Pháp luật về hoạt động hòa giải
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI
1.1. Khái niệm về pháp luật hòa giải
Pháp luật về hòa giải là một trong những ngành luật quan trọng và cơ bản
của Việt Nam và được qui định ở nhiều văn bản khác nhau. Vì hệ thống pháp luật
về hòa giải ở Việt Nam ta chia các loại hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật hòa
giải ở sơ sở; hòa giải tranh chấp lao động qui định của BLLĐ; hòa giải thương mại
theo qui định của Luật Thương mại; hòa giải tranh chấp đất đai của UBND cấp xã
theo qui định của Luật đất đai và hòa giải, đối thoại tại tòa án qui định tại Luật hòa
giải đối thoại tại tòa án, hòa giải tố tụng dân sự theo qui định của BLTTDS, và các
văn bản pháp luật chuyên ngành khác.
Pháp luật về hòa giải không điều chỉnh một đối tượng cụ thể nhưng vẫn có
phạm vi áp dụng là các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trừ một số trường
hợp như yêu cầu bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ việc
phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Hay nói cách khác, việc áp dụng pháp luật về hòa giải phụ thuộc vào sự xác định
có tồn tại các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. Về cơ bản, nếu các tranh
chấp tồn tại, pháp luật về hòa được áp dụng khi không thuộc các trường hợp loại
trừ. Nếu các tranh chấp không tồn tại, pháp luật về hòa giải không được áp dụng và
quan hệ có liên quan được điều chỉnh bởi các ngành luật khác.
1.2. Nội dung của pháp luật về hòa giải
Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ pháp luật về hòa giải
Hòa giải ở cơ sở
Hoạt động ở hòa ở cơ sở được thực hiện bởi các hòa giải viên thuộc các tổ
hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở gồm
thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, và cộng đồng dân cư
1
khác) để hoạt động hòa giải. Cơ cấu tổ chức của tổ hòa giải gồm có tổ trưởng và
các hòa giải viên; mỗi tổ có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ
( đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì tổ hòa giải viên phải có giải
viên là người dân tộc thiểu số). Hòa giải viên được bầu ra trong số những người có
các tiêu chuẩn như; có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có
khả năng thuyết phục, vận động nhân dân, có hiểu biết về pháp luật. Sau khi bầu
chọn được hòa giải viên, Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách đề nghị Chủ
tịch ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhân hòa giải viên. Tổ trưởng tổ
hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.
Hòa giải tranh chấp lao động
Chủ thể của hòa giải tranh chấp lao động là hòa giải viên lao động; hòa giải
viên lao động do cơ quan quản lí nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh cử để hòa giải tranh lao độngvà tranh chấp về hợp đồng đào tạo
nghề và Tòa án nhân dân.
Hòa giải thương mại
Chủ thể của hòa giải thương mại là hòa giải viên thương mại có trình độ đại
học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở
lên;
Hòa giải tranh chấp đất đai
Hòa giải tranh chấp đất đai có Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai tại ủy
ban nhân dân cấp xã gồm: Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân là chủ tịch
hội đồng; đại diện ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn, tổ trưởng tổ dân
phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện
một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và
quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường,
2
thị trấn. Tùy trường cụ thể có thể mời đại diện Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu
chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Hòa giải đối thoại tại Tòa án
Chủ thể của hòa giải, đối thoại tại Tòa án là hòa giải viên, đối thoại viên
được lựa chọn từ những Thẩm phán đã về hưu; những người đã từng là Kiểm sát
viên, Điều tra viên, chuyên viên pháp lý trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,
Công an, Thi hành án, các cơ quan Đảng và nhà nước khác thuộc khối nội chính;
luật sư; luật gia, Hội thẩm nhân dân hoặc những người khác có kiến thực pháp luật,
có sức khỏe, phẩm chất đạo đực tốt, có năng lực, kinh nghiệm trong hòa giải, đối
thoại, có uy tín trong cộng đồng.
Hòa giải trong tố tụng dân sự
Chủ thể của hòa giải trong tố tụng dân sư gồm có Thẩm phán chủ trì phiên
hòa giải đóng vai trò là người tiến hành hòa giải và thư ký tòa án là người giúp việc
ghi biên bản hòa giải.
Thứ hai, về nội dung của quan hệ pháp luật hòa giải
Nguyên tắc về hòa giải
Một là, tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên
trong hòa giải ở cơ sở. Nhiệm vụ của hòa giải viên là hướng dẫn, giúp các bên
tranh chấp tìm được tiếng nói chung để tự giàn xếp mâu thuẫn một các ổn thỏa. Vì
lẽ đó, trước hết hòa giải viên phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, tôn trọng ý
chí của họ, không thể dùng ý chí chủ quan của mình mà bắt buộc họ phải hòa giải.
Mọi tác động đến sự tự do ý chí của các bên như cưỡng ép, làm cho một trong hai
bên bị lừa dối hay nhầm lẫn đều không thể hiện đầy đủ tính tự nguyện của các bên.
Hai là, tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích công
3
cộng. Hòa giải viên không chỉ giúp các bên giải quyết tranh chấp, bảo vệ, khôi
phục quyền và lợi ích của các bên mà còn phải bảo đảm lợi ích chung của xã hội,
của nhà nước và của người khác; góp phần giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của
công dân.
Ba là, nguyên tắc đảm bảo phù hợp với chính sách, pháp luật của nhà nước,
đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; pát huy tinh thần đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và
cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ,
người khuyết tật và người cao tuổi. Hòa giải viên phải nắm vững kiến thức pháp
luật và phối hợp với các phong tục tập quán tốt đẹp của các địa phương để động
viên các bên giàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp nhất là ở các miền núi, vùng sâu,
vùng xa, đồng bao dân tộc thiểu số.
Bốn là, nguyên tắc khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật
thông tin đời tư của các bên. Khi có mâu thuẫn các bên đều đưa ra lí lẽ rằng mình
đúng thì hòa giải viên phải khách quan nhìn nhận từ nhiều phía khác nhau đưa ra
các nhận định cho các bên vừa có lý vừa chứa tình cảm. Trong các thông tin mà
hòa giải viên tiếp cận có liên quan đến bí mật đời tư thì cần được giữ kín.
Thứ hai, về phương thức và hình thức về hòa giải
Hòa giải tại trung tâm hòa giải, đối thoại
Theo Điều 22 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020 quy định “ Phương
thức hòa giải đối thoại tại Tòa án “
Hòa giải viên được quyền quyết định thời gian và địa điểm tiến hành hòa
giải, không buộc phải thu thập chứng cứ đầy đủ rồi mới bắt đầu phiên hòa giải.
Mặc khác nếu các bên tranh chấp yêu cầu, Hòa giải viên có thể hòa giải vụ việc
ngoài trụ sở Trung tâm hòa giải. Hòa giải viên có được sự linh hoạt, không bị gò
4
bó theo trình tự thủ tục của BLTTDS. Sau khi được phân công vụ việc cần hòa
giải, Hòa giải viên sẽ thực hiện nghiên cứu hồ sơ và hòa giải trong thời hạn 20
ngày, trong trường hợp cần thiết việc hòa giải có thể tiến hành trong hai tháng nên
được các bên đồng ý. Thông tin trong quá trình các bên tranh chấp và thông tin thu
thập được trong quá trình giải quyết vụ án không là chứng cứ, trừ trường hợp các
bên đồng ý sử dụng các tài liệu, lời trình bày chứng cứ đó tại tòa án.
Hòa giải theo thủ tục tố tụng
Theo Điều 203, Điều 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì
Pháp luật tố tụng không qui định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao
nhiêu ngày kể từ ngày thụ lí, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ,
thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ
linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao
cho phù hợp, miễn là trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Do BLTTDS có qui định
nguyên đơn có quyền thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, bị đơn, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yều cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận chứng cứ và hòa giải nên về
thực tiễn xét xử, Thẩm phán thường thu thập chứng cứ đầy đủ, toàn diện đối với
từng yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập rồi mới mở phiên họp
kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Hòa giải ở cơ sở
Việc hòa giải tiến hành chủ yếu bằng lời nói: tổ viên Tổ hòa giải trực tiếp
gặp gỡ các bên, dùng tình cảm, lý lẽ để thuyết phục các bên đạt được sự thỏa thuận
tự giải quyết các tranh chấp, vi phạm. Trong trường hợp các bên tranh chấp yêu
cầu tổ viên Tổ hòa giải lập biên bản. Tuy nhiên, biên bản hòa giải không phải là
một chứng cứ pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Đó chỉ là sự
5
thỏa thuận giữa các bên mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc
về mặt đạo lý và tâm lý giữa các bên. Trong trường hợp đã có biên bản hòa giải
thành nhưng sau đó các bên lại không muốn thực hiện thỏa thuận đó thì không ai
có quyền cưỡng chế các bên thi hành kết quả hòa giải thành đã được ghi nhận
trong biên bản. Tổ hòa giải cũng chỉ có thể dựa vào biên bản hòa giải để thuyết
phục các bên thực hiện kết quả hòa giải. Trong trường hợp được các bên đồng ý,
việc hòa giải cũng có thể lập thành biên bản. Tổ viên Tổ hòa giải có thể dựa vào
biên bản hòa giải để là cơ sở cho việc thuyết phục các bên tranh chấp đạt tới thỏa
thuận và thực hiện thỏa thuận.
Hòa giải về tranh chấp lao động
Tại phiên họp hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh
chấp. Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm hõ trợ các bên tự thương lượng,
trường hợp hai bên không thương lượng được thì Hội đồng trọng tài lao động đưa
ra phương án để hai bên xem xét. Trong trường hợp hai bên tự thỏa thuận được
hoặc chấp nhận phương án hòa giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản
hòa giải thành đồng thời ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc một bên tranh chấp đã được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lí do chính đáng thì Hội đồng
trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành và sau thời hạn 03 ngày, tập
thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.
Hòa giải tranh chấp thương mại
Quá trình hòa giải các bên tranh chấp không chịu sự chi phối bởi các quy
định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải. Kết quả hòa
giải thành được thực thi hoàn toàn phụ thuocj vào sự tự nguyện của các bên tranh
6
chấp mà không có bất kỳ cơ ché pháp lý nào bảo đảm thi hành những cam kết của
các bên trong quá trình hòa giải.
Hòa giải tranh chấp đất đai của ủy ban nhân dân cấp xã
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký
của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Trường hợp kết quả hòa giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã
phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến cơ uan nhà nước có thẩm quyền để
giải quyết theo qui định về quản lý đất đai.
Thứ ba, về trình tự, thủ tục về hòa giải
Hòa giải ở cơ sở
Theo các Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 24 của
Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 thì
Chuẩn bị hòa giải: Phân công hòa giải viên làm nhiệm vụ tìm hiểu vụ việc,
nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp, lợi ích mà mỗi bên hướng tới. Tìm
hiểu các qui định pháp luật điều chỉnh trực tiếp mối quan hệ giữa các bên.
Tiến hành hòa giải: Địa điểm và thời gian thực hiện buổi hòa giải do hòa giải
viên đã thống nhất trước với các bên.
Thành phần tham dự buổi hòa giải: Hòa giải viên ( chủ trì buổi hòa giải), các
bên mẫu thuẫn; tranh chấp, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Các bước tiến hành hòa giải:
Bước 1: Hòa giải viên chủ trì buổi hòa giải nêu mục đích, ý nghĩa của buổi
hòa giải; thống nhất với các bên về một số quy ước, cách làm tại buổi hòa giải.
Bước 2: Các bên trình bày nội dung vụ việc, các bên có quyền bổ sung ý
kiến, đưa ra luận cứ, quan điểm của mình sau khi trình bày.
7
Bước 3: Hòa giải viên phân tích vụ việc, dẫn chiếu các quy định của pháp
luật. Hòa giải viên phân tích rõ cho các bên quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của
mình. Đưa ra phương án giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp cho các bên tham khảo
và nêu lợi ích của việc hòa giải thành và hậu quả pháp lý mà các bên có thể phải
gặp nếu tiếp tục tranh chấp.
Bước 4: Kết thúc hòa giải
Nếu các bên đạt được thỏa thuận, hòa giải viên chốt lại nội dung thỏa thuận,
trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi bên. Các bên đồng ý thì lập thành văn bản hòa
giải thành đưa cho mỗi bên ký.
Nếu các bên không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên có
quyền yêu cầu tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Hòa giải tranh chấp lao động
Theo Điều 188, Điều 192 Bộ luật Lao động 2019 thì
Tranh chấp lao động phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa
giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải
quyết
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận
được yêu cầu từ các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại
khoản 3 Điều 181 của BLLĐ 2019, hòa giải viên kết thúc việc hòa giải.
Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương
lượng để giải quyết tranh chấp. Nếu hòa giải thành thì phải có chữ ký của các bên
tranh chấp và hòa giải viên lao động. Nếu hòa giải không thành hòa giải viên đưa
ra phương án giải quyết mà vẫn không hòa giải thành thì lập thành biên bản có chữ
ký của các bên và gửi cho mỗi bên một bản.
8
Trường hợp một trong các bên không thực hiên các thỏa thuận thì bên kia có
quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.
Hòa giải tranh chấp Thương mại
Theo Điều 14, Điều 17 Nghị định 22/2017/NĐ – CP thì:
Khi tiến hành hòa giải, các bên có thể tự thỏa thuận trình tự, thủ tục hòa giải
hoặc lựa chọn Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại.
Nếu các bên không thỏa thuận thì hòa giải viên thương mại thưc hiện theo
trình tự, thủ tục mà họ thấy phù hợp với vụ việc, nguyện vọng và được các bên
đồng ý.
Việc hòa giải được tiến hành bởi một hoặc nhiều hòa giải viên do các bên
thỏa thuận. Hòa giải có quyền đưa ra đề xuất giải quyết tranh chấp ở bất kỳ thời
điểm nào của quá trình hòa giải.
Hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã
Theo Điều 88 Nghị định 43/2014/ NĐ – CP qui định “ Thủ tục hòa giải
tranh chấp đất đai”
Sau khi nhận đơn đề nghị của người đề nghị, UBND cấp xã sẽ lập hội đồng
hòa giải và tiến hành xác minh hiện trạng đất cae trên thực tế và trên giấy tờ để có
những thông tin sơ bộ làm căn cứ giải quyết tranh chấp. Việc hòa giải phải được
thông báo cho các bên và lập thành biên bản.
Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh
chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia buổi hòa giải và phải đóng
dấu của UBND cấp xã; đồng thời gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại
UBND cấp xã.
Sau 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp
có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản
9
hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải
để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành
hoặc không thành. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh
giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất
một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND cấp xã lập biên
bản hòa giải không thành và gửi cho các bên, hướng dẫn các bên gửi đơn đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tiếp theo.
Hòa giải tại trung tâm hòa giải, đối thoại
Theo Điều 26 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020 qui định “Trình tự
phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án “
Hòa giải viên giới thiệu thành phần tham gia phiên hòa giải, đối thoại; trình
bày nội dung cần hòa giải, đối thoại; diễn biến quá trình chuẩn bị hòa giải, đối
thoại; phổ biến quy định của pháp luật có liên quan.
Người khởi kiện, người yêu cầu hoặc người đại diện trình bày nội dung yêu
cầu, khởi kiện, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, đối thoại và
hướng giải quyết tranh chấp, khiếu kiện. Người bị kiện hoặc đại diện người bị kiện
trình bày ý kiến đối với đơn khởi kiện, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa
giải, đối thoại; hướng giai quyết tranh chấp, khiếu kiện.
Người được mời tham gia hòa giải, đối thoại phát biểu ý kiến
Hòa
giải viên thực hiên nhiệm vụ hỗ trợ các bên trao đổi ý kiến, trình bày bổ sung về
những nội dung chưa rõ và đi đến thỏa thuận, thống nhất việc giải quyết tranh chấp
khiếu kiện. Hòa giải viên tóm tắt vấn đề các bên đã thỏa thuận, thống nhất hoặc
chưa thỏa thuận thống nhất.
10
Hòa giải theo thủ tục tố tụng
Theo khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định “ Trình tự
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”
Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có
liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền và nghĩa vụ
của mình, phân tích hậu quả pháp lí của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình
bày nội dung, ý kiến , yêu cầu phản tố, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa
giải, hướng giải quyết vụ án. Người khác tham gia phiên họp hòa giải phát biểu ý
kiến.
Sau khi các đương sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình
bày ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống
nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sư trình bày bổ sung về những nội
dung chưa rõ, chưa thống nhất. Thẩm phán kết luận về những vấn dề các đương sự
đã thống nhất, chưa thống nhất.
11
12
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về hoạt động hòa giải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_ve_hoat_dong_hoa_giai.pdf

