoạt động vi phạm trong một bộ phận công chức quản  
lý thị trường Thanh Hóa.  
Môi trường hoạt động “ảo” và việc phát hiện, thực hiện kiểm tra, thu thập chứng cứ  
đòi hỏi đội ngũ công chức quản lý thị trường phải có kiến thức chuyên sâu về công nghệ  
và được trang bị hệ thống máy móc thiết bị hiện đại: Tuy nhiên điều này không phải đội  
QLTT hay công chức QLTT nào cũng có thể làm được.  
Công tác tuyên truyền, giáo dục để cùng cơ quan chức năng chống sản xuất, kinh  
doanh hàng giả, hàng lậu, hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm còn chưa thường xuyên,  
chưa tạo được nhận thức sâu rộng trong bộ phận người tiêu dùng.  
3.5. Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức tại Chi cục  
quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa  
Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa là cơ quan quản lý hành chính nhà nước đơn thuần và  
từ những phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại Cục QLTT và  
nguyên nhân của thực trạng trên, để nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức,  
Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa cần thực hiện tốt các nhóm giải pháp sau:  
3.5.1. Ban hành đầy đủ, có tính khoa học về hệ thống các văn bản quy phạm pháp  
luật liên quan đến tiêu chuẩn chức danh, quy hoạch công chức  
Để xây dựng tiêu chuẩn chức danh, cần phải xây dựng bản mô tả công việc, khung  
năng lực cho mỗi vị trí công tác tại Cục QLTT mới có thể xác định rõ những yêu cầu cần  
phải có cho mỗi vị trí cán bộ, công chức diện quy hoạch và khi cán bộ, công chức tại Cục  
QLTT có đủ các yêu cầu này họ được bổ nhiệm vào vị trí được giao sẽ hoàn thành công  
việc một cách hiệu quả và tốt nhất.  
117  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Cục QLTT cần định kỳ rà soát bổ sung quy hoạch theo quy định. Việc quy hoạch  
phải xuất phát từ thực tiễn, thông qua việc tổng hợp kết quả thực thi công vụ, năng lực,  
phẩm chất chính trị, đánh giá công bằng khách quan.  
Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh  
cán bộ, công chức đối với từng lĩnh vực công tác gắn với mô tả công việc ở từng vị trí  
thực hiện công việc đạt hiệu quả hơn, mang tính chuẩn hóa, đẩy mạnh phân cấp quản lý  
công chức, giao quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng các đơn vị trong  
Cục QLTT điều hành công việc một cách linh hoạt, giải quyết nhanh chóng thuận lợi.  
Tăng cường kiểm tra, nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính của đội ngũ cán bộ  
công chức. Phát động phong trào thi đua rộng khắp trong các phòng, đội Quản lý thị  
trường; phát hiện và nhân rộng những gương “người tốt, việc tốt”, công tác thi đua với  
chủ đề “Chấp hành kỷ luật, đề xuất sáng tạo, nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát thị  
trường” trong cán bộ, công chức và người lao động; phát hiện, phê bình và kiên quyết xử  
lý những hành vi tiêu cực của công chức, người lao động góp phần thực hiện tốt Luật  
Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.  
3.5.2. Làm tốt công tác luân chuyển, điều động, tiếp nhận công chức  
Việc điều động, luân chuyển công chức phải cụ thể, rõ ràng, có kế hoạch chặt chẽ,  
chủ động. Cục QLTT xây dựng kế hoạch luân chuyển công chức cần cụ thể về đối tượng  
được luân chuyển, địa bàn được luân chuyển, thời gian luân chuyển, đánh giá công tác  
luân chuyển chế độ, bố trí công tác sau luân chuyển, chế độ, chính sách, nhiệm vụ công  
tác khi được luân chuyển, điều động công chức sang đơn vị mới. Kế hoạch luân chuyển  
phải xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa công tác luân chuyển công chức để thực hiện  
có hiệu quả trên thực tế. Đây là cơ sở để đánh giá công chức sau luân chuyển có hoàn  
thành nhiệm vụ hay không. Kế hoạch điều động, luân chuyển công chức phải gắn với  
công tác quy hoạch cán bộ.  
Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ, công chức theo hướng phân loại cán bộ, công  
chức theo trình độ, chuyên ngành đào tạo để áp dụng biện pháp tuyển dụng phù hợp.  
Triển khai tổ chức tuyển dụng hàng năm nhằm kịp thời bổ sung biên chế, đảm bảo  
nguồn nhân lực tại các phòng, đội của Cục QLTT. Phân loại cán bộ theo trình độ, chuyên  
ngành đào tạo, theo vị trí việc làm, đối với cấp đội yêu cầu chỉ tiêu tuyển dụng phải có trình  
độ đại học; nâng dần về điều kiện ngoại ngữ, tin học để đảm bảo đáp ứng với công việc.  
Thực hiện việc tinh giảm bộ máy, tinh giảm định biên cán bộ công chức gắn liền  
với công tác quản lý địa bàn.  
Tăng cường đội ngũ công chức làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thực thi công vụ:  
Xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra nội bộ và biện pháp  
tăng cường công tác kiểm tra nội bộ để triển khai thống nhất từ Cục QLTT đến đội đảm  
bảo khách quan, hiệu quả.  
3.5.3. Khuyến khích công chức tự đào tạo bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực thi công vụ  
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cần đảm bảo tính liên kết giữa đào tạo,  
bồi dưỡng công chức mới với đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu theo từng chức  
năng, nhiệm vụ quản lý cho công chức nhằm nâng cao năng lực, trình độ cho công chức  
.
118  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
Xây dựng mô hình chuẩn về đào tạo công chức tại Cục QLTT, trong đó quy định rõ  
cách thức đào tạo cho từng loại công chức như đào tạo kiến thức cơ bản về chuyên ngành  
cho công chức mới vào ngành, bồi dưỡng cơ bản về những kiến thức cơ bản cần thiết để  
công chức thực hiện công tác được phân công; bồi dưỡng chuyên sâu, chuyên ngành, kỹ  
năng thành thạo và kinh nghiệm xử lý các vấn đề trong thực tiễn; đào tạo, bồi dưỡng mỗi  
khi có thay đổi về chính sách, quy trình quản lý.  
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn chung kiến thức  
quản lý Nhà nước, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ cũng như kỹ năng giao tiếp ứng  
xử, văn hoá công sở và đạo đức cho công chức; bên cạnh đó kết hợp tổ chức các khoá đào  
tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu về kỹ năng quản lý đối với công chức đặc biệt là lĩnh  
vực thanh tra chuyên ngành công thương.  
Khuyến khích công chức đang làm việc đi học nâng cao trình độ chuyên môn  
theo ngành lĩnh vực để kịp thời nắm bắt các thay đổi trong công tác quản lý, với nhiều  
hình thức khác nhau như học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp (khác phòng, đội, Cục  
QLTT), quan sát học hỏi đồng nghiệp trong đơn vị… Việc tục đào tạo bồi dưỡng là hình  
thức dễ làm và hiệu quả nhất. Mỗi công chức quản lý thị trường phải tự ý thức được việc  
nâng cao năng lực thực thi công vụ là trách nhiệm, là nhiệm vụ thường xuyên.  
3.5.4. Xây dựng và triển khai đề án xác định vị trí việc làm, định biên tiêu chuẩn  
chức danh công chức  
Hoàn thiện vị trí việc làm đã được phê duyệt trên cơ sở xác định rõ chức năng,  
nhiệm vụ, xây dựng tiêu chí ứng xử nhằm đề cao trách nhiệm và đạo đức công vụ của  
công chức, người lao động.  
Kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các phòng, đội quản lý thị trường đảm  
bảo nguyên tắc “một đầu mối - một việc xuyên suốt”. Tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh  
chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các phòng, đội nhất là các Đội cơ động, Đoàn  
kiểm tra liên ngành tránh chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.  
Thường xuyên bố trí, phân công nhiệm vụ hợp lý cho các công chức, người lao  
động để đáp ứng tốt nhiệm vụ.  
3.5.5. Đề cao tính trách nhiệm công chức trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường  
Kiểm tra giám sát hoạt động thực thi công vụ của công chức tại Cục QLTT là hoạt  
động cần thiết, nhằm phát hiện nhân tố tích cực có nhiều thành tích, sáng kiến trong công  
tác để kịp thời khen thưởng tạo động lực làm việc, tiếp tục phát huy năng lực sở trường  
bản thân để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác chuyên môn.  
Các phòng, đội quản lý thị trường chủ động làm tốt công tác tự kiểm tra và phối  
hợp kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, công chức, người lao động.  
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các phòng, đội phải chịu trách nhiệm trong  
việc quản lý điều hành khi để cấp dưới trực tiếp có hành vi vi phạm kỷ luật, kỷ cương  
hành chính. Nâng cao vai trò nêu gương người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu,  
nâng cao ý thức, trách nhiệm của công chức, người lao động trong việc thực hiện Quy  
chế làm việc của Cục QLTT bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng theo kế hoạch.  
119  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
3.5.6. Nâng cao chế độ đãi ngộ, tạo môi trường và điều kiện làm việc cho đội ngũ  
công chức  
Thường xuyên rà soát, bổ sung nội dung, quy trình, quy chế đánh giá công chức  
hàng năm phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng Phòng, Đội quản lý thị trường và  
từng vị trí công tác.  
Đổi mới phương thức đánh giá, phân loại cán bộ, công chức hàng năm. Xây dựng  
hệ thống đánh giá thành tích công tác của công chức, người lao động: hệ thống đánh giá  
thành tích công tác của công chức.  
Thiết lập các quy định, quy tắc, thủ tục hỗ trợ thực hiện chính sách đãi ngộ. Tỏ thái  
độ quan tâm chân thành: nắm vững tên tuổi, hoàn cảnh gia đình, thường xuyên thăm hỏi  
động viên cấp dưới. Giảm bớt sự cách biệt giữa cấp trên với cấp dưới. Tạo điều kiện để  
cùng sinh hoạt, vui chơi, giải trí. Tránh sự phân biệt thái quá trong chính sách đãi ngộ.  
Định kỳ hàng năm tổ chức văn hóa, văn nghệ nhân các dịp lễ tết. Trong thực tế nhiều  
trường hợp động viên, khuyến khích bằng tinh thần quan trọng hơn động viên, khuyến  
khích bằng vật chất. Do đó lãnh đạo Cục QLTT, Đội cần dùng danh hiệu để phong tặng  
cho người lao động. Ngoài ra còn áp dụng một số hình thức khác như: gửi thư khen ngợi,  
đăng báo, dán hình tuyên dương tại bảng danh hiệu cơ quan…  
Trang bị cho cán bộ, công chức có đủ phương tiện, công cụ để làm việc có hiệu  
quả, chất lượng. Không ngừng cải thiện điều kiện làm việc để đảm bảo sức khoẻ và tâm  
trạng vui tươi thoải mái cho công chức, người lao động. Áp dụng thời gian làm việc linh  
động và chế độ nghỉ ngơi hợp lý.  
Sự quan tâm của lãnh đạo đến đời sống tinh thần của công chức, người lao động có  
giá trị như đãi ngộ phi vật chất một lời khen đúng lúc, một món quà nhỏ hay đơn thuần  
chỉ là một lời chúc mừng nhân dịp sinh nhật, lễ tết, một sự chia buồn thông cảm khi công  
chức, người lao động gặp khó khăn… sẽ giúp họ gắn bó và nỗ lực cống hiến cho đơn vị.  
Xây dựng quy chế làm việc trong các đơn vị trong toàn Cục QLTT, xác định rõ  
chức năng nhiệm vụ của từng Đội, Phòng, từng công chức trong đơn vị, tránh chồng chéo  
hoặc bỏ sót nhiệm vụ.  
Hiện đại hóa công sở, môi trường làm việc trước hết đảm bảo đầy đủ cơ sở vật  
chất, trang thiết bị cần thiết cho công chức, đổi mới phương thức phục vụ của công chức  
theo hướng văn minh, hiện đại.  
Cần đơn giản hóa, công khai quy trình, thủ tục giải quyết có liên quan đến người  
dân, tạo điều kiện cho người dân đến làm thủ tục.  
3.5.7. Coi trọng việc đánh giá công chức  
Việc đánh giá công chức tại Cục QLTT trước hết phải tuân thủ đúng quan điểm,  
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý, đào tạo và sử dụng cán bộ,  
công chức. Đánh giá công chức, người lao động thường xuyên, kịp thời, phát hiện những  
tiềm năng để bồi dưỡng đồng thời phát hiện các sai sót và tạo cơ hội để họ sửa chữa.  
Cục QLTT Thanh Hóa cần phải xác định rõ: tiêu chí đánh giá công chức cần được  
quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết. Lãnh đạo Cục QLTT cần sử dụng nhiều công cụ, kênh  
120  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
thông tin khác nhau để đánh giá về mức độ hoàn thành công việc của công chức như:  
đánh giá phản hồi của người dân, đánh giá của đồng nghiệp, cấp trên.  
Trên bản đánh giá năng lực thực thi công vụ của từng công chức, từng đơn vị  
phòng, đội, Cục QLTT cần có đơn vị riêng giám sát, kiểm tra, xem xét và tổng hợp nội  
dung đánh giá, phân loại công chức cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, tình hình thực  
tế tại thủ đô, từ đó có phương hướng khắc phục tồn tại để nâng cao hơn nữa hiệu quả, kết  
quả công việc. Phải lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất  
và năng lực công chức.  
Việc đánh giá công chức tại Cục QLTT chú trọng kết quả công việc thực hiện có  
vai trò quan trọng, là tiền đề để Cục QLTT làm tốt công tác đánh giá quy hoạch cán bộ  
lãnh đạo quản lý, góp phần làm tốt công tác điều động, luân chuyển, tiếp nhận công chức  
và bổ nhiệm cán bộ, công chức vào các vị trí chủ chốt.  
4. KẾT LUẬN  
Con người được xem là yếu tố quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển của  
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi doanh nghiệp/tổ chức. Trong nền kinh tế thị trường với sự  
cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững thì  
cần phải đặt năng lực thực thi công vụ của công chức tại Cục quản lý thị trường lên hàng đầu.  
Nghiên cứu đã phân tích và đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công  
chức tại Cục quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa và từ đó rút ra những mặt đã đạt được, những  
hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp để khắc phục hạn chế cũng  
như hoàn thiện năng lực thực thi công vụ của công chức tại đơn vị trong thời gian tới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bộ Công thương (2013), Thông tư số 09/2013/TT-BCT Quy định về hoạt động kiểm  
tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường do Bộ Công thương Ban  
hành ngày 02/5/2013.  
[2] Bộ Công thương (2013), Quyết định 907/QĐ-BCT Quy định chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Công thương,  
Bộ Công Thương ban hành ngày 06/02/2013.  
[3] Bộ Công thương (2016), Tài liệu Bồi dưỡng Ngạch Kiểm soát viên thị trường.  
[4] Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa (2020), Báo cáo tổng kết công tác QLTT năm 2019,  
Thanh Hóa.  
[5] Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa (2019), Báo cáo tổng kết công tác QLTT năm 2018,  
Thanh Hóa.  
[6] Cục QLTT tỉnh Thanh Hóa (2021), Báo cáo tổng kết công tác QLTT năm 2020,  
Thanh Hóa.  
[7] Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), Quản lý nguồn nhân lực chiến lược trong khu vực công  
và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb. Lao động, Hà Nội.  
[8] Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), Quản lý thực thi công vụ theo định hướng kết quả  
(sách chuyên khảo), Nxb. Lao động, Hà Nội.  
121  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 54.2021  
[9] Quốc Hội (2019), Luật số 52/2019/QH14 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật  
cán bộ, công chức và Luật viên chức.  
[10] Phạm Hồng Thái (2003), Công vụ, công chức nhà nước, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.  
[11] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định 1557/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng chính  
phủ phê duyệt đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức”  
SOLUTIONS TO IMPROVE THE OPERATIVE CAPACITY OF  
CIVIL SERVANTS AT THE MARKET MANAGEMENT  
DEPARTMENT OF THANH HOA PROVINCE  
Bui Thi Ninh, Pham Trung Kien  
ABSTRACT  
Human is always considered the most important and decisive factor for the  
existence and development of any organization. Therefore, the capacity of the human  
needs to be paid special attention to especially for civil servants, who are playing an  
important role in building and developing strong state agencies in Vietnam. This study  
assesses the operative capacity of civil servants at the Market Management Department in  
Thanh Hoa province; from that, offering solutions and recommendations to improve the  
working competence of Civil servants at the Department in the future.  
Keywords: Operative capacity, quality of human resources, quality of civil servants.  
* Ngày nộp bài:26/4/2021; Ngày gửi phản biện: 28/4/2021; Ngày duyệt đăng: 25/5/2021  
122  
pdf 16 trang Thùy Anh 11280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cục quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_nang_luc_thuc_thi_cong_vu_cua_cong_chuc_c.pdf