Rào cản pháp lý khi thực hiện quyền được trợ giúp và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của lao động di cư nội địa
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
RÀO CẢN PHÁP LÝ KHI THỰC HIỆN QUYỀN ĐƯỢC TRỢ GIÚP VÀ TIẾP CẬN
CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ NỘI ĐỊA
Nguyễn Thanh Huyền*
*TS. GVC. Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trợ giúp xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội là một trong những chính
sách nhằm đảm bảo an sinh cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm thực hiện nhằm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn có cơ
hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và thoát nghèo. Việt Nam được Liên
hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong việc thực hiện
một số mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) như (i) xóa bỏ tình trạng nghèo
cùng cực và thiếu đói; (ii) đạt phổ cập giáo dục tiểu học... Tuy nhiên, việc
thực hiện quyền được trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
của nhóm lao động di cư nội địa còn gặp nhiều khó khăn. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả trình bày, phân tích những khó khăn trong việc thực
hiện quyền được trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản đối
với lao động di cư nội địa từ khía cạnh pháp lý và đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những rào cản này.
Từ khóa: Lao động di cư nội
địa, các dịch vụ xã hội, trợ giúp
xã hội.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/3/2021
: 27/3/2021
: 29/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Social assistance and provision of social services are one of the crucial
policies to ensure the well-being of the people that the Party and the State
always pay attention to help people in difficult circumstances have the
opportunity to access the basic social services and getting rid of poverty.
Vietnam is recognized by the United Nations as one of the leading coun-
tries in the implementation of a number of the Millennium Development
Goals (MDGs) such as (i) extreme poverty and hunger eradication; (ii)
universal primary education achievement … However, the implementa-
tion of the right to social assistance and access to basic social services of
the group of internal migrant workers still faces difficulties. In the scope
of this article, the author provides discussions and analysis of difficulties in
exercising the right to social assistance and access to basic social services
for internal migrant workers from a legal perspective and recommendation
for further improvement of the related law to overcome the said barriers.
Keywords: Internal migrant
workers;
social
assistance;
provision of social services.
Article History:
Received
Edited
: 11 Mar. 2021
: 27 Mar. 2021
: 29 Mar. 2021
Approved
1. Nhận diện rào cản pháp lý trong việc
thực hiện quyền được trợ giúp xã hội của
lao động di cư nội địa
sống cho mình hoặc cho gia đình, sớm hòa
nhập với cộng đồng. Với cách hiểu này thì
trợ giúp xã hội có thể được thực hiện bởi bất
kỳ chủ thể nào trong xã hội đối với những
đối tượng cần trợ giúp. Dưới góc độ pháp
lý, trợ giúp xã hội là tổng hợp các quy định
của Nhà nước về chế độ, chính sách đối với
Hiểu một cách chung nhất, trợ giúp xã hội
là sự giúp đỡ về tài chính hoặc các điều kiện
sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp
đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc những người có hoàn cảnh khó khăn1.
1 PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu, “Giáo trình pháp luật an sinh xã hội”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2019, tr. 265.
16
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đến cuối năm 2019, cả nước đã có trên đăng ký thường trú hoặc tạm trú với chính
quyền4. Theo kết quả phỏng vấn thì việc
không đăng ký tạm trú của người di cư là
do thủ tục đăng ký khá phiền hà, tốn nhiều
thời gian. Như vậy, để thực hiện được quyền
được trợ giúp xã hội, họ phải trở về nơi đăng
ký “hộ khẩu thường trú” để thực hiện.
3 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng
tháng, được hỗ trợ kinh phí chăm sóc và cấp
thẻ BHYT; 48.423 người đang được chăm
sóc, nuôi dưỡng tại 432 cơ sở trợ giúp xã
hội (trong đó có 182 cơ sở công lập), chiếm
khoảng 3% dân số; kinh phí thực hiện trợ
giúp xã hội thường xuyên hàng năm là
17.563 tỷ đồng2. Tuy nhiên, việc thực hiện
chính sách và pháp luật về trợ giúp xã hội
đối với lao động di cư nội địa gặp không
ít khó khăn do vướng mắc bởi rào cản quy
định về “sổ hộ khẩu”.
Những đối tượng đang nhận trợ giúp xã
hội thường xuyên mà di cư hoặc di cư theo
thân nhân khá khó khăn trong việc nhận tiền
trợ giúp xã hội hàng tháng vì không có “sổ hộ
khẩu” tại nơi di cư đến. Hiện nay, Nhà nước
mới chỉ hướng dẫn thủ tục quyết định trợ
cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi
nơi cư trú giữa các xã, phường trong cùng
quận, huyện hoặc giữa các quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh5 mà chưa có hướng
dẫn khi đổi tượng thay đổi nơi cư trú giữa
các tỉnh.
Hiện nay, đối với chế độ trợ giúp xã hội
thường xuyên như: đề nghị trợ cấp xã hội
hàng tháng; đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm
sóc nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội; đề
nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người
nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật
đặc biệt nặng; đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm
sóc đối với gia đình có người khuyết tật đặc
biệt nặng… đều có yêu cầu về mặt thủ tục
là phải có “sổ hộ khẩu”3. Những lao động di
cư nội địa hoặc thân nhân của họ thuộc diện
được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên
(như người khuyết tật đặc biệt nặng) thì khá
khó khăn khi thực hiện thủ tục để được nhận
trợ giúp tại nơi họ di cư đến, nguyên nhân
là họ không có “sổ hộ khẩu”. Theo số liệu
Đối với những trường hợp trợ giúp xã
hội khác như: đề nghị hưởng chính sách hỗ
trợ đối với học sinh, hỗ trợ người bị thương
nặng, đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng… thì
cũng yêu cầu phải có “sổ hộ khẩu”. Do đó,
những lao động di cư cũng gặp không ít
khó khăn do việc tiến hành những đề nghị
này được thực hiện từ cơ sở (trưởng thôn)
và thường ưu tiên đối với người dân có hộ
thống kê khoảng 44,3% người di cư chưa khẩu thường trú6.
2 Tuệ Văn, “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội”, http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Nang-cao-
hieu-qua-cong-tac-tro-giup-xa-hoi/388072.vgp, truy cập ngày 06/02/2021.
3 Điều 20 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Người khuyết tật.
4 Hà Giang, “Những “góc khuất” của cuộc di cư nội địa”, http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-7330-nhung-
goc-khuat-cua-cuoc-di-cu-noi-dia.html, truy cập ngày 01/02/2021.
5 Khoản 3, khoản 4 Điều 8 và Điều 12 Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ
xã hội (theo văn bản hợp nhất số: 762/2019/VBHN-BLĐTBXH).
6 Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 10 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
Số 08(432) - T4/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Nhận diện rào cản pháp lý trong việc
thực hiện quyền tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản của lao động di cư nội địa
các trung tâm kinh tế lớn tìm việc làm nên
các trường học ở những nơi này đều quá tải.
Vì vậy, các trường học thường ưu tiên nhập
học đối với học sinh có hộ khẩu thường trú
tại địa phương, nếu còn khả năng tiếp nhận
mới nhận học sinh có hộ khẩu “tạm trú”
hay “trái tuyến”. Do đó, con của lao động
di cư nội địa sẽ phải đăng ký cho con học
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở… ở các
trường tư thục với mức chi phí học tập cao
hơn nhiều so với trường công lập. Nhiều
trường hợp lao động di cư không đủ điều
kiện kinh tế và điều kiện chăm sóc con nên
đành để con cho ông/bà hoặc người thân
nuôi dưỡng ở quê.
Trong năm 2013 có khoảng 62% dân số
là lao động dễ bị tổn thương, bao gồm nhiều
người di cư nội địa tạm thời, đặc biệt là khi
họ được xếp loại là người dân tạm trú7. Đây
là rào cản khó khăn đối với lao động di cư
khi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như:
giáo dục, y tế, nước sạch, điện… Theo kết
quả nghiên cứu của Tổ chức Oxfam tại Việt
Nam, người lao động di cư cũng phải trả chi
phí kép do không có hộ khẩu tại nơi đến,
đặc biệt là các chi trả cho những dịch vụ xã
hội cơ bản như: Y tế, giáo dục, nhà ở, điện
nước sinh hoạt cao hơn hẳn so với dân cư
địa phương, thậm chí họ bị loại ra khỏi các
chương trình giảm nghèo, không thể tiếp
cận được các chương trình vay vốn tạo việc
làm8. Những vấn đề khó khăn trong việc
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản là do các
rào cản pháp lý sau đây:
Đối với học sinh tiểu học, Luật Giáo dục
năm 2019 quy định học sinh tiểu học trong
cơ sở giáo dục công lập không phải đóng
học phí; ở địa bàn không đủ trường công
lập, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục
tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học
phí, mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh quyết định10. Như vậy, mức hỗ trợ đóng
học phí cho học sinh tiểu học học tại các
cơ sở giáo dục tư thục giữa các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương là khác nhau,
phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng dân
nhân tỉnh, thành đó. Ví dụ: Hội đồng nhân
dân tỉnh Bình Định quyết định hỗ trợ tiền
đóng học phí cho học sinh cấp tiểu học đang
học tại các cơ sở giáo dục tư thục trên địa
bàn tỉnh trong năm học 2020-2021, với mức
Một là, quy định về đăng ký học tập và
miễn, giảm học phí cho con của lao động di
cư nội địa. Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về
quyền học tập của trẻ em như sau: “Được
học ở một trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục
khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu
học tại nơi cư trú; được chọn trường ngoài
nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp
nhận”9. Tuy nhiên, do một lượng lớn người
lao động di cư nội địa đến các thành thị hoặc hỗ trợ là 110.000 đồng/tháng/học sinh; thời
7 Bộ LĐTB&XH, UNDP (2016), “Tổng quan và đề xuất đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội Việt Nam”, tr.5.
8 Kim Thanh, “Lao động di cư phi chính thức: Khó tiếp cận các dịch vụ xã hội”, http://dangcongsan.vn/xa-hoi/
lao-dong-di-cu-phi-chinh-thuc-kho-tiep-can-cac-dich-vu-xa-hoi-362479.html.
9 Điều 42 Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ
Trường Tiểu học.
10 Khoản 3 Điều 98 Luật Giáo dục năm 2019.
18
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gian hỗ trợ: không quá 9 tháng/năm học11. hiểm y tế (BHYT) toàn dân. Theo Ban Quản
Quy định này phần nào hỗ trợ được những
khó khăn về tài chính đối với con của lao
động di cư nội địa, đặc biệt là lao động di
cư nội địa.
lý Thu - Sổ, Thẻ Bảo hiểm xã hội Việt Nam,
đến ngày 20/11/2020, số người tham gia
BHYT trên toàn quốc là 86,35 triệu người,
đạt tỷ lệ khoảng 89,2% dân số tham gia
BHYT15. Như vậy, chúng ta vẫn còn 10,8%
dân số chưa tham gia BHYT. Theo kết quả
điều tra của OXFAM tại Việt Nam, nguyên
nhân dẫn đến người lao động di cư sử dụng
thẻ BHYT thấp là “không thuận tiện về thời
gian, chờ đợi lâu, bất tiện trong đi lại, thủ
tục hành chính phức tạp, cộng với thời gian
phải dành cho lao động kiếm sống”16. Theo
một nghiên cứu khác, lao động di cư, đặc
biệt là lao động di cư phi chính thức tại Việt
Nam khó có khả năng tham gia BHYT hộ
gia đình và khả năng tiếp cận các dịch vụ y
tế có chất lượng17.
Đối với trẻ em mầm non 05 tuổi và
học sinh trung học cơ sở được miễn học
phí theo lộ trình do Chính phủ quy định12.
Tuy nhiên, Chính phủ hiện nay chưa quy
định lộ trình miễn học phí cho đối tượng
này. Theo kết quả điều tra năm 2015 của
Tổ chức OXFAM tại Việt Nam, trẻ em di
cư theo cha mẹ thiệt thòi hơn trẻ em không
di cư trong việc tiếp cận giáo dục 21,2%
trong tổng số 52 trẻ được khảo sát trong độ
tuổi từ 6 -14 tuổi theo cha mẹ là người lao
động di cư sinh sống tại nơi đến không đi
học13. Ở cấp trung học cơ sở và trung học
phổ thông, theo số liệu điều tra năm 2019,
có tới 83,9% trẻ em không di cư trong độ
tuổi 11-18 đang đi học nhưng chỉ có 55,7%
trẻ em di cư ngoại tỉnh trong nhóm nhóm
tuổi này đang đi học14.
Từ ngày 01/01/2016, Luật BHYT đã
quy định về thông tuyến khám, chữa bệnh
đối với bệnh viện tuyến huyện trong cùng
địa bàn tỉnh18 và từ ngày 01/01/2021 đã áp
dụng thông tuyến điều trị nội trú cho người
tham gia BHYT khi tự đi khám bệnh, chữa
Hai là, quy định về dịch vụ bảo hiểm y tế.
Nhà nước đã có chính sách để thực hiện bảo bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám
11 Điều 1 Quyết định số 49/2020/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
quy định mức hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh tiểu học trong các cơ sở giáo dục tư thục trên địa bàn tỉnh
Bình Định.
12 Khoản 5 Điều 98 Luật Giáo dục năm 2019.
13 Chương trình Quyền Lao động của OXFAM tại Việt Nam (2015), Báo cáo tóm tắt: “Rào cản pháp luật và
thực tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội”, Nxb. Hồng Đức, năm 2015, tr.32.
14 Bảo Hiệp, “Đảm bảo người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội”, http://baobao hiemxahoi.
vn/vi/tin-chi-tiet-dam-bao-nguoi-di-cu-duoc-tiep-can-day-du-va-cong-bang-cac-dich-vu-xa-hoi-e120f22c.aspx.
15 Minh Anh (2020), “Nhiều dư địa mở rộng số người tham gia bảo hiểm y tế”, https://tapchitaichinh.vn/bao-
hiem/nhieu-du-dia-mo-rong-so-nguoi-tham-gia-bao-hiem-y-te.
16 Chương trình Quyền Lao động của Oxfam tại Việt Nam (2015) Báo cáo tóm tắt: “Rào cản pháp luật và thực
tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội”, Nxb. Hồng Đức, năm 2015, tr.34.
17 TS. Nguyễn Thanh Huyền và TS. Phạm Thị Thúy Nga (2020), “Nhận diện các rào cản pháp lý trong việc thực
hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động di cư nội địa và một số khuyến nghị”, Tạp chí
Lao động và Xã hội số 632 năm 2020, tr.2-4.
18 Điểm c khoản 3 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014.
Số 08(432) - T4/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
cả nước19. Quy định này đã tạo điều kiện của họ. Để giải quyết vấn đề này, khoản 5
cho mọi người tham gia BHYT, đặc biệt Điều 1 Thông tư số 25/2018/TT-BCT ngày
là lao động di cư có thẻ BHYT có cơ hội 12/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều
được tiếp cận dịch vụ y tế do BHYT chi trả. của Thông tư số 16/2014/TT-BCT ngày
Tuy nhiên, quy định này vẫn còn hạn chế 29/5/2014 của Bộ Công thương quy định,
là mới chỉ thông tuyến khám, chữa bệnh chủ nhà kê khai được đầy đủ số người sử
đối với bệnh viện tuyến huyện trong cùng dụng điện thì Bên bán điện có trách nhiệm
địa bàn tỉnh của người có thẻ BHYT chứ cấp định mức cho chủ nhà căn cứ vào sổ
không phải thông tuyến bệnh viện huyện tạm trú hoặc chứng từ xác nhận tạm trú
trên phạm vi cả nước. Đối với bệnh viện của cơ quan công an quản lý địa bàn; cứ 4
tuyến tỉnh, BHYT chỉ chi trả đối với trường người được tính là một hộ sử dụng điện để
hợp điều trị nội trú chứ không chi trả đối tính số định mức áp dụng giá bán lẻ điện
với trường hợp khám, chữa bệnh ngoại trú. sinh hoạt; cụ thể: 01 người được tính là 1/4
Do đó, khi mắc các bệnh thông thường, lao định mức, 02 người được tính là 1/2 định
động di cư dù có thẻ BHYT cũng vẫn phải mức, 03 người được tính là 3/4 định mức,
bỏ tiền túi để khám, chữa bệnh chứ không 04 người được tính là 1 định mức. Đối với
dùng được thẻ BHYT vì khám bệnh không quyền tiếp cận dịch vụ nước sạch sinh hoạt,
đúng tuyến.
đa số lao động di cư được tiếp cận nước
sạch sinh hoạt, theo số liệu thống kê, tỷ lệ
hộ dân sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là
97,4%, trong đó 52,2% hộ sử dụng nguồn
nước máy22. Tuy nhiên, đa số lao động di
cư thuê nhà để ở đều phải trả tiền nước máy
sinh hoạt với giá cao do chủ nhà trọ quyết
định mà chưa có quy định về ưu đãi giá
nước máy sinh hoạt như giá điện.
Ba là, quy định về dịch vụ điện, nước
sạch sinh hoạt. Dịch vụ điện, nước sạch
sinh hoạt gắn liền với điều kiện về nhà ở.
Theo kết quả nghiên cứu chuyên sâu Tổng
điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thì gần
một nửa người di cư phải đi thuê/mượn nhà
để ở20 và điều kiện ở và sinh hoạt của hộ
dân cư nói chung cũng được cải thiện rõ
rệt, có 99,4% hộ sử dụng điện lưới thắp
Bốn là, quy định về việc tiếp cận vay
sáng21. Tuy nhiên, trong thực tế, tình trạng vốn xóa đói, giảm nghèo. Theo quy định
lao động di cư thuê nhà để ở thường phải thì người vay là hộ nghèo phải có địa chỉ
trả chi phí điện sinh hoạt theo giá lũy tiến cư trú hợp pháp23 và phải có trong danh
19 Khoản 6 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014
/vi/tin-chi-tiet-dam-bao-nguoi-di-cu-duoc-tiep-can-day-du-va-cong-bang-cac-dich-vu-xa-hoi-e120f22c.aspx.
21 Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2019), “Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở
năm 2019”, Nxb. Thống Kê, tháng 12/2019, tr.151.
22 Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2019), “Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở
năm 2019”, Nxb. Thống Kê, tháng 12/2019, tr.153.
23 Được hiểu là phải có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay (hướng
dẫn nghiệp vụ cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội).
20
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
sách hộ nghèo được Ủy ban nhân dân cấp mức hỗ trợ học phí cho học sinh tiểu học
xã quyết định theo chuẩn nghèo do Bộ tại các trường không phải công lập do Hội
Lao động - Thương binh và Xã hội công đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mà thống
bố, được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, nhất chung trên phạm vi cả nước; ban hành
lập thành danh sách có xác nhận của Ủy văn bản hướng dẫn lộ trình miễn học phí
ban nhân dân cấp xã24. Hộ nghèo vay vốn cho trẻ em mầm non 05 tuổi và học sinh
không phải thế chấp tài sản25. Tuy nhiên, trung học cơ sở.
đối với lao động di cư khá khó để tiếp cận
Ba là, sửa đổi Luật BHYT theo hướng
được vốn vay xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
thông tuyến khám chữa bệnh BHYT tại
là di cư tới các thành phố lớn và trong thực
các bệnh viện tuyến huyện trên phạm vi cả
tiễn còn khá nhiều dân “nghèo” thành thị
nước nhằm đảm bảo quyền lợi của người
chưa được xóa đói, giảm nghèo26.
tham gia BHYT, đặc biệt là lao động di cư
3. Một số kiến nghị đảm bảo quyền được tham gia BHYT.
trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã
Bốn là, xây dựng chính sách phù hợp để
hội của lao động di cư nội địa
mọi người nghèo, dù là người không di cư
Một là, sửa đổi các quy định liên quan hay người di cư đều có cơ hội được tiếp cận
đến điều kiện phải có “sổ hộ khẩu” để làm với nguồn vốn ưu đãi, không cần thế chấp
thủ tục hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên để xóa đói, giảm nghèo.
của các đối tượng. Nhà nước cần có hệ thống
Năm là, tăng cường giám sát việc thực
dữ liệu về những đối tượng được hưởng
hiện quy định về việc thu tiền điện của
trợ giúp xã hội thường xuyên và được liên
người thuê nhà theo giá quy định. Để đảm
thông trên cả nước, không trùng lặp. Nếu họ
bảo việc tăng giá điện sinh hoạt không
di cư cùng gia đình đến bất kỳ địa phương
ảnh hưởng trực tiếp đến những người có
nào thì họ sẽ tiếp tục hưởng chế độ ở tại địa
thu nhập thấp, đặc biệt đối với người di
phương đó; nếu lao động di cư bị rơi vào
cư phải thuê chỗ ở; tăng cường công tác
hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện được hưởng
tuyên truyền để người thuê nhà hiểu đúng
trợ giúp xã hội thường xuyên thì họ cũng có
chính sách về giá điện để bảo vệ quyền lợi
thể đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của mình, cũng như tăng cường xử phạt vi
ngay tại địa phương mà họ di cư đến để thực
phạm hành chính đối với những chủ nhà
hiện quyền an sinh xã hội này.
trọ vi phạm quy định này nhằm đảm bảo
Hai là, ban hành văn bản hướng dẫn thi quyền được tiếp cận dịch vụ xã hội của
hành Luật Giáo dục năm 2019 theo hướng người thuê nhà
24 Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định về tín dụng đối
với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
25 Điều 3 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định về tín dụng đối với người
nghèo và các đối tượng chính sách khác.
26
thi-381052/.
Số 08(432) - T4/2021
21
Bạn đang xem tài liệu "Rào cản pháp lý khi thực hiện quyền được trợ giúp và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của lao động di cư nội địa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
rao_can_phap_ly_khi_thuc_hien_quyen_duoc_tro_giup_va_tiep_ca.pdf

