Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước: Thực trạng và khuyến nghị
TÀI CHÍNH - Tháng 03/2019
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ
PGS., TS. PHẠM NGỌC DŨNG – Học viện Tài chính *
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng của quản lý ngân sách nhà
nước. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước không chỉ liên quan đến công tác quản lý ngân sách
mà còn liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước và các vấn đề kinh tế - xã hội. Bài viết đánh giá
thực trạng hệ thống ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam thời gian
qua và đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo
hướng bền vững.
Từ khóa: Ngân sách nhà nước, kinh tế - xã hội, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Nội dung của phân cấp quản lý NSNN gồm 5
vấn đề chính: Phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân
sách; Giao nhiệm vụ chi cho các cấp; Các khoản bổ
sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới;
Vay nợ của chính quyền địa phương; Vấn đề trao
quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng vốn NSNN.
Để phân cấp quản lý ngân sách hợp lý, đáp ứng
nhiệm vụ của hệ thống chính quyền các cấp, cần xây
dựng một hệ thống các cấp NSNN phù hợp và gắn kết
với hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương
đến địa phương. Một hệ thống phân cấp ngân sách
lý tưởng phải đảm bảo tính minh bạch và xác định
rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyền
trong việc huy động phân bổ, sử dụng các nguồn lực
tài chính quốc gia. Thực hiện mục tiêu này, hệ thống
NSNN ở Việt Nam đã từng bước được xây dựng và
hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, cụ thể như sau:
DECENTRALIZATION IN THE STATE BUDGET
MANAGEMENT: SITUATION AND RECOMMENDATIONS
Pham Ngoc Dzung - Academy of Finance
Decentralization of the state budget is
an important content of the state budget
management, decentralization is not only
related to the state budget management but also
the state organization and other socio-economic
issues. This paper evaluates the practical system
of state budget and decentralization in state
budget management of Vietnam recent years
and proposes recommendations to improve it
in the manner of sustainability.
Keywords: State budget, socio-economic, decentralization
of state budget management
Giai đoạn 1945 – 1972: Ngay sau ngày giành được
độc lập, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã rất chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống
NSNN. Bởi vậy, một hệ thống NSNN gọn nhẹ với 2
cấp (ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh/thành
phố trực thuộc trung ương) đã được thiết lập; trong
đó, nhiệm vụ quản lý NSNN được tập trung chủ yếu
từ Chính phủ.
Ngày nhận bài: 14/2/2019
Ngày hoàn thiện biên tập: 4/3/2019
Ngày duyệt đăng: 8/3/2019
Thực trạng hệ thống ngân sách và phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Mục tiêu cốt lõi của phân cấp quản lý ngân sách
Giai đoạn 1973 – 1983: Để hoàn thành được cả 2
nhà nước (NSNN) là nhằm đảm bảo các nguồn lực mục tiêu cao cả (Giải phóng miền Nam thống nhất
tài chính quốc gia được huy động và phân phối sử đất nước; và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc),
dụng một cách hiệu quả nhất, đồng thời, đảm bảo ngày 08/4/1972 Hội đồng Chính phủ đã thông qua
tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động khai thác, Nghị định số 64 - CP về việc Ban hành Điều lệ ngân
sử dụng vốn NSNN, sự hài hòa về quyền lực trong sách xã. Kể từ đó ngân sách xã đã trở thành một cấp
quản lý kinh tế - xã hội và quản lý ngân sách của các ngân sách và được quản lý thống nhất khung pháp
cấp chính quyền.
lý của NSNN.
13
*Email: dung_phmngc@yahoo.com
CƠ CẤU LẠI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, ĐẢM BẢO AN NINH TÀI CHÍNH QUỐC GIA
Giai đoạn 1984 – 1989: Hội đồng Bộ trưởng đã ban diện cao nhất của nhân dân trong quyết định NSNN.
hành Nghị quyết số 138/HĐBT về Cải tiến chế độ
Thứ hai, phân cấp quản lý ngân sách theo Luật
phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. Một NSNN năm 2015 đã góp phần thúc đẩy nâng cao
trong những mục tiêu cơ bản mà Nghị quyết 138/ chất lượng, hiệu quả công tác quản lý NSNN. Việc
HĐBT hướng tới là “… cần cải tiến việc xây dựng và ban hành và thực hiện chính sách chế độ mới làm
quản lý ngân sách huyện (và đơn vị hành chính tương tăng chi ngân sách, tình trạng cấp ban hành chính
đương) để chính quyền huyện thật sự trở thành một sách phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù
cấp quản lý ngân sách. Ngân sách xã là một bộ phận hợp với khả năng cân đối ngân sách của từng cấp.
cấu thành của ngân sách huyện. Toàn bộ ngân sách
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN đã đảm bảo vai
địa phương (cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) là một bộ phận trò chủ đạo của NSTW.
cấu thành của NSNN”. Theo đó, mô hình hệ thống
Việc quy định NSTW giữ vai trò chủ đạo và hưởng
NSNN đầy đủ 4 cấp đã được thể chế hóa và đi vào các nguồn thu quan trọng đã đủ nguồn lực để thực
vận hành tương đối đồng bộ, nhằm hướng tới vừa hiện các nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia; Đảm bảo
tăng tiềm lực tài chính cho Chính phủ vừa phát huy nguồn lực để bổ sung cho các địa phương khó khăn,
quyền chủ động cho chính quyền địa phương.
thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền,
Giai đoạn 1990 – 1996: Chính phủ đã có ý tưởng qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh
xem xét lại cơ cấu các cấp trong hệ thống NSNN thần cho người dân, từng bước phát triển kinh tế xã
theo hướng giảm bớt cấp ngân sách trung gian, cụ hội ở các tỉnh nghèo, các xã vùng sâu, vùng xa.
thể là ngân sách cấp huyện. Theo đó, đã có một số địa
Thứ tư, cơ chế phân cấp quản lý NSNN đã giao
phương được giao làm thí điểm mô hình tổ chức hệ quyền chủ động cho các địa phương tăng thu, tiết
thống NSNN không có ngân sách huyện, tuy nhiên, ý kiệm chi NSNN để có nguồn lực phát triển kinh tế
tưởng này không hợp lý và không thuyết phục được xã hội trên địa bàn. Cơ chế phân cấp cụ thể nguồn
đa số các đại biểu Quốc hội khi thảo luận và biểu thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách đã khuyến
quyết thông qua Luật NSNN 1996. Vì vậy, mô hình khích chính quyền địa phương: Chủ động trong việc
hệ thống NSNN với cơ cấu 04 cấp vẫn được duy trì xác định, bồi dưỡng nguồn thu, tăng thu ngân sách
và được thể chế hóa ở cấp độ cao trong Luật NSNN để thực hiện các nhiệm vụ chi đã được phân cấp, với
năm 1996.
Giai đoạn 1997 đến nay: Luật NSNN 1996 đã chính khắc phục được tình trạng ỷ lại vào cấp trên.
thức có hiệu lực kể từ năm ngân sách 1997, Theo đó, Mặc dù, hoạt động phân cấp quản lý NSNN trong
mô hình tổ chức hệ thống NSNN vẫn bao gồm 4 cấp: những năm qua đã từng bước hoàn thiện nhưng vẫn
Trung ương, tỉnh, huyện, xã. còn những tồn tại, hạn chế. Cụ thể, hệ thống NSNN
cơ chế: tăng thu thì tăng chi, giảm thu thì giảm chi đã
Từ khi có luật NSNN 1996, sau nhiều lần sửa đổi Việt Nam hiện nay được tổ chức theo mô hình lồng
bổ sung, đến nay, luật NSNN 2015 hiện hành, sau ghép. Sự lồng ghép trong hệ thống NSNN dẫn đến sự
hơn 1 năm thực hiện, cơ chế phân cấp quản lý NSNN chồng chéo về thẩm quyền, hạn chế tính độc lập và
đã có những tiến bộ nhất định, tuy nhiên, bên cạnh quyền hạn của các cấp ngân sách; giảm tính hiệu quả,
những kết quả đạt được cũng bộc lộ không ít tồn tại, công khai, minh bạch trong việc lập, quyết định, giao
vướng mắc.
dự toán ngân sách, sử dụng ngân sách và quyết toán
NSNN. Mặt khác, do tính lồng ghép trong hệ thống
NSNN nên thời gian lập, giao dự toán bị kéo dài, ảnh
Những kết quả đạt được
Trong những năm qua, phân cấp quản lý NSNN hưởng đến công tác quản lý, điều hành NSNN.
nhằm đảm bảo các nguồn lực tài chính quốc gia được Quy mô thu ngân sách có xu hướng giảm dần,
huy động và phân phối sử dụng một cách hiệu quả trong khi nhu cầu chi vẫn rất lớn, dẫn tới những căng
nhất và đạt được những kết quả quan trọng sau: thẳng trong cân đối thu – chi. Quy mô thu ngân sách
Thứ nhất: đảm bảo thực quyền của Quốc hội, tăng giảm một phần do phụ thuộc nhiều vào thu từ xuất
tính chủ động của Hội đồng nhân dân các cấp trong nhập khẩu. Thu nội địa tăng chậm, một phần do
việc quyết định dự toán ngân sách, quyết định phân giảm nghĩa vụ đóng góp, hỗ trợ tích tụ vốn, đầu tư,
bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách.
Luật NSNN quy định Quốc hội thảo luận và
nâng cao năng lực cạnh tranh.
Mặt khác, cơ sở thu ngân sách từ thuế giá trị gia
quyết định phân bổ ngân sách chi tiết theo lĩnh vực tăng (GTGT) hiện hành của Việt Nam bị thu hẹp khá
đến từng bộ, cơ quan trung ương và mức bổ sung nhiều do có tới 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ không
từ NSTW cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung thuộc diện chịu thuế GTGT. So với thông lệ quốc tế
ương đã thể hiện quyền lực tối cao của cơ quan đại (thường từ 4 - 8 nhóm), số lượng hàng hóa, dịch vụ
14
TÀI CHÍNH - Tháng 03/2019
không chịu thuế GTGT của Việt Nam còn khá nhiều
nên đã trực tiếp tác động đến nguồn thu.
HÌNH 1. MÔ HÌNH NGÂN SÁCH LỒNG GHÉP Ở VIỆT NAM
Xét theo phân cấp nguồn thu ngân sách giữa
NSTW và NSĐP (Bảng 1) cho thấy, thu NSĐP có
xu hướng tăng, trong khi thu NSTW có xu hướng
giảm, thực tế này ảnh hưởng đến vai trò chủ đạo
của NSTW. Thu NSĐP trong các năm gần đây có
xu hướng tăng cả về quy mô và tỷ trọng, trong
đó quy mô thu NSĐP giai đoạn 2011- 2015 tăng
khoảng 2,5 lần so với 5 năm trước, cao hơn mức
tăng thu NSNN nói chung (khoảng 2 lần); tỷ trọng
thu NSĐP trong tổng thu NSNN tăng từ 32,4% giai
đoạn 2006-2010 lên 36,2% giai đoạn 2011-2015, tăng
tính tự chủ cho NSĐP.
Ngân sách nhà nước
NSTW + NSĐP
=
Ngân sách tỉnh
Ngân sách quận/huyện
Ngân sách xã
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
NSĐP lại tiếp tục tăng rất mạnh, tương ứng là 34%
Vai trò chủ đạo của NSTW được bảo đảm trong và 59%.
giai đoạn 2011-2015, nhưng có xu hướng giảm trong
Về bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
những năm gần đây. Cụ thể, tỷ trọng thu NSTW từ cấp dưới: Số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP
63,7% tổng thu NSNN giai đoạn 2011-2016 xuống được ổn định trong thời kỳ ổn định ngân sách địa
còn khoảng 59% tổng thu NSNN năm 2016-2017.
phương, dẫn đến nhiều địa phương có số thu trên
Về giao nhiệm vụ chi NSNN: Phân cấp nhiệm địa bàn địa thấp. Số thu bổ sung cân đối từ NSTW
vụ chi ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý lớn nên địa phương không đủ nguồn để thực hiên
kinh tế xã hội. Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý kinh các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội;
tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay đối với một số lĩnh
vực còn chồng chéo, dẫn đến những khó khăn trong cấp tỉnh được quyết định mức chi ngân sách theo
phân cấp nhiệm vụ chi. khung chi tiêu của Chính phủ quy định điều kiện của
Về ban hành chính sách chế độ: Hiện nay HĐND
Cùng với xu hướng của thu NSNN, tỷ trọng chi địa phương, dẫn đến tình trạng chi không thống nhất
NSTW trong tổng chi NSNN có xu hướng giảm từ giữa các địa phương.
55,2% (năm 2006) xuống còn 49,2% (năm 2018); tỷ
Vay nợ của Chính phủ và của chính quyền địa
trọng chi cho đầu tư phát triển giảm từ 33,3% giai phương ngày càng tăng gây áp lực trong chi trả nợ:
đoạn 2006-2010 xuống còn khoảng 26-27% giai đoạn Bình quân giai đoạn 2011-2015, nợ công tăng 18,4%/
2011-2015. Tỷ trọng các khoản chi trực tiếp của NSTW năm (gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP); quy
có xu hướng giảm nhanh, ảnh hưởng tới nguyên tắc mô nợ công cuối năm 2015 gấp 2,3 lần năm 2010; tính
hiến định về vai trò chủ đạo của NSTW, do phần theo GDP, quy mô nợ công tăng từ mức 50% GDP
lớn các chính sách an sinh xã hội ban hành đều gắn năm 2010 lên 62,2% GDP. Đến cuối năm 2015, có 5/6
với đối tượng ở địa phương, NSTW phải hỗ trợ cho chỉ tiêu đảm bảo trong giới hạn cho phép, nợ công
NSĐP để thực hiện. Chi đầu tư phát triển của các bộ, chiếm 62,2% GDP (giới hạn là 65%), nợ nước ngoài
cơ quan trung ương quản lý giai đoạn 2011-2015 chỉ của quốc gia là 43,1%GDP (giới hạn là 50%), nghĩa
còn chiếm 26-27% tổng chi đầu tư phát triển nguồn vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 16,1% GDP (giới
NSNN; đây là một nguyên nhân dẫn đến đầu tư phân hạn là 25%), phát hành trái phiếu chính phủ cho đầu
tán, hiệu quả chưa cao; hạn chế khả năng đầu tư dứt tư giai đoạn 2011-2015 là 329.835 tỷ đồng (giới hạn là
điểm các công trình trọng yếu.
335.000 tỷ đồng), kỳ hạn phát hành trái phiếu chính
Cùng với nỗ lực giảm lạm phát, khi chỉ số giá tiêu phủ bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 4,8 năm (mục
dùng (CPI) năm 2008 lên tới 22,97%, tốc độ tăng chi tiêu là 4-6 năm); riêng chỉ tiêu nợ Chính phủ năm
NSTW cũng được điều chỉnh giảm mạnh vào năm 2015 so với GDP vượt giới hạn cho phép do GDP
2009. Tuy nhiên, chi NSĐP, đặc biệt là chi đầu tư thực tế theo giá hiện hành năm 2015 giảm mạnh.
Đối với vấn đề vay nợ của
các địa phương, trước thời
BẢNG 1: CƠ CẤU THU NSNN THEO PHÂN CẤP GIAI ĐOẠN 2011-2018 (%/tổng thu ngân sách)
điểm Luật NSNN năm 2002
2011 2012 2013 2014 2015 2011-2015 2017 2018 2019
có hiệu lực thi hành, không
64,6
35,4
63,6
36,4
63,7
36,3
63,3
36,7
63,6
36,4
63,7
36,3
58,8
41,2
60,2
39,8
57,1
42,9
Thu NSTW
Thu NSĐP
cho phép địa phương vay
nợ, luật NSNN năm 2002 quy
định chỉ có bội chi NSTW,
Nguồn: Tính toán từ số liệu dự toán thu NSNN các năm
15
CƠ CẤU LẠI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, ĐẢM BẢO AN NINH TÀI CHÍNH QUỐC GIA
Thứ tư, để mở rộng cơ sở thu
ngân sách, thu hẹp diện ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN). Theo đó, nên bỏ ưu đãi
vì mục tiêu xã hội trong chính
sách thuế TNDN, đồng thời,
rà soát chỉ giữ lại ưu đãi thuế
TNDN vì mục tiêu điều tiết và
phân bổ nguồn lực kinh tế đối
với những trường hợp đặc biệt
có ý nghĩa quan trọng cho phát
triển kinh tế. Việc nghiên cứu
đánh thuế bất động sản là rất
cần thiết đối với Việt Nam hiện
BẢNG 2: CƠ CẤU CHI NSNN THEO PHÂN CẤP GIAI ĐOẠN 2011-2018 (%/TỔNG CHI NSNN)
2011 2012 2013 2014 2015 2011-2015 2016 2017 2018
55,2% 53,7% 51,2% 52,1% 54,3%
53,3%
52,4% 50,9% 49,2%
NSTW
NSĐP
44,8% 46,3% 48,8% 47,9% 45,7%
46,7%
47,6% 49,1% 50,8%
Nguồn: Tính toán từ số liệu dự toán chi NSNN theo Luật NSNN 2015
BẢNG 3: NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM (%)
Mục tiêu đến Thực
Mục tiêu
Chỉ tiêu
2016 2017 2018
năm 2015
hiện 2016-2020
≤ 65
62,2
50,3
43,1
≤ 65
≤ 54
≤ 50
63,6 61,4
52,6 51,8
61,4
51,9
Nợ công / GDP
≤ 50
Nợ Chính phủ/GDP
Nợ nước ngoài quốc gia/GDP
≤ 50
44,7 49,0 49,9
Nguồn: Bộ Tài chính
nhưng vẫn mở cửa cho các địa phương vay nợ để nay. Ngoài ra, cần nghiên cứu một số khoản thu gắn
phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh với sự phát triển hạ tầng, dịch vụ công, nhất là đối
tế xã hội. Do cơ chế quản lý, do kiểm tra giám sát với các đô thị lớn.
chưa chặt chẽ dẫn đến nợ xây dựng cơ bản của một
số địa phương là rất lớn.
Thứ năm, đổi mới phương thức phân cấp nhiệm
vụ chi: Cần hoàn thiện quy định về phân định nhiệm
vụ chi giữa các cấp ngân sách phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền. Qua đó,
tạo điều kiện và cơ chế để chính quyền địa phương
Khuyến nghị hoàn thiện phân cấp quản lý
ngân sách nhà nước
Để nâng cao hơn nữa công tác quản lý, phân cấp có sự tự chủ nhất định trong các quyết định phân bổ
quản lý NSNN trong thời gian tới, cần quan tâm đến ngồn lực, sử dụng nguồn lực theo các thứ tự ưu tiên
một số nội dung cơ bản sau:
của địa phương.
Thứ nhất, thận trọng trong nghiên cứu và xoá
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế bổ sung ngân sách giữa
bỏ tính lồng ghép của hệ thống ngân sách: Thực tế các cấp ngân sách: Cần hình thành các phương thức
cho thấy, tính lồng ghép của hệ thống ngân sách phù hợp để xác định quy mô tổng nguồn ngân sách
đã tiêu tốn tiền của rất nhiều trong quyết định dự dùng để bổ sung cho các địa phương, cũng như các
toán ngân sách và quyết toán ngân sách, làm phát nguyên tắc sử dụng cho việc xác định mức bổ sung
sinh các thủ tục hành chính không cần thiết, làm suy và nhu cầu chi tiêu của địa phương; hoàn thiện hệ
giảm tính chủ động của chính quyền các địa phương. thống tiêu chí, các nguyên tắc về bổ sung có mục tiêu,
Tuy nhiên, trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, hạn chế xin cho.
cần phải thận trọng trước khi xoá bỏ cơ chế này để
đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của chính hiệu quả, cần phải có chủ trương đúng đắn, có sự
quyền trung ương. chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện tổ chức thực hiện,
Tóm lại, để phân cấp quản lý NSNN diễn ra
Thứ hai, đổi mới phân cấp nguồn thu giữa các đồng thời phải có sự vào cuộc một cách mạnh mẽ,
cấp ngân sách, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW: trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, bên cạnh
Về nguyên tắc vẫn phải tập trung những nguồn thu đó cần tăng cường minh bạch, sự vô tư, trong
lớn, quan trọng về NSTW. Các địa phương tích cực sáng của các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá
chủ động khai thác, nuôi dưỡng nguồn thu gắn với trình xây dựng, tổ chức đổi mới phân cấp quản lý
kinh tế địa phương chủ động cân đối ngân sách. Để NSNN nói riêng và quản lý NSNN, quản lý kinh
giải quyết những căng thẳng và mâu thuẫn trong tế xã hội nói chung.
phân phối nguồn thu giữa các cấp ngân sách cần
phải xử lý được vấn đề nền tảng là phải tăng thu
Tài liệu tham khảo:
NSNN, như ban hành các sắc thuế mới, tăng thuế 1. Luật Ngân sách Nhà nước năm 1996 và năm 2002;
suất của một số loại thuế, nghiên cứu giảm các đối 2. Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015;
tượng miễn giảm thuế.
3. Chính phủ, Nghị định số 16/NĐ-CP/2015 ngày 14/ 2/ 2015 quy định về cơ chế
tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;
Thứ ba, cần tăng thuế suất đối với một số loại hàng
hóa như thuốc lá, rượu, bia, các loại nước uống có cồn, 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Luật NSNN
có ga. Cần bổ sung một số hàng hóa chịu thuế TTĐB
như: Điện thoại di động, camera, dịch vụ thẩm mỹ...
hàng năm;
5. Bộ Tài chính, Báo cáo Diễn đàn tài chính, tháng 10/2018.
16
Bạn đang xem tài liệu "Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước: Thực trạng và khuyến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_cap_quan_ly_ngan_sach_nha_nuoc_thuc_trang_va_khuyen_ngh.pdf

