Tài liệu Cải cách thể chế quản lý hành chính công ở Việt Nam hiện nay
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam
Cải cách hành chính và Chống tham nhũng
Loạt báo cáo nghiên cứu thảo luận chính sách
Cải cách thể chế
quản lý hành chính công
ở Việt Nam hiện nay
______________________________
Giáo sư Martin Painter (Trưởng nhóm)
Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp (Chuyên gia cao cấp)
Thạc sĩ Chu Quang Khởi (Chuyên gia nghiên cứu)
Tháng 5 năm 2009
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) là mạng lưới phát
triển toàn cầu của Liên Hợp quốc, tuyên truyền vận động cho sự
đổi mới và là cầu nối giữa các quốc gia với tri thức, kinh nghiệm
và nguồn lực để giúp người dân xây dựng một cuộc sống tốt đẹp
hơn. Chúng tôi có mặt ở 166 quốc gia, giúp họ nghiên cứu và đưa
ra giải pháp riêng của mỗi quốc gia nhằm giải quyết những thách
thức trong phát triển của quốc gia và toàn cầu. Khi những quốc gia
này hướng tới tăng cường năng lực quốc gia, họ có thể dựa vào
sự hỗ trợ của UNDP và rất nhiều đối tác của chúng tôi.
Loạt bài báo cáo nghiên cứu chính sách về Cải cách hành
chính công và Chống tham nhũng này do Ông Jairo Acuña-
Alfaro, Cố vấn Chính sách về Cải cách hành chính và Chống
tham nhũng của UNDP Việt Nam, điều phối và biên tập.
Đây là những nghiên cứu phân tích xu thế của các tiến trình
và biện pháp thực hiện cải cách hành chính công trong các
lĩnh vực cụ thể của nền hành chính công ở Việt Nam. Để giải
quyết những thách thức về kinh tế, xã hội, chính trị và môi
trường mà Việt Nam đang phải đối mặt, các nhà hoạch định
chính sách cần những luận cứ thực chứng. Những bài nghiên
cứu chính sách này nhằm cung cấp một số nội dung cho
những thảo luận hiện nay về đổi mới chính sách, từ đó góp
phần thúc đẩy hơn nữa những nỗ lực phát triển của Việt Nam.
Ba nguyên tắc chủ đạo trong thực hiện những nghiên cứu
chính sách này là: (i) nghiên cứu thực chứng, (ii) sâu sắc về
học thuật và độc lập trong phân tích, và (iii) hợp lý về mặt xã
hội và có sự tham gia của các bên liên quan. Để đạt được ba
nguyên tắc đó đòi hỏi cách tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu và
xác định một cách hệ thống và cặn kẽ các biện pháp chính
sách nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến cải cách hành
chính và phòng, chống tham nhũng.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
25-29 Phan Bội Châu
Hà Nội, Việt Nam
Jairo Acuña-Alfaro, Cố vấn chính sách
Cải cách hành chính công và Chống tham nhũng
Quan điểm trong nghiên cứu chính sách này là của các tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm
của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).
Mục lục
Mục lục ................................................................................................................................. i
Tóm tắt................................................................................................................................. 1
Giới thiệu về tác giả............................................................................................................ 2
Giới thiệu............................................................................................................................. 3
1. Vấn đề nghiên cứu.......................................................................................................... 5
2. Khung qui chuẩn của cải cách thể chế ở Việt Nam...................................................... 7
3. Khung qui chuẩn từ góc độ so sánh ........................................................................... 16
5. Khảo sát: Cơ chế “một cửa” ........................................................................................ 28
7. Kết luận: Những bước đi tiếp theo?............................................................................ 41
i
Tóm tắt
Luận điểm chính của báo cáo nghiên cứu này là Chương trình cải cách thể
chế quản lý hành chính nhà nước hàm chứa những căng thẳng gắn với cách nghĩ
về nhà nước “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Kết quả là một loạt những hạn chế
mang tính tự áp đặt đối với các mục tiêu và kết quả của công cuộc cải cách - những
hạn chế này đã mang lại sự thiếu kiên nhẫn và quan ngại trong nhiều người ủng hộ
cải cách, bao gồm người Việt, các nhà quan sát bên ngoài và các nhà tài trợ. Hậu
quả là việc xây dựng các thể chế có hiệu quả nhằm hỗ trợ cho hoạt động của các cơ
chế thị trường trong đẩy mạnh sự phát triển và tăng trưởng đang trở nên dè dặt.Tuy
nhiên, thực trạng chương trình cải cách thể chế hành chính nhà nước không thể đạt
được các mục tiêu đặt ra nếu thiếu vắng những cải cách rộng lớn hơn nhằm xóa bỏ
những rào cản cố hữu. Một vài khía cạnh của chương trình cải cách thể chế hành
chính hiện tại không nằm trong lĩnh vực hành chính công mà thuộc phạm vi của cải
cách lập pháp, tư pháp, hiến pháp và cải cách chính trị. Khi Chính phủ Việt Nam thật
sự mong muốn theo đuổi những tác động mang tính lô gic và thực tế của việc xây
dựng một “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (một nền hành chính ở đó các
chuẩn mực về tính hợp pháp là cơ sở tối thượng cho những toan tính trong sử dụng
quyền lực của nhà nước), nhiều cơ hội mới sẽ xuất hiện cho chương trình nghị sự
về cải cách thể chế quản lý hành chính nhà nước.
Việc dẫn dắt luận cứ này qua phân tích lô gic Khung thể chế qui chuẩn, kèm
theo việc nhìn lại những bố trí về mặt thể chế đã thành công ở các nước khác, bao
gồm các nước ở Đông Á, đã dẫn đến kết luận rằng việc thực hiện sâu sắc và nhất
quán hơn cơ sở pháp quyền đối với quản lý hành chính nhà nước (CCHC) là thực
sự cần thiết. Phân tích thực tiễn chi tiết về những thành tựu và hạn chế, về nguyên
nhân của chúng qua hai nghiên cứu trường hợp từ chương trình nghị sự về cải cách
thể chế hành chính nhà nước – thực hiện cơ chế “một cửa” và cải cách các thủ tục
hành chính - đã ủng hộ quan điểm rằng có thể thu được nhiều điều có ích từ việc
áp dụng một cách đầy đủ và nhất quán các nguyên tắc này.
Kết luận của báo cáo nghiên cứu tập trung vào các chiến lược nhằm mang lại
sự thay đổi rút ra từ cuộc thảo luận mang tính lý luận về cách thức khái niệm hóa
được sự thay đổi về thể chế, gợi ý một phương thức tiếp cận “song hành” đối với
những sáng kiến từ bên dưới (nhất quán với tầm nhìn dài hạn về một nền hành
chính nhà nước dựa trên cơ sở pháp quyền). Các dự án cải cách thể chế hành
chính ở địa phương có mối liên hệ rõ ràng với chương trình cải cách thể chế trên
phạm vi rộng này có nhiều tiềm năng tao ra xung lực cho việc hiện thực hóa mục
tiêu về một “nhà nước pháp quyền”..
1
Giới thiệu về tác giả
GS. Martin Painter (Chủ biên)
Giáo sư Martin Painter là Chủ nhiệm Bộ môn Hành chính công tại Đại học TP. Hồng
Kông và là Trưởng Khoa của Trường Cao đẳng Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ông
giảng dạy tại Đại học Sydney từ năm 1974 đến 2001. Ông là chuyên gia nghiên cứu
cấp quốc gia tại Viện Nghiên cứu Hành chính công của Australia. Giáo sư Painter đã
tham gia với tư cách chuyên gia tư vấn trong một số dự án cải cách hành chính và
điều hành chính phủ ở Việt Nam và là trưởng nhóm điều phối nhân lực cho Báo cáo
của Liên hợp quốc về Khu vực công trên thế giới vào năm 2005: Mở khóa cho tiềm
lực con người vì hiệu quả của khu vực công. Ông là tác giả của bốn quyển sách,
biên tập bốn quyển khác và viết trên 80 bài báo khoa học và các chương sách trên
nhiều chủ đề như hành chính công, bao gồm tái cơ cấu chính phủ trung ương ở Anh
Quốc, chính quyền địa phương, chủ nghĩa liên bang và các mối quan hệ liên chính
phủ ở Australia và, gần đây nhất là cải cách chính phủ và hành chính ở Đông và
Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc.
TS. Hà Hoàng Hợp (Chuyên gia Cao cấp)
Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp hiện đang phụ trách lĩnh vực quản trị quốc gia tại Trung tâm
Phát triển và Hội nhập Việt Nam, một tổ chức phi chính phủ Việt Nam tại Hà Nội.
Ông cũng là nghiên cứu viên cao cấp của Học viện Khoa học Hung-ga-ri và trường
Đại học Corvinus của Hung-ga-ri. Trước đây ông là quan chức cao cấp của Bộ Tài
chính Hung-ga-ri. Ông là tác giả của hơn 40 bài viết về phát triển kinh tế, quản trị
quốc gia, phòng chống tham nhũng và cải cách chế độ pháp quyền và 5 cuốn sách
về chống tham nhũng, quản trị quốc gia và tài chính. Ông là giáo sư mời giảng tại
các trường đại học ở Hung-ga-ri, Liên minh châu Âu và Mỹ. Hiện ông là điều phối
viên và cố vấn chính sách cho chương trình nghiên cứu ứng dụng về cải cách thể
chế có sự phối hợp giữa Viện Fafo của Vương quốc Na-uy và Ban Tổ chức Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng đang phụ trách công tác quan hệ quốc tế
ở Hội Nhà báo Việt Nam.
Ông Chu Quang Khởi (Chuyên gia nghiên cứu)
Ông Chu Quang Khởi hoàn thành Chương trình thạc sĩ hợp tác giữa Đại học Kinh tế
quốc dân và Viện Khoa học Xã hội Hà Lan về kinh tế phát triển. Ông có 2 năm kinh
nghiệm là giảng viên đại học trước khi là cán bộ dự án DANIDA-NAPA, hỗ trợ nâng
cao năng lực thông qua xây dựng 15 chương trình đào tạo công chức. Năm 2005,
ông tham gia dự án nghiên cứu: Các nguồn tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai
đoạn 1986-2004 do AIPO tài trợ. Ông Khởi đã viết một số bài cho một số tạp chí liên
quan đến chủ đề phát triển nguồn nhân lực trong thời gian từ năm 2005-2008.
2
Giới thiệu
Mục tiêu chung của báo cáo nghiên cứu là phân tích cách thức hệ thống hành
chính của Việt Nam đang được chuyển đổi và làm mới, cũng như nó đang đóng góp
như thế nào vào việc xây dựng các thể chế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN). Nghiên cứu hướng tới đáp ứng mục tiêu này thông qua các phân tích
lý thuyết và thực tiễn. Trước hết, chúng tôi tiến hành phân tích khung qui chuẩn cho
cải cách thể chế ở Việt Nam. Cụ thể là tìm cách hiểu rõ hơn ý nghĩa của khái niệm
“nhà nước pháp quyền XHCN” và những ảnh hưởng của nó như một khung chỉ đạo
về phạm vi và nội dung của Chương trình nghị sự về cải cách thể chế. Báo cáo
nghiên cứu này được đặt trong ngữ cảnh của tài liệu lý luận quốc tế về ý nghĩa của
từ “pháp quyền”. Một mặt, chúng tôi ghi nhận có những yếu tố quan trọng trong
quan niệm của Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu về một hệ thống dựa trên cơ sở
pháp quyền của nền hành chính nhà nước. Mặt khác, chúng tôi quan sát những
thông lệ về chính trị và hành chính được gắn với các mô hình pháp hiến khác về
nền dân chủ XHCN một đảng và thấy chúng mâu thuẫn với các yếu tố vừa nêu.
Chúng tôi cũng lưu ý bạn đọc đến phạm vi mà những vấn đề này đang được tranh
luận ở Việt Nam, cùng khá nhiều quan điểm khác nhau về chủ đề này.
Tiếp đến, chúng tôi đánh giá quan niệm của Việt Nam về cải cách thể chế có
tham chiếu những kinh nghiệm phát triển quốc tế. Phần phân tích này tìm cách
đánh giá sự phù hợp đối với sự phát triển trong tương lai của các ý nghĩa và sự áp
dụng hiện hành của khái niệm “nhà nước pháp quyền XHCN”. Chúng tôi gợi ý rằng
những mâu thuẫn nội tại được chỉ ra trong phần đầu của báo cáo đang tạo ra những
hạn chế tiên quyết đối với việc thiết lập các cách bố trí thể chế đã thành nền tảng
cho những quỹ đạo phát triển của các nền kinh tế thành công trên thế giới.
Nhằm bổ sung chi tiết về phân tích Khung qui chuẩn cho cải cách thể chế,
cũng như những tác động của nó đến việc xây dựng các hệ thống hành chính nhà
nước có hiệu quả, trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ trao đổi về những kinh nghiệm
và thành tựu của Chương trình tổng thể về CCHC ở Việt Nam. Chúng tôi ghi nhận
rằng trong chừng mực nào đó, phân tích thực hiện bởi Chính phủ Việt Nam cho thấy
quan ngại và sự không hài lòng đối với một vài khía cạnh của tiến bộ đã đạt được.
Những phân tích dựa trên kinh nghiệm chi tiết hơn được thể hiện thông qua
hai nghiên cứu trường hợp về các khu vực chính của cải cách thể chế – cơ chế “một
cửa” và cải cách thủ tục hành chính. Chúng tôi ghi nhận những thành tựu cũng như
các hạn chế đáng kể và liên hệ trực tiếp những hạn chế này với thất bại trong việc
đẩy mạnh chương trình nghị sự về cải cách thể chế trên cơ sở pháp quyền. Chúng
tôi chỉ ra một số lĩnh vực tiềm năng cho việc tiếp tục mở rộng những sáng kiến cải
cách như vậy nhằm cải thiện một cách đáng kể chất lượng nền hành chính nhà
nước ở Việt Nam.
Phần kết luận thử đề xuất một chiến lược rộng lớn cho sự thay đổi thể chế
trong ngữ cảnh này. Điều dễ nhận thấy là một chương trình nghị sự như vậy đang
gặp phải những trở ngại về mặt chính trị. Những trở ngại này hạn chế những cơ hội
cho các sáng kiến từ trên xuống. Tuy nhiên, với một phân tích mang tính lý luận về
cách thức mà thay đổi thể chế cơ thể thực sự diễn ra, chúng tôi muốn nhấn mạnh
tầm quan trọng của tiềm năng tạo ra những kết quả bất ngờ từ việc triển khai những
sáng kiến từ dưới lên và “những thay đổi nhỏ”. Có khả năng những thay đổi như
vậy sẽ là những sáng kiến thực tế cấp địa phương được thực hiện bởi những nhân
3
tố tìm cách đối phó với những áp lực gặp phải trong quá trình chuyển đổi và thị
trường hóa. Chúng tôi gợi ý một chiến lược cải cách “song hành” - một mặt khuyến
khích thí điểm mang tính thực tế cấp địa phương, mặt khác hỗ trợ việc xây dựng các
tầm nhìn và khuôn khổ khác cho công cuộc cải cách. Một vài tầm nhìn và khuôn
khổ đã được phôi thai trong phần thuộc khung qui chuẩn “nhà nước pháp quyền
XHCN” Việt Nam nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tính hợp pháp và việc tách
Đảng khỏi Nhà nước.
Về phương pháp nghiên cứu, đầu tiên chúng tôi rà soát những thông tin thứ
cấp của địa phương và quốc tế đề cập đến Khung qui chuẩn về “nhà nước pháp
quyền XHCN”; thứ hai, chúng tôi rà soát những thông tin/tài liệu sơ cấp như các chỉ
thị của Đảng, các quyết định, thông tư và bộ luật của chính phủ, các văn kiện công
tác nội bộ của Chính phủ Việt Nam, của các tổ chức quốc tế và trong nước khác
nhau hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ CCHC; thứ ba là phỏng vấn các quan chức
của Đảng và Nhà nước, các thành viên của “cộng đồng các nhà tài trợ” (cả quốc tế
và Việt Nam); thứ tư là các cuộc đi khảo sát thực tế ở tỉnh Ninh Bình, đến Văn
phòng quản lý dự án CCHC, huyện Gia Viễn và xã Cúc Phương. Danh sách những
người chúng tôi đã phỏng vấn được nêu trong Phụ lục 1.1
Những bằng chứng và nhận định trong báo cáo này là kết quả của sự tham
gia rộng rãi từ các nhà nghiên cứu, những người được phỏng vấn và ý kiến của các
nhà chuyên môn của Việt Nam. Chúng tôi chân thành cảm ơn Ts. Thang Văn Phúc
và ông Đinh Duy Hòa đã có những ý kiến đóng góp và nhận xét quý báu cho bản
thảo lần đầu của báo cáo tại hội thảo quốc gia về Cải cách hành chính công: Hiện
trạng và giải pháp do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu phát
triển hỗ trợ cộng đồng (CECODES) tổ chức ngày 12 tháng 3 năm 2009. Chúng tôi
chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia và những hồi tưởng chi tiết của
những người được gặp để hỏi chuyện. Tuy nhiên, chúng tôi đã sử dụng một khung
trình bày riêng để định hình các phân tích và kết luận của mình. Kết quả phân tích
của chúng tôi không nhất thiết phản ánh quan điểm của ai trong số những người
chúng tôi được gặp để chuyện trò. Quá trình nghiên cứu, cũng như quá trình thảo
luận và rút ra những phát hiện và kết luận chính, là một nỗ lực mang tính tập thể của
nhóm nghiên cứu. Trong việc viết báo cáo cuối cùng, chủ biên chịu trách nhiệm về
hình thức mà các thông tin được trình bày.
4
1. Vấn đề nghiên cứu
Cải cách thể chế, theo định nghĩa trong báo cáo này (và sẽ được làm rõ thêm
trong phần tiếp theo), không phải là một vấn đề mang tính kỹ thuật, mặc dù đôi khi
nó được coi là như vậy trong những văn kiện chính thức về CCHC cũng như trong
việc triển khai các chương trình và dự án khác nhau. Nhìn chung, chủ đề này mang
tính qui chuẩn liên quan đến những giả định, dựa vào đó người ta đưa ra các qui
định và cấu trúc cho khái niệm nhà nước “pháp quyền XHCN” Việt Nam.
Luận cứ chủ đạo của báo cáo nghiên cứu này là Chương trình cải cách thể
chế hành chính nhà nước chứa đựng những căng thẳng và mâu thuẫn liên hệ với
mô thức “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Kết quả là một loạt những hạn
chế mang tính tự áp đặt đối với các mục tiêu và kết quả của công cuộc cải cách.
Chúng tạo ra quan ngại và không hài lòng trong những người ủng hộ cải cách, gồm
cả người Việt, những người quan sát bên ngoài và các nhà tài trợ. Trong ngữ cảnh
này, các giải pháp cho vấn đề không thể dễ dàng có được thông qua một cuộc thảo
luận ở đó chỉ tập trung vào câu hỏi “tiếp theo là gì?” trong chương trình cải cách
hành chính nhà nước. Thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng một số khía cạnh của
chương trình cải cách thể chế hành chính nhà nước lại thuộc phạm vi cải cách trong
những lĩnh vực khác.
Phân tích hiến pháp thông thường của các nhà nước cộng sản thể hiện quan
điểm chủ đạo cho rằng thuyết pháp hiến là một “công cụ”. Hiến pháp bản thân nó
chỉ là một công cụ của cai trị và không bao giờ là điều kiện cản trở đối với cai trị.
Tuy nhiên, các cuộc tranh luận về hiến pháp ở Việt Nam đưa ra ngày càng nhiều
câu hỏi về một mô hình hiến pháp như vậy. Trong các cuộc tranh luận về cải cách
Hiến pháp trong giai đoạn 2001-2002 và trong các cuộc thảo luận trước thềm Đại
hội X (2005), những câu hỏi sau đã được đưa ra: Việc cải cách thể chế nên diễn ra
tới đâu trong việc đưa nguyên tắc tôn trọng luật pháp vào cuộc sống khi nguyên tắc
này khác hẳn với nguyên tắc truyền thống về tôn trọng luật pháp XHCN? Một Nhà
nước dựa trên luật pháp sẽ điều chỉnh hoạt động của Đảng như thế nào, nếu thực
sự có một sự điều chỉnh nào đó? Có nên sửa đổi Điều 4 của Hiến pháp 1992
không?2 Có nên thiết lập một “bộ máy tư pháp độc lập” nhằm bảo vệ các quyền hợp
pháp của cá nhân, nếu có, bộ máy này sẽ được thành lập dưới dạng nào? Việc xem
xét lại Hiến pháp nên được thể chế hóa dưới hình thức nào? v.v…
Hiện nay, những cuộc tranh luận như vậy đang diễn ra rất thường xuyên,
mặc dù chúng thường chịu sự kiểm soát vì những lý do chính trị. Mark Sidel mô tả
thực trạng hiện nay của cuộc tranh luận về hiến pháp và chính trị ở Việt Nam như là
“thuyết pháp hiến công cụ và chuyển đổi”.3 Mỗi câu chuyện đều mở rộng ranh giới
quanh nó. Những điều cấm kị như việc thảo luận công khai về Điều 4 của Hiến
pháp là khá rõ từ thời điểm cuộc tranh luận bị đóng lại, nhưng thảo luận chưa đi đến
hồi kết. Thảo luận về nhiều vấn đề “nhạy cảm” cũng đã được dung thứ, thậm chí
được các cơ quan công quyền khuyến khích bởi vì Đảng tin rằng mình có thể kiểm
soát được những kết quả cuối cùng thông qua thực hiện “các quá trình sau khi tranh
luận, sau khi đã thực hiện chính sách”4. Những trí thức theo chủ nghĩa lập hiến cấp
tiến không còn bị coi là những “kẻ bất đồng chính kiến”, thậm chí cả khi họ thường
bị gạt ra rìa những cuộc tranh luận như vậy.5 Sidel lập luận rằng tính hợp hiến của
Đảng sẽ càng được củng cố bởi việc cho phép những người như vậy được phát
biểu, qua đó làm tăng khả năng của Đảng kiểm soát được mọi hậu quả. Tuy nhiên,
5
điểm mấu chốt về tình hình “quá độ” là chương trình nghị sự cho những điều có thể
đang được liên tục mở rộng.
Bằng việc chỉ ra sự tồn tại của một vực ngăn cách khổng lồ giữa những gì có
thể đạt được trong chương trình CCHC hiện nay với những gì có thể giải quyết
được dưới các tầm nhìn khác, câu hỏi “Tiếp theo sẽ là gì?” có thể được đề cập đến
dưới một góc độ mới. Điều này có thể thu hút sự chú ý của chúng ta tới những giải
pháp khắc phục nhằm (như một trường hợp cụ thể) tạo ra các hệ thống cởi mở và
minh bạch hơn cho việc phổ biến thông tin về các dịch vụ và quyền công dân, cùng
các kênh công cộng tốt hơn cho việc đối phó với những hành động tuỳ tiện của
chính quyền (như các trung tâm hỗ trợ pháp lý và quyền công dân tại địa phương,
đội ngũ thanh tra viên địa phương có uy tín, quyền tự do tiếp cận các thông tin về
pháp luật v.v.). Những điều này là khác biệt với (hoặc ít nhất là không khác) những
qui định được soạn thảo tốt hơn, hay các hình thức kỷ luật hành chính chặt chẽ hơn.
Với những nhận xét sơ bộ trên, phần tiếp theo sẽ đề cập đến những vấn đề
mang tính qui chuẩn nhìn từ góc độ quan điểm chính thức và những cuộc tranh luận
nội bộ. Cụ thể chúng tôi sẽ đề cập đến điều có nghĩa và được tranh luận như là
“nhà nước pháp quyền XHCN”. Phần tiếp sau sử dụng một giác độ so sánh, đồng
thời ghi nhận những cạm bẫy về phương pháp luận và những cạm bẫy khác xuất
phát từ sự trông cậy quá mức vào các “mô hình của nước ngoài” và vào sự nhập
khẩu các mô hình đó.
6
2. Khung qui chuẩn của cải cách thể chế ở Việt Nam
Thể chế là các tập hợp những qui tắc chi phối các lĩnh vực cụ thể của các
mối quan hệ và quá trình xã hội, kinh tế và chính trị. Như là một chủ thể của CCHC,
cải cách thể chế là sự thiết lập và thực thi các qui tắc và thủ tục nhằm cải thiện chất
lượng của nền hành chính nhà nước, cụ thể là cải thiện các mối quan hệ giữa nhà
nước và xã hội, nhằm tạo điều kiện cho “cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN” hoạt động có hiệu quả. Đây là điều căn bản đối với tất cả các chủ đề khác
của CCHC.
Kế hoạch tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010 liệt kê bốn chủ đề chính của
cải cách thể chế được định nghĩa như “Tiểu chương trình quốc gia 1”:
1. Cải cách bốn nhóm thể chế chính:
a. Các thể chế điều tiết thị trường (các bộ luật về hoạt động của doanh
nghiệp, thị trường lao động, v.v.);
b. Các thể chế điều tiết việc tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính
nhà nước;
c. Các thể chế hành chính điều tiết “mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân
dân”, ví dụ các hệ thống xử lý khiếu nại
d. Các thể chế chuyên thực hiện vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền
kinh tế với tư cách vừa là chủ sở hữu vừa là người vận hành các hoạt
động doanh nghiệp.
2. Đổi mới qui trình ban hành các văn bản pháp luật.
3. Các thiết chế công quyền thực thi pháp luật một cách nghiêm chỉnh và minh bạch.
4. Cải cách các thủ tục hành chính.
Do vậy, chương trình cải cách thể chế hành chính nhà nước khẳng định lại
những mục tiêu là tạo ra khung thể chế và pháp lý cho một nền kinh tế thị trường
bằng việc thông qua các luật mới phù hợp và vận hành các cơ chế thực thi. Trong
bối cảnh đổi mới, thách thức của việc tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển các
hoạt động kinh tế dựa trên thị trường – đan xen cải cách thể chế với cải cách kinh tế
- là ưu tiên cao nhất. Một trong những lý do chính cho việc xây dựng khái niệm
“pháp quyền” xã hội chủ nghĩa là nhu cầu cải cách đối với hệ thống pháp luật để làm
cho nó phù hợp hơn với cách vận hành của các thể chế thị trường. Để lãnh đạo và
quản lý các chủ thể thị trường, quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng đảm
bảo tính có thể dự đoán và tính phổ quát của các công cụ pháp luật rõ ràng, bên
cạnh những cơ chế thực thi có hiệu lực và hiệu quả là một lợi thế. Với nhịp độ ngày
càng tăng, các luật và quy định mới đã được ban hành để điều chỉnh thị trường và
khu vực tư nhân. Theo một nguồn tài liệu, Quốc hội Việt Nam từ năm 1946 đến năm
1987 đã thông qua 34 luật và bộ luật; từ năm 1987 đến năm 2002 thông qua 105
luật và bộ luật; từ năm 2002 đến năm 2007 thông qua 125 luật và bộ luật.6
Vượt qua giới hạn nhiệm vụ ban hành các luật mới, phạm vi của chương trình
cải cách thể chế có thể là rất rộng lớn. Nó có thể bao gồm tất cả các khía cạnh liên
quan đến cách thức Nhà nước tổ chức và điều tiết các cơ cấu, quá trình ra quyết
7
định và thực hiện nội bộ và cả cách thức Nhà nước điều tiết các hoạt động của khu
vực tư nhân trong cuộc sống và công việc hàng ngày của họ. Trong quá trình xây
dựng chương trình nghị sự này, có một giả định vững chắc là những vấn đề nêu
trên sẽ được giải quyết thông qua những qui trình tương xứng; rằng chúng sẽ được
sử dụng để bảo vệ các quyền hợp pháp của công dân; rằng chúng sẽ cải thiện cả về
chất lượng và trách nhiệm của chính quyền khi làm việc với các doanh nghiệp và
người dân. Rõ ràng là việc đưa các vấn đề này vào đã làm cho phạm vi của cải
cách thể chế bước qua ranh giới của cải cách hành chính.
Vì vậy, những nền tảng của chương trình cải cách này liên quan đến những
vấn đề mang tính qui chuẩn quy chuẩn và chính trị tập trung vào cách thức Nhà
nước được cấu thành từ các mối quan hệ của nó với xã hội. Thực tế, có thể lập
luận rằng đây là gốc rễ của một vấn đề chủ yếu đối với chương trình cải cách hành
chính nhà nước như nó được quan niệm trong Chương trình Tổng thể Cải cách
hành chính: nó mang đến cho chương trình cải cách hành chính những vấn đề
không thể được giả quyết một cách đơn lẻ trong bối cảnh cải cách hành chính.7
Chúng ta sẽ trở lại điểm này trong phần thảo luận các chiến lược và phương án cải
cách sắp tới. Tuy nhiên, do các nguyên tắc về pháp hiến và cơ cấu sâu sa này rất
quan trọng cho việc hiểu kết quả của tiến trình cải cách thể chế hành chính nhà
nước đến thời điểm hiện tại, chúng ta đề cập những đặc trưng quan trọng và thăm
dò những hàm ý cho các khía cạnh thực tiễn của cải cách.
Những nguyên tắc chủ đạo và những giả định qui chuẩn của phương thức
tiếp cận cải cách thể chế của Chính phủ Việt Nam là gì?
8
Các nguyên tắc chính đối với chiến lược cải cách hiện nay là:
1. Xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động của cơ chế kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Xây dựng một hệ thống chính quyền trên nền tảng “pháp quyền xã hội chủ
nghĩa”.
Theo dõi những tuyên bố gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam về những vấn
đề này cho thấy mức độ ở đó cải cách thể chế hành chính và cải cách luật pháp (bao
gồm cả cải cách tư pháp và cả cải cách pháp hiến) đang có sự chồng chéo. Nghị
quyết 48-NQ/TW ngày 4 tháng 5 năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,
giai đoạn 2006-2010” và Nghị quyết 17-NQ/TW ngày 1 tháng 8 năm 2007 về “Đẩy
nhanh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước”
của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Viêt Nam là những mốc quan trọng đối với việc xác
định vai trò trung tâm của cải cách thể chế. Nghị quyết 48 đã đưa ra một bộ các mục
tiêu phản ánh Khung qui chuẩn hiện hành cho cải cách thể chế:
“Xây dựng và hoàn thiện một hệ thống luật pháp nhất quán, đầy đủ, khả thi
và minh bạch với trọng tâm là sự hoàn chỉnh của những qui định pháp lý về
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nhà
nước Việt Nam pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; đổi mới cơ
bản các cơ chế xây dựng và thực thi luật pháp; tăng cường vai trò và hiệu
quả của luật pháp trong việc đóng góp cho công tác quản lý xã hội tốt, duy trì
ổn định xã hội, phát triển kinh tế quốc dân, hội nhập quốc tế, xây dựng một
nhà nước trong sạch và vững mạnh, thực thi các quyền con người và dân
chủ, sự tự do của công dân và làm cho Việt nam trở thành một nước công
nghiệp hóa và hiện đại vào năm 2020”.
Cụm từ chủ yếu trong tuyên bố trên là khái niệm “nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam”. Vậy cụm từ đó có ý nghĩa gì?
Có thể nhận thấy những sự giống nhau và khác nhau giữa các ý tưởng về
“pháp quyền” của phương Tây và của Việt Nam. Cả hai đều lồng ghép ý tưởng cơ
bản về “pháp trị” coi việc áp dụng các bộ luật đã được thông qua là trên hết trong
quá trình thực thi quyền lực của Nhà nước. Một bộ luật “được thông qua” là bộ luật
được đưa vào cuộc sống sau một quá trình được qui định bởi luật hay bởi các thể
chế pháp lý. Những khái niệm phổ biến khác bao gồm tính trung lập của luật pháp
đối với công dân và tính bình đẳng trước luật pháp.
Một đặc tính quan trọng nữa là tầm quan trọng không những của việc cai trị
bằng luật - luật pháp như là công cụ của cai trị - mà còn là việc sử dụng quyền lực
của chính quyền cũng phải tuân theo pháp luật.8 Luật pháp điều chỉnh việc sử dụng
quyền lực, ví dụ như việc bảo vệ các quyền cơ bản. Trong hầu hết các trường hợp,
khái niệm pháp quyền được hiểu là bao gồm cả những bố trí cụ thể về thể chế như
các cơ chế về tính trách nhiệm giải trình và minh bạch nhằm buộc những người làm
luật và thực thi pháp luật phải tuân thủ nó; tính độc lập của nghề luật sư; một ngành
tư pháp có thể đưa ra các quyết định mà không chịu can thiệp chính trị; ngành thực
thi pháp luật phải khách quan9. Khi chúng ta tìm hiểu kỹ những đặc điểm về thể chế
9
này của phương Tây, thì sự khác biệt của chúng so với khái niệm pháp quyền của
Việt Nam trở nên thật rõ ràng.
Ở Việt Nam, khái niệm pháp quyền được diễn giải theo nhiều cách khác nhau
ở từng thời kỳ lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra ba “nguyên tắc để thực thi tốt
chức năng của nhà nước”, trong đó nguyên tắc đầu tiên là “thượng tôn pháp luật”:
“„Một sự lẫn lộn tai hại đang diễn ra giữa quyền lực và quyền... Vì vậy,
nguyên tắc chung cần phải được công bố là tất cả mọi người, kể cả những
người có chút quyền lực, đều phải tuân theo luật pháp…Để kết tội những
người chịu trách nhiệm và áp dụng luật hình sự đối với họ, nhất thiết cơ chế
quan tòa phải toàn quyền tự do và độc lập với cấp trên tỏng hệ thống quan
tòa và Đảng…”10
Nguyên tắc thứ hai là “tách biệt Đảng và Nhà nước”:
“„Nói Đảng lãnh đạo Nhà nước, điều đó không ai có ý kiến gì khác. Nhưng
hai hoạt động phải tách riêng nhau, và sự tách rời đó phải thực hiện triệt để
suốt dọc đường ranh giới… Một cơ quan không thể kiêm nhiệm cả hai chức
năng lãnh đạo.‟”11
Nguyên tắc thứ ba là “phải có ý thức rất rõ về Đảng, về những khả năng của
Đảng”.
Khái niệm hiện được dùng chính thức là “nhà nước pháp quyền XHCN” bắt
nguồn từ các cuộc tranh luận trước khi sửa lại Hiến pháp năm 1992. Khi đó, những
thay đổi đáng kể đã được đưa ra nhằm làm rõ vai trò, chức năng và tổ chức của
Nhà nước. Thách thức lúc đó là làm sao chấp nhận những mối quan hệ về tổ chức
và hoạt động của các hệ thống chính trị, hành chính và luật pháp nhằm đáp ứng
những đòi hỏi của một nền kinh tế phức hợp, “đa thành phần” đang hiện đại hóa và
với khu vực thị trường đang tăng lên. Những ý tưởng và thể chế thừa hưởng từ thời
kinh tế tập trung cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.
Theo khái niệm “nhà nước pháp quyền XHCN” Đảng lãnh đạo thông qua luật,
sử dụng các cơ chế và công cụ pháp lý để điều chỉnh hành vi của các chủ thể nhà
nước và người dân. Nhà nước là một „nhà nước của luật”. Theo như diễn giải của
một nhà bình luận, trích lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Đản Cộng sản
vẫn là „lực lượng chính trị dẫn dắt hệ thống chính trị”… thì Đảng không thay thế vai
trò của nhà nước và “chính sách và hệ tư tưởng… không thể thay thế luật pháp.12
Theo quan điểm này, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo bătf việc đưa ra các định
hướng chính sách cho chính phủ thực hiện, bằng việc kiểm soát nội dung luật và
bằng cách trực tiếp giám sát cơ chế hành chính, chứ không đứng trên hay bỏ qua
luật pháp hoặc làm thay vai trò quản lý nhà nước.
Trong lĩnh vực các thủ tục tư pháp, nhà nước pháp quyền XHCN dựa tên một
tuyên bố rõ ràng về các quy tắc tuân thủ luật pháp cơ bản, ít nhất là theo quan điểm
của một học giả về luật pháp, GS. Đào Trí Úc:
“Việc xét xử của tòa án là nhằm bảo đảm rằng mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật, việc này được thực hiện một cách dân chủ và công bằng”13.
10
Tuy nhiên, John Gillespie đã lập luận rằng những thay đổi năm 1992 đã
không tách biệt hẳn với quá khứ. Trong thực tế Đảng và Nhà nước, ở một mức độ
nhất định, vẫn tiếp tục bám giữ các nguyên tắc đã được hình thành trước đó với
khái niệm du nhập từ Sô Viết gọi là „tính pháp lý XHCN,” nó được ẩn trong “ý chí của
giai cấp cầm quyền” và được coi là một công cụ cho sự thống trị của Đảng trong đấu
tranh cách mạng.14 Dưới dạng cơ bản nhất của khái niệm được kế thừa này “luật”
là những gì được Đảng ban bố và là công cụ cho việc đạt được những mục tiêu của
Đảng. Tương tự như vậy, Hiến pháp cũng là một công cụ của sự lãnh đạo của
Đảng và cải biến xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là một tập hợp các qui tắc độc
lập hoặc tối thượng.
Vai trò của Đảng với tư cách là „lực lượng lãnh đạo‟ tiếp tục được hậu thuẫn,
Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 ghi rõ Đảng là “lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội”. Ngoài ra, Nghị quyết 48 ra tháng 5 năm 2005 nói rằng: “Quyền lực
của nhà nước là thống nhất thông qua việc phân bổ nhiệm vụ và sự phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước để thực hiện các chức năng về lập pháp, hành pháp và tư
pháp”. GS. Đào Trí Úc nhận xét:
“…Nhà nước…chỉ có thể là một Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam”… …hoạt động có tổ chức của bộ máy Nhà nước
phải tuân thủ nguyên tắc thẩm quyền của Nhà nước là thống nhất…”15
Hai yếu tố chính trị và hiến pháp căn bản này – quyền lực độc quyền của
Đảng cộng sản Việt Nam và sự thống nhất của mọi dạng quyền lực Nhà nước dưới
sự kiểm soát của nó – quy định hoạt động của “nhà nước pháp quyền XHCN” Việt
Nam. Chúng cũng là cơ sở để hình thành ra những thông số cho tất cả các cuộc cải
cách thể chế ở nước Việt Nam thời hiện đại.
Khi mở rộng phạm vi áp dụng của luật pháp thông qua các công cụ và quyền
lực pháp lý mới là một bước phát triển đáng kể ở Việt Nam và biểu hiện ngày càng
rõ trong các vấn đề liên quan tới hoạt động của cá thể, hộ gia đình và doanh nghiệp,
thì cách thức Đảng thể hiện “vai trò lãnh đạo” của mình đối với tất cả các cơ
quan/thể chế nhà nước có thể tạo ra những rào cản lớn cho việc áp dụng một cách
công bằng những quy tắc và thủ tục giống nhau trong quản lý hoạt động của doanh
nghiệp trên thực tế. Từ những vấn đề „nhạy cảm chính trị” đến những vấn đề như sự
tự phát ở địa phương (vid dụ, trong việc cấp quyền sử dụng đất), các chủ thể nhà
nước là những đảng viên nắm quyền lực nhà nước mà không quan tâm đầy đủ đến
luật pháp. Bản thân đánh giá của Đảng về kết quả cải cách trong Nghị quyết 17-
NQ/TW ngày 01 tháng 08 năm 2007 về Đẩy mạnh Cải cách hành chính cũng nhấn
mạnh những thiếu sót trong cách cán bộ thực thi quyền lực của họ:
Chất lượng cán bộ, công chức không đáp ứng yêu cầu, quan liêu, tham
nhũng và lãng phí vẫn là tình trạng nghiêm trọng … kỷ luật không được cán bộ
nghiêm chỉnh chấp hành (trang 1)
Theo đánh giá của Đảng là do thiếu sự “lãnh đạo”: giải pháp nằm trong việc
nỗ lực dưới sự lãnh đạo quán triệt hơn của Đảng. Tuy vậy, một nguyên nhân khác
nằm trong gốc rễ của vấn đề là tính hệ thống và nằm trong vai trọ đặc biệt của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã định ra trong nhà nước.
Hiến pháp năm 1992 thực sự gợi ý Đảng cần phải ở dưới luật pháp – Điều 4
ngoài ghi rằng Đảng là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, cũng ghi rõ “tất cả
các tổ chức của Đảng hoạt động tuân theo Hiến pháp và pháp luật”. Tuy nhiên, việc
11
vận hành nhà nước “pháp quyền XHCN” lại chứa đựng một sự không rõ ràng cơ bản:
vai trò “lãnh đạo” của Đảng trong thực tế đang được áp dụng một cách chặt chẽ và
dứt khoát theo cách mà cả việc làm luật và thi hành luật pháp đều nằm dưới sự kiểm
soát trực tiếp hàng ngày của Đảng. Cùng với việc đưa ra các định hướng và các
tuyên bố chính trị chung, trên thực tế sự can thiệp của Đảng đã lan tỏa vào mọi công
việc quản lý hàng ngày của Nhà nước.
Theo tư tưởng chỉ đạo của Đảng, toàn bộ bộ máy Nhà nước hiện hành là
nhằm phục vụ nhân dân thông qua Đảng - Đảng áp dụng độc quyền tuyệt đối và
vĩnh viễn đối với quyền lực Nhà nước như đội tiên phong của nhân dân:
“Bản chất của nhà nước của chúng ta được ghi trong Hiến pháp 1992 là “Nhà
nước của nước CHXHCN Việt Nam”, được xác định rõ ràng là một nhà nước
chuyên chính vô sản “của dân, do dân và vì dân”16.
Thêm vào đó, trong khi tổ chức Nhà nước được chuyên môn hoá và vai trò
của nó được phân biệt một cách rõ ràng giữa các chức năng lập pháp, hành pháp
và tư pháp; thì nguyên tắc qui định các chức năng trên thuộc vào những bộ phận
mang tính độc lập của Nhà nước lại không được chấp nhận.
“Bộ máy Nhà nước trước đây được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN
(theo hình mẫu các nước XHCN) nay được tổ chức lại dựa trên nguyên tắc
quyền lực nhà nước thống nhất với sự phân chia và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực thi các thẩm quyền hành pháp, lập pháp và tư
pháp.”17 (nội dung được in nghiêng là do tác giả)
Hiến pháp năm 1992 đã làm rõ và tách biệt các chức năng khác nhau:
…Hiến pháp năm 1992 khôi phục lại vị thế của Chính phủ… Việc định nghĩa
lại vị thế của Chính phủ là kết quả của quan điểm và quan niệm được cải
thiện về sự phân chia và phối hợp giữa ba nhánh quyền lực - hành pháp, lập
pháp và tư pháp trong khuôn khổ quyền lực chung của Nhà nước được thống
nhất. Với quan điểm này, nhánh hành pháp – Hành chính nhà nước - đã trở
nên một nhánh tương đối độc lập trong sự phối hợp với các nhánh lập pháp
(Quốc hội) và tư pháp (Tòa án và Viện Kiểm sát). Điều này cho thấy một sự
tương tự đối với các quan niệm và qui định về chính quyền ở các nước
khác.18
Nhưng trong khi Hiến pháp năm 1992 nêu rằng chuyên môn hoá và phối hợp
hợp lý dần thay thế cho mô hình lãnh đạo tập thể của Đảng thì những cương vị lãnh
đạo cao nhất của Đảng trong bộ máy Nhà nước vẫn được giữ nguyên. Đảng kiểm
soát các cơ quan khác nhau của nhà nước để thống nhất chúng. Năm 1995, Thủ
tướng Võ Văn Kiệt đã nói lên quan điểm của ông về việc tách Đảng khỏi Nhà nước,
đồng thời biểu lộ sự thất vọng của mình về việc điều này không được thực hiện:
Các chức năng của Đảng và Nhà nước cần được tách ra một cách rõ ràng
hơn. Đảng cần phải chấm dứt việc chuyển các ý kiến chỉ đạo của mình qua
các ban thư ký mà chuyển thẳng tới các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước...
Một “Nhà nước cai trị bằng pháp luật” phải thay thế những kết cấu tổ chức
được xây dựng trong thời kỳ chiến tranh...19
12
Một tuyên bố còn rõ ràng hơn về sự cần thiết phải tôn trọng nguyên tắc căn
bản về việc tách vai trò lãnh đạo của Đản ra khỏi các công cụ điều hành của nhà
nước đã được nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nêu ra gần đây:
“Chúng ta không thể điều hành đất nước một cách trực tiếp bằng việc sử
dụng các định hướng và nghị quyết của Đảng. Định hướng và nghị quyết của
Đảng được sử dụng để lãnh đạo, chứ không phải để chỉ đạo. Chúng không
thể thay thế luật pháp.” (Tạp chí Tổ Quốc, Thứ Hai ngày 23 Tháng 3/2009.
Trang 2).
Nhưng, trong thực tế, cán bộ Đảng từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở vừa đưa
ra các chỉ thị về chính sách tổng thể để từng nhánh của Nhà nước tuân theo, vừa
thường xuyên can thiệp trực tiếp vào công tác quản lý và ra quyết định của các cơ
quan Nhà nước này. Đang tồn tại các cơ chế và qui trình chồng chéo ở cấp ra
chính sách và điều hành ở mọi cấp trong Đảng và Nhà nước.20 Chính sách của
Đảng, thể hiện qua các chỉ thị và nghị quyết của Bộ chính trị và Ban chấp hành trung
ương, được đưa xuống phổ biến cho các tổ chức Đảng cấp dưới, đang ràng buộc
các cán bộ cả của Đảng và của Nhà nước, nhưng đồng thời họ cũng được cho là bị
ràng buộc bởi pháp luật. Điều 1 của Pháp lệnh về công chức năm 1998 yêu cầu các
cán bộ Nhà nước tuân thủ luật pháp và các nghị quyết của Đảng; điều 6 yêu cầu các
cán bộ Nhà nước phải “nghiêm chỉnh tuân theo các đường lối và chính sách của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”.21
Việc kiểm soát chính trị được thực hiện hàng ngày thông qua hai cách chủ yếu:
đầu tiên là thông qua sự kiểm soát liên tục bởi các cơ quan trung ương của Đảng
trong tất cả các vụ bổ nhiệm nhân sự vào những vị trí quan trọng của Nhà nước (gồm
cả ngành tư pháp) cũng như việc đề cử cho các vị trí được bầu; và thứ hai là thông
qua việc kiểm soát chính trị một cách thường xuyên của các tổ chức Đảng trong tất cả
các quyết định của cơ quan nhà nước.
Đảng thực hiện việc kiểm soát việc bổ nhiệm, thông qua việc vận dụng theo hệ
thống quản lý cán bộ kiểu Xô-Viết nay đã công còn phù hợp - nomenklatura – theo đó
tất cả những sự bổ nhiệm như vậy đều được Ban tổ chức trung ương phê duyệt, và
một hệ thống quản lý hồ sơ cán bộ do Đảng quản lý được thiết lập nhằm theo dõi quá
trình hoạt động và công tác của các cán bộ cấp dưới). Theo hệ thống quản lý cán bộ
của Đảng, lòng trung thành với Đảng và biểu hiện của sự tuân thủ “đường lối Đảng”
được xem xét bên cạnh kết quả công tác hoặc những khả năng chuyên môn (bổ
nhiệm cho các vị trí quan trong trong tất cả các cơ quan nhà nước – bao gồm cả
ngành tư pháp – vừa “hồng” vừa “chuyên”)22
Cơ chế này vẫn tiếp tục là một công cụ kiểm soát của Đảng được thể hiện
trong trường hợp đánh giá gần đây về nỗ lực cần thiết để đẩy mạnh cải cách hành
chính. Nghị quyết 17/2007/NQ-TW (ngày 01 tháng 08 năm 2007) Đảng Cộng sản Việt
Nam liên quan cải cách hành chính đã quy định cách thức Đảng thực hiện tăng
cường sự lãnh đạo, bao gồm:
Quyết định đề cử các cán bộ có năng lực/đảng viên cho các cơ quan quyền
lực nhà nước … để họ cân nhắc bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy nhà
nước, để đảm bảo rằng việc thực hiện cải cách hành chính tuân theo định
hướng và quan điểm của Đảng.‟
13
Trong hoạt động quản lý hàng ngày, tổ chức Đảng bộ hoạt động ở tất cả các
tổ chức nhà nước. Ở cấp cao như cấp bộ và ngành, các bộ trưởng, thứ trưởng và
thủ trưởng đơn vị (và cả các cán bộ tư pháp cấp cao) tham gia vào các cơ chế
nàynhằm phục vụ cho việc chuyển tải và thực hiện các chỉ thị của Đảng, và báo cáo
lại cho các tổ chức Đảng về kết quả thực hiện.23 Việc “chính trị hóa” trong một hệ
thống như vậy không chỉ gây ra tình trạng một lĩnh vực này cản trở lĩnh vực khác
(các chính trị gia vô hiệu hóa các quan chức hoặc quan tòa; hay chính trị đứng trên
tính pháp lý) bởi trước đó không có sự phân tách các lĩnh vực.
Trong thực tế, về các mặt hiến pháp và chính trị hiện nay, Đảng là cơ quan cao
nhất quyết định xem pháp quyền cần bao gồm những thủ tục và cơ chế nào, và chúng
sẽ điều tiết việc thực thi quyền lực Nhà nước như thế nào. Tính hợp pháp như một
chuẩn mực và công cuộc cải cách luật pháp như một chiến lược trong ngữ cảnh này có
thể trở thành các cơ chế cầm quyền của Đảng. Như Gillespie tranh luận, một trong
những điểm hấp dẫn đối với Đảng về ý tưởng Nhà nước vận hành thông qua pháp luật
là việc luật pháp dành cho Đảng một cơ chế kỷ luật đối với những cán bộ cấp dưới,
những người không thực hiện một cách trung thành đường lối của Đảng, và một cách
chống lại những căn bệnh quan liêu và vô cảm của cán bộ nhà nước – „…thuần hóa sự
tàn phá quan liêu bằng luật pháp‟ theo cách của mình.24 Tuy nhiên, hàm ý ở đây là
nguyên tắc „thuần hóa bằng luật pháp” vốn rõ ràng và phổ quát nhưng không nhất thiết
áp dụng cho việc hoạt động kiểm soát chính trị.25
Đồng thời, khái niệm “nhà nước pháp quyền XHCN” đưa ra một tập hợp các
nguyên tắc và học thuyết làm chính danh hóa cho Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo
của mình. Ví dụ: những phê phán nạn tham nhũng và những hạn chế khác của công
chức địa phương sẽ được xử lý trong khuôn khổ mô hình „pháp quyền‟ thông qua
một chẩn đoán về „thiếu minh bạch và thiếu khách quan‟, giải pháp cho vấn đề này
là hoàn thiện các qui định và thủ tục (cải cách thể chế).26 Luật và các biểu mẫu
hành chính theo luật đã trở thành một cơ chế mới cho lãnh đạo Đảng thi hành kỷ
luật và kiểm soát đội ngũ cán bộ (khi sự lãnh đạo được thực hiện), và trả lời cho sự
không hài lòng của công luận về tính vô kỷ luật của một số cán bộ.
Sự bất thường trong hoàn cảnh này là chỉ có một cơ chế như vậy trong nhiều
cơ chế khác nhau để Đảng kiểm soát chính sách và hành chính và (ở một mức độ
nào đó nó chỉ đơn thuần là một trong những) tính tối thượng của nói không chắc
chắn. Thực tế, có nhiều phương thức cạnh tranh lẫn nhau cho việc hợp thức hóa
một mô hình (ví dụ: tư tưởng vận động quần chúng của chủ nghĩa cộng sản nhấn
mạnh lòng trung thành và sự tuân thủ với học thuyết như các cơ chế kiểm soát),
theo cách thức có thể khẳng định sự rõ ràng và mức độ thể chế hóa đầy đủ của tính
hợp pháp. Nói cách khác, việc thể chế hóa pháp quyền xã hôi chủ nghĩa là một “quá
trình đang còn dang dở”.
Tóm lại, khung qui chuẩn cho cải cách thể chế ở Việt Nam chứa đựng các
yếu tố không rõ ràng cơ bản. Một mặt có một tuyên bố rõ ràng về sự cần thiết của
một “nhà nước pháp quyền XHCN” trong đó có sự phân định rạch ròi vai trò lãnh
đạo của Đảng ra khỏi các hoạt động hàng ngày của nhà nước trên phạm vi hành
pháp và tư pháp; mặt khác, Đảng lãnh đạo vẫn tiếp tục sử dụng những phương
cách hạn chế sự phân định này.
Nếu chúng ta xem một vài tuyên bố và nguyên tắc của nền “pháp quyền
XHCN” theo giá trị bề ngoài của chúng (cụ thể như nguyên tắc bình đẳng trước
pháp luật và nguyên tắc phi thiên vị của hệ thống tư pháp; việc tách Đảng ra khỏi
Nhà nước; sự phân chia rõ rệt các chức năng chính trị, hành chính và pháp lý trong
14
nội bộ Nhà nước giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp), thì chúng ta có
thể thấy cơ sở cho cải cách thể chế có thể tạo ra thể chế hóa tính hợp pháp và nền
hành chính “hợp lý về pháp lý”.
Tuy nhiên, nếu chúng ta để ý tới học thuyết cơ sở về “nhà nước chuyên chính
vô sản” đòi hỏi vai trò lãnh đạo của Đảng, rồi quan sát xem điều này được vận dụng
như thế nào, rõ ràng là các nguyên tắc này có thể bị triệt tiêu trong thực tế. Vẫn tồn
tại những nguyên tắc và khái niệm đối kháng, mâu thuẫn qua đó Đảng vẫn tiếp tục
có được sự phục tùng và sự kiểm soát bao trùm nhà nước. Các văn kiện của Chính
phủ và Đảng tiếp tục thể hiện sự không rõ ràng này..
Trong báo cáo này, chúng tôi chọn cách lấy các tuyên bố giá trị bề ngoài của
chủ thuyết “nhà nước pháp quyền XHCN” ở Việt Nam xác nhận tính hợp pháp như
là nguyên tắc cơ bản và cũng xác nhận sự cần thiết tách biệt một cách rõ ràng vai
trò lãnh đạo của Đảng khỏi các hoạt động quản lý hàng ngày của các cơ quan nhà
nước. Chúng tôi sẽ tiếp tục dựa trên nền tảng này bởi nó là những nguyên tắc căn
bản cho cải cách thể chế ở Việt Nam.
Phần tiếp theo sẽ giải thích quan điểm này thông qua xem xét những kinh
nghiệm mang tính quốc tế và so sánh.
15
3. Khung qui chuẩn từ góc độ so sánh
Trong mô thức „pháp quyền XHCN‟ theo định nghĩa của Đảng cộng sản Việt
Nam, người ta cho rằng hệ thống hành chính nhà nước đang được cải cách theo
hướng đảm bảo tính nhất thể trong hành xử, tính có thể dự đoán được, tính rõ ràng
và qui trình chuẩn – tất cả là những khía cạnh của tính hợp pháp cao trong hành xử
hàng ngày với người dân và doanh nghiệp. Nhưng điều gì có thể đảm bảo rằng
những giải pháp trên sẽ mang lại sự áp dụng đồng nhất các tiêu chuẩn của tính hợp
pháp bởi các tác nhân Nhà nước trong việc sử dụng quyền lực của Nhà nước, ví dụ
như trong những việc liên quan đến kinh doanh?
Nói một cách lô gic, để tính hợp pháp có thể được thể chế hóa trong cách thức
quản lý kinh doanh ở cả khu vực nhà nước và tư nhân, việc thực thi quyền lực chính
trị, quan liêu và thẩm quyền bởi các công chức, người sở hữu quyền lực nhà nước,
phải bị hạn chế và điều chỉnh bởi một vài công cụ nào đấy. Nếu không, sẽ xảy ra sự
chuyên quyền, sự bất công và các hình thức lạm dụng luật pháp . Như chúng ta đã
thấy, Nhà nước pháp quyền Việt Nam cũng vẫn là một Nhà nước của Đảng. Các
chính sách, nhân sự, qui định và kỷ luật của Đảng đang đan xen với các qui định, qui
chế và thủ tục của bộ máy Nhà nước. Ngoài ra, các qui định và chính sách của Đảng,
trong nghiên cứu cuối cùng, đang đóng vai trò chủ đạo. Nếu Đảng chịu đứng dưới
luật pháp, điều còn lại chỉ là vấn đề riêng liên quan đến chính sách của Đảng được
quyết định nội bộ và cho bản thân Đảng. Nếu các quan chức của Đảng tuân thủ luật
pháp, điều này là bởi vì họ tuân thủ sự chỉ đạo của Đảng bảo họ làm như vậy (có
nghĩa là do chính sách của Đảng mà sẽ có một nhà nước pháp quyền XHCN).
Bỏ qua một bên sự thiếu sót về logic trên đòi hỏi rằng một nhà nước đảng cũng
có thể là một nhà nước pháp quyền, cũng vẫn tồn tại một rào cản thực tế. Nếu không
có một cơ quan bên ngoài, không thuộc đảng và có quyền lực tối cao để thực thi pháp
luật thì phải nhờ cậy đến những cơ chế nội bộ như kỷ luật và ảnh hưởng của đạo
đức. Kỳ vọng rằng hoặc sẽ có một nỗi sợ về kỷ luật của đảng, hoặc từ cam kết trung
thực với chính sách của đảng, các thành viên của đảng sẽ “làm gương” và tuân thủ
luật pháp. Tuy nhiên, sự tự điều chỉnh và ảnh hưởng của đạo đức với tư cách một
phương tiện đảm bảo rằng cán bộ công chức tuân thủ các chuẩn mực của tính hợp
pháp đã được chứng minh trên thế giới là điều không thể trông đợi. Các quy tắc đạo
đức và tự kiềm chế bản thân không chưa đủ. Hơn nữa, thanh tra và kiểm soát từ
bên trong là một cơ chế không hiệu quả nếu thiếu các cơ chế kiểm soát khác đi
cùng nó để ngăn chặn một tổ chức „tự vun vén cho mình”.
Bằng chứng rõ ràng nhất là từ quan sát kinh nghiệm của các nước thành
công trong chống nạn tham nhũng ở mức độ cao. Ví dụ: ở Hồng Kông và
Singapore, chìa khóa mang lại các giải pháp chống tham nhũng thành công là một
thiết chế bên ngoài độc lập có quyền tiến hành điều tra và trừng phạt tất cả công
chức tham nhũng dưới con mắt của công chúng mà không hề phải lo sợ hay lấy
lòng ai. Tách biệt thể chế và sự minh bạch của các thủ tục (một khi các cuộc thanh
tra hoàn tất) là những yếu tố hết sức quan trọng ngoài sự thuyết phục về đạo đức,
học vấn, các qui tắc ứng xử, luật pháp nghiêm minh, hình phạt nghiêm khắc, quyền
lực mạnh cho công tác điều tra và nguồn lực dồi dào.27
16
Ở tầm khái quát cao hơn, một thành phần chủ chốt của áp dụng pháp quyền
là một hệ thống tư pháp „độc lập. Khái niệm tư pháp độc lập có nhiều thành phần.
Chúng ta có thể phân biệt giữa độc lập về thể chế và độc lập trong việc ra quyết
định. Độc lập về thể chế bao gồm các cơ chế khác nhau đảm bảo ngành tư pháp là
một bộ phận riêng tách khỏi các nhánh khác của Nhà nước và không bị chúng kiểm
soát. Độc lập trong việc ra quyết định liên quan đến khả năng các quan tòa đưa ra
những quyết định không bị ép buộc hay can thiệp bởi bên ngoài kể cả các chính trị
gia và quan chức ngành hành chính. Một số cơ chế thông dụng trong các hệ thống
quyền khác gồm các qui định trong hiến pháp về thiết lập các nhánh riêng của bộ
máy nhà nước (như việc “tách riêng quyền lực” ở Hoa kỳ)28; những qui định về chỉ
định người và nhiệm kỳ làm việc của quan tòa nhằm đảm bảo việc họ sẽ không bị
ảnh hưởng bởi bất cứ thế lực bên ngoài nào; và một ngành nghề pháp lý tương đối
tự quản.
Tuyệt đại đa số những điều kiện cho sự độc lập về thể chế và độc lập trong ra
quyết định nói trên không tồn tại trong các thể chế chính quyền ở Việt Nam. Hơn
nữa, các đề xuất cho cải cách chưa bao hàm khái niệm này. Ví dụ, Nghị quyết 49 về
cải cách tư pháp do Bộ Chính trị ban hành vào năm 2005 chỉ ra một chương trình
nghị sự khá rộng cần thiết nhằm hoàn thiện tính hiệu quả, mức độ chuyên nghiệp và
chất lượng của quá trình xét xử, cũng như của các quan chức ngành tòa án. Như
tuyên bố về “các nguyên tắc cơ bản” nói rõ việc “hiện đại hóa” có lẽ sẽ làm “từng
bước một” “dưới sự lãnh đạo của Đảng” và “nhằm đảm bảo quyền lực thống nhất
của Nhà nước, đi cùng với sự phân bổ và hợp tác giữa các cơ quan nhà nước trong
các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Ngoài ra, về “cơ chế Đảng lãnh đạo
trong công tác của ngành tư pháp”, Nghị quyết nêu rõ:
“Đảng chỉ đạo chặt chẽ công việc của ngành tư pháp và hoạt động của các
cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và nhân sự. Cần phải đề phòng tình
huống trong đó các đơn vị cơ sở của Đảng không chú ý đến vai trò lãnh đạo
của mình, hoặc can thiệp không đúng đắn vào các hoạt động xét xử”.
Việc Đảng đòi hỏi quyền lực cho mình, cùng với cảnh báo chống lại sự can
thiệp “không đúng đắn” là biểu hiện của mâu thuẫn giữa việc theo đuổi một nền tư
pháp “chuyên nghiệp” hơn, đồng thời giữ cho nó chịu sự chỉ đạo và quản lý về chính
trị.Trong mô hình này, việc “giám sát” quyền lực hợp pháp cũng được xem xét dưới
góc độ “quyền lực của nhân dân”. Chúng tôi không rõ điều này đang được áp dụng
như thế nào trong thực tế. Nghị quyết 49 đề cập đến “tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến và giáo dục về pháp luật” và nó đặc biệt đề cập đến vai trò của Mặt
trận tổ quốc trong việc thưc hiện nhiệm vụ “khuyến khích nhân dân phát hiện ra
những trở ngại và hạn chế trong các cơ quan tư pháp và yêu cầu các cơ quan này
xem xét và khắc phục chúng.29
Rõ ràng là khái niệm “nền tư pháp độc lập” có một ý nghĩa cụ thể trong Nhà
nước “pháp quyền” XHCN Việt Nam. Mục tiêu là một hệ thống chuyên nghiệp và
hiệu quả hơn dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của nhân dân, với một
quan điểm để đảm bảo rằng nó phù hợp với nhiệm vụ thực thi luật pháp một cách
trung thành và nhất quán và để phân xử những xung đột về pháp lý mang tính
chuyên môn theo một qui trình chuẩn. Những cải cách cụ thể gồm có tập huấn về
tư pháp; củng cố hệ thống tòa án; làm rõ quyền hạn của các cơ quan điều tra và xét
xử; củng cố “tính chuyên nghiệp” trong đội ngũ những người làm công tác luật pháp
v.v. Trong lúc đó, người ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều cơ quan Đảng và Nhà
17
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Cải cách thể chế quản lý hành chính công ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_cai_cach_the_che_quan_ly_hanh_chinh_cong_o_viet_nam.pdf

