Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn tại Việt Nam

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XÂY DỰNG, QUẢN LÝ CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA  
VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ  
CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TẠI VIỆT NAM  
Phạm Công Tùng  
ThS. Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Cơ sở dữ liệu quốc gia;  
người có chức vụ, quyền hạn;  
kiểm soát tài sản, thu nhập.  
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia là xu thế chung của thế giới, là  
nhiệm vụ chính trị quan trọng của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích vai trò, các yêu cầu  
đặt ra trong quá trình xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm  
soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và đưa ra một số  
kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phòng, chống  
tham nhũng tại Việt Nam.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 21/02/2021  
: 13/3/2021  
: 16/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: National database;  
persons with high position and  
power; controlling of assets,  
incomes.  
Development and management of the national database is a common trend  
followed by several countries in the world, which is an important political  
task of each country, including Vietnam. In the scope of this article, the  
author focuses on analyzing the role, requirements set out in the process  
of development and management of a national database on the aspect of  
controlling of assets, incomes of persons in high positions, powers and  
also provides a number of recommendations to improve state management  
capacity on anti-corruption in Vietnam.  
History:  
Received  
Edited  
: 21 Feb. 2021  
: 13 Mar. 2021  
: 16 Mar. 2021  
Approved  
1. Vai trò của việc xây dựng, quản lý cơ sở  
dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu  
nhập của người có chức vụ, quyền hạn  
liệu, thông qua đó làm đầu mối giúp Chính  
phủ nắm bắt kịp thời tình hình công tác  
phòng, chống tham nhũng trong cả nước,  
để ra các chủ trương, giải pháp cụ thể.  
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài  
sản, thu nhập được xây dựng và quản lý  
tập trung tại Thanh tra Chính phủ trên nền  
tảng cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống báo  
cáo công tác thanh tra khiếu nại, tố cáo và  
phòng, chống tham nhũng được phân theo  
hệ quản trị, hệ nghiệp vụ. Thanh tra Chính  
phủ chủ trì hoạt động này và phối hợp với  
các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác  
để triển khai xây dựng và quản lý cơ sở dữ  
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài  
sản, thu nhập bao gồm thông tin về bản kê  
khai, kết luận xác minh tài sản, thu nhập và  
các dữ liệu khác có liên quan đến việc kiểm  
soát tài sản, thu nhập theo quy định của  
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 20181.  
Cơ sở pháp lý để thực hiện sáng kiến này  
thể hiện cụ thể trong các văn bản như Luật  
Phòng, chống tham nhũng năm 2018; LuậtAn  
1 Điều 52, Điều 53, Điều 54 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
10  
Số 08(432) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ninh mạng năm 2018; Luật Công nghệ thông  
tin năm 2017; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày  
01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng  
dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng  
yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc  
tế; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 15/4/2015  
của Chính phủ về Ban hành chương trình hành  
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số  
36- NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị  
về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ  
thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững  
và hội nhập quốc tế; Nghị định số 64/2007/  
NĐ-CPngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng  
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của  
cơ quan nhà nước; Nghị định số 47/2020/NĐ-  
CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý,  
kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà  
nước; Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày  
30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài  
sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn  
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Quyết định số  
714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng  
Chính phủ về việc ban hành danh mục cơ sở  
dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền  
tảng phát triển Chính phủ điện tử; Quyết định  
số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ  
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương  
trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông  
tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai  
đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 749/QĐ-  
TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính  
phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi  
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030”; Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg  
ngày 22/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về  
mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức  
phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ,  
ngành, địa phương…  
liệu của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập  
nói chung. Hoạt động này nhằm giải quyết  
mối quan hệ giữa quản trị tốt và phòng, chống  
tham nhũng tại Việt Nam, giúp kiềm chế và  
kiểm soát tham nhũng; tạo cơ sở, điều kiện  
để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà  
nước và phòng, chống tham nhũng; cụ thể là:  
Thứ nhất, tăng cường sự kiểm soát, giám  
sát đối với người có chức vụ, quyền hạn khi  
thực hiện công vụ, nhiệm vụ.  
Bản chất của tham nhũng gắn liền với sự  
lạm dụng quyền lực nhà nước, là sự tha hóa  
của người có chức vụ, quyền hạn trong cả khu  
vực công và tư. Bất cứ chiến lược, cách thức,  
biện pháp phòng, chống tham nhũng nào cũng  
phải nhằm mục đích kiềm chế, ngăn chặn có  
hiệu quả sự lạm dụng quyền lực công. Nếu  
chúng ta kiểm soát tốt thì sẽ phục vụ tốt cho  
công việc quản lý, nó là phương tiện, công  
cụ để tổ chức, quản lý xã hội. Ngược lại, nếu  
chúng ta không kiểm soát tốt nó sẽ bị lạm  
dụng để thu lợi cá nhân. Có nhiều cách thức  
để kiểm soát, giám sát quyền lực công như:  
hoàn thiện chế độ công vụ; xây dựng quy tắc  
ứng xử, quy tắc làm việc; quy định về trách  
nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức,  
quy định về các hoạt động thanh tra, kiểm tra,  
kiểm toán dưới góc độ truyền thống… Trong  
đó, việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc  
gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn có một số ưu điểm vượt  
trội hơn như: tính công khai, minh bạch, chính  
xác về thông tin khi được cập nhật, chuẩn hóa  
bằng dữ liệu điện tử; tính lưu trữ ổn định, an  
toàn của dữ liệu thông tin điện tử; tiết kiệm  
về chi phí và thời gian trong quá trình khai  
thác thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý  
cán bộ, quản lý nhà nước nói chung và phòng,  
chống tham nhũng nói riêng.  
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia  
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn là một trong các hoạt động  
đặc trưng, công cụ gián tiếp, kênh lưu trữ dữ  
Thứ hai, đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở  
dữ liệu quốc gia chung trong quá trình xây  
dựng Chính phủ kiến tạo.  
Số 08(432) - T4/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Dưới góc độ quản lý nhà nước, cơ sở dữ  
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập  
của người có chức vụ, quyền hạn là một trong  
các dữ liệu đầu vào cho việc xây dựng cơ sở  
dữ liệu quốc gia nói chung, phục vụ cho xây  
dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam. Các  
cơ sở dữ liệu trong cơ quan nhà nước đều có  
mối quan hệ liên kết, thống nhất với nhau, có  
thể tham chiếu lẫn nhau và tạo sự nhất quán  
và đồng bộ trong toàn hệ thống các cơ sở dữ  
liệu trong cơ quan nhà nước. Hệ thống cơ sở  
dữ liệu quốc gia xác định phạm vi dựa trên  
dữ liệu và mục đích chứ không chỉ dựa trên  
tên của lĩnh vực, nó giúp phục vụ công tác  
chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng  
Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước, hỗ  
trợ lãnh đạo ra quyết định trên cơ sở thông tin,  
dữ liệu số được hiển thị trực quan; cho phép  
theo dõi, giám sát việc thực hiện các mục tiêu  
phát triển kinh tế, xã hội được Quốc hội giao,  
các chỉ tiêu Chính phủ giao bộ, ngành, địa  
phương. Như vậy, cơ sở dữ liệu quốc gia góp  
phần bảo đảm: tái cấu trúc quy trình; (ii) thực  
hiện chính sách “một cửa”; (iii) chia sẻ và tiêu  
chuẩn hóa dữ liệu; kiểm soát lường trước; (vi)  
đảm bảo sự tham gia của các bên liên quan.  
Thứ ba, tăng cường tính liêm chính, công  
khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.  
Tham nhũng là “hậu quả của sự thiếu hụt  
ba yếu tố gồm trách nhiệm giải trình, sự liêm  
chính và tính minh bạch trong bối cảnh sự  
chuyên quyền, độc đoán và tùy ý hành động  
do thiếu sự kiểm soát của các cơ quan và công  
chức nhà nước”2. Báo cáo Tổng kết 10 năm  
thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng3 của  
Chính phủ trình Quốc hội khóa XIV, kỳ họp  
thứ 4 đã chỉ ra rằng: “Tình trạng lạm dụng bảo  
mật thông tin, thiếu công khai, minh bạch với  
nhân dân và trong nội bộ vẫn diễn ra ở nhiều  
nơi. Trong một số cơ quan, đơn vị, các quy  
định về dân chủ, giám sát chưa được quan  
tâm đúng mức, có nơi thậm chí cản trở, vô  
hiệu hóa, dẫn đến tình trạng vi phạm kéo dài,  
sai phạm nghiêm trọng nhưng không được kịp  
thời phát hiện, xử lý”. Để khắc phục tình trạng  
này, cần phải xây dựng, phát triển các công  
cụ trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông  
tin bảo đảm tính công khai, minh bạch, phân  
quyền, kiểm soát lẫn nhau, nâng cao hiệu quả  
quản lý nhà nước.  
Trong hệ thống các biện pháp phòng  
ngừa tham nhũng thì giáo dục liêm chính  
là biện pháp phòng ngừa mang tính nền  
tảng tạo nên hiệu quả lâu dài và bền vững  
nhất. Việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu  
quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của  
người có chức vụ, quyền hạn sẽ giúp mỗi  
con người tự phòng ngừa từ bên trong, ngăn  
chặn việc nảy sinh hành vi tham nhũng.  
Vấn đề công khai, minh bạch thông tin  
đã trở thành nguyên tắc chung trong tổ chức  
và hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn  
vị, trừ những nội dung thuộc danh mục bí  
mật nhà nước, bí mật kinh doanh và nội  
dung khác theo quy định của pháp luật4. Tuy  
nhiên, nội dung xây dựng, quản lý cơ sở dữ  
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập  
của người có chức vụ, quyền hạn tại Việt  
Nam thì hình thức, phạm vi công khai bị giới  
hạn bởi chủ thể có thẩm quyền yêu cầu, kiến  
nghị xác minh tài sản, thu nhập5 và chủ thể  
có thẩm quyền tiếp cận, khai thác trực tiếp6.  
2
anticorruption/sourcebook_anti.htm.  
3 Báo cáo số 330/BC-CP ngày 22/9/2016 của Chính phủ.  
4 Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
5 Điều 42 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
6 Điều 53, Điều 54 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
12  
Số 08(432) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Trách nhiệm giải trình được đặt ra trong  
trường hợp chủ thể thực hiện công vụ, nhiệm  
vụ được giao phải giải trình về quyết định,  
hành vi của mình khi có yêu cầu của cơ quan,  
tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp  
bởi quyết định, hành vi đó7. Ứng dụng công  
nghệ trong triển khai nội dung này sẽ tăng  
cường trách nhiệm giải trình không chỉ riêng  
cá nhân người có chức vụ, quyền hạn trong  
kê khai tài sản, thu nhập mà còn thúc đẩy các  
cơ quan, các địa phương có trách nhiệm giải  
trình về các vấn đề khác liên quan đến kiểm  
soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ,  
quyền hạn do mình quản lý khi để xảy ra các  
hành vi tham nhũng, tiêu cực.  
Việc thực hiện có hiệu quả công cụ số này  
tạo điều kiện thuận lợi để xem xét, đánh giá, đo  
lường các chỉ số trong công tác phòng, chống  
tham nhũng mà các chủ thể tiến hành trên  
phạm vi cả nước. Điều này giúp cho cơ quan  
có thẩm quyền chủ động phát hiện các sơ hở,  
thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách pháp  
luật nhanh hơn, khoa học, khách quan hơn.  
2. Các yêu cầu đảm bảo việc xây dựng,  
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm  
soát tài sản, thu nhập của người có chức  
vụ, quyền hạn tại Việt Nam  
Thứ nhất, yêu cầu về pháp luật:  
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về  
kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức  
vụ, quyền hạn tại Việt Nam phải đảm bảo tuân  
thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo  
mậtthôngtin;quyềnsởhữutrítuệliênquanđến  
dữ liệu; quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân;  
tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về  
trao đổi dữ liệu, về ứng dụng công nghệ thông  
tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước và các  
nguyên tắc được quy định; tránh xung đột pháp  
luật giữa các văn bản pháp luật quy định trực  
tiếp về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của  
các chủ thể, lực lượng, biện pháp sử dụng trong  
công tác phòng, chống tham nhũng với các văn  
bản pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử  
dụng dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu  
nhập của người có chức vụ, quyền hạn8…  
Giá trị pháp lý của dữ liệu được chia sẻ  
trong thông điệp dữ liệu được xác định theo  
giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu quy định  
tại Mục 1 Chương II Luật Giao dịch điện tử  
và quy định của pháp luật có liên quan9.  
Thứ tư, phục vụ có hiệu quả cho hoạt  
động phát hiện, xử lý tham nhũng của chủ  
thể có thẩm quyền.  
Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập và  
các cơ quan chuyên trách trong phòng, chống  
tham nhũng khác thông qua việc xây dựng,  
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát  
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền  
hạn sẽ dễ dàng truy suất nguồn gốc, thu thập  
chứng cứ liên quan; kiểm tra, đánh giá các diện  
đối tượng có nguy cơ cao tham nhũng, có dấu  
hiệu xung đột lợi ích; xác định tính hợp pháp từ  
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền  
hạn; theo dõi biến động về tài sản, thu nhập  
tăng thêm của người có chức vụ, quyền hạn  
trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ nhằm  
phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ,  
quyền hạn thực hiện hành vi tham nhũng. Đây  
là công cụ pháp lý để phát hiện đúng, có cơ sở,  
tìm ra chứng cứ khách quan, thuyết phục và  
được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế, kiến  
nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.  
Thứ năm, khắc phục nguyên nhân, điều  
kiện làm phát sinh tham nhũng.  
Thứ hai, yêu cầu về mặt xây dựng:  
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài  
sản, thu nhập có thể được xây dựng theo mô  
7 Điều 15 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
8 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức  
vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.  
9 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Thủ tướng chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu  
số của cơ quan nhà nước (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP).  
Số 08(432) - T4/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hình thứ tự ưu tiên là kết nối qua hệ thống  
trung gian hoặc kết nối trực tiếp giữa các  
hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu khi các hệ  
thống trung gian chưa sẵn sàng hoặc cơ quan  
chủ quản các hệ thống trung gian xác định  
hệ thống trung gian không đáp ứng được yêu  
cầu về kết nối, chia sẻ dữ liệu10.  
thông; tính đồng bộ về dữ liệu giữa các cơ sở  
dữ liệu của bộ, ngành, địa phương.  
Thứ ba, yêu cầu về quản lý:  
Quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm  
soát tài sản, thu nhập phải đảm bảo phân  
cấp quản lý theo trách nhiệm quản lý của cơ  
quan nhà nước; lịch sử khai thác, sử dụng  
dữ liệu như thời điểm, hình thức yêu cầu dữ  
liệu, cung cấp dữ liệu; định danh cơ quan  
yêu cầu khai thác dữ liệu; nội dung yêu cầu;  
trạng thái đáp ứng yêu cầu; nội dung dữ liệu  
đã chia sẻ (nếu cần thiết); các thông tin cần  
thiết khác làm cơ sở đối chiếu giải quyết  
các vướng mắc khi sử dụng dữ liệu; thời  
gian lưu trữ phải được lưu trữ trên hệ thống  
làm căn cứ đối chiếu, giải quyết các vấn đề  
về việc sử dụng dữ liệu sau khi khai thác 13.  
Cơ quan cung cấp có quyền chấm dứt việc  
kết nối, chia sẻ dữ liệu qua môi trường mạng  
cho cơ quan khai thác dữ liệu khi mục đích  
đăng ký sử dụng không phù hợp; yêu cầu  
đăng ký khai thác không đúng theo quy định  
của pháp luật; việc kết nối không thể khôi  
phục do sự cố hoặc do điều kiện khách quan  
mà cơ quan cung cấp dữ liệu không thể tiếp  
tục duy trì các dịch vụ chia sẻ dữ liệu; kết nối,  
chia sẻ có khả năng mất an toàn, an ninh14…  
Việc chia sẻ dữ liệu được lựa chọn thực hiện  
qua hai hình thức là chia sẻ dữ liệu mặc định và  
chia sẻ dữ liệu theo yêu cầu đặc thù đáp ứng tất  
cả các trường hợp chia sẻ dữ liệu thực tế. Chủ  
thể có yêu cầu khai thác, sử dụng dữ liệu phải  
sử dụng tài khoản kết nối với hình thức định  
danh và xác thực phù hợp cho cơ quan, tổ chức  
có nhu cầu kết nối theo quy định của pháp luật,  
trừ trường hợp chia sẻ dữ liệu không yêu cầu  
Tạo lập thông tin dữ liệu phải sử dụng thống  
nhất các bảng mã danh mục dùng chung, thống  
nhất với dữ liệu chủ do cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền ban hành11; mô tả mục đích, phạm  
vi, nội dung của từng cơ sở dữ liệu; cơ chế thu  
thập, cập nhật, nguồn dữ liệu được thu thập của  
từng cơ sở dữ liệu; liệt kê các hạng mục dữ liệu  
được chia sẻ theo hình thức chia sẻ dữ liệu mặc  
định, dữ liệu được chia sẻ theo hình thức chia  
sẻ dữ liệu theo yêu cầu đặc thù của từng cơ sở  
dữ liệu tương ứng với từng đối tượng khai thác,  
sử dụng; phải được cập nhật theo nhu cầu ứng  
dụng công nghệ thông tin của từng giai đoạn  
phát triển Chính phủ điện tử hoặc khi có đề nghị  
của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc  
Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung  
ương; dữ liệu đảm bảo giá trị pháp lý tương  
đương các văn bản giấy chứa thông tin được  
cơ quan có thẩm quyền cung cấp; phù hợp với  
Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam12.  
Công cụ quản lý số được xây dựng phải có  
các chức năng cơ bản như quản lý tập trung cơ  
sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu  
nhập; hỗ trợ các cơ quan cung cấp dữ liệu khai  
báo, cập nhật thông tin; hỗ trợ cơ quan nhà  
nước tìm kiếm, tiếp cận và khai thác; hỗ trợ  
tiếp nhận yêu cầu kết nối, khai thác. Ngoài ra,  
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt  
động này cần đảm bảo các yêu cầu về tính liên  
10 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.  
11 Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg ngày 22/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về mã định danh điện tử của các cơ  
quan, tổ chức phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành, địa phương.  
12 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.  
13 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP  
14 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.  
14  
Số 08(432) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
xác thực cơ quan khai thác dữ liệu (đã thể hiện  
trong quy chế khai thác, sử dụng dữ liệu chia sẻ  
đã ban hành). Ngoài ra, phải chỉ định và công  
khai thông tin về đầu mối phụ trách kết nối,  
chia sẻ dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,  
thu nhập ở các cấp quản lý15.  
hình thức cập nhật dữ liệu; kế hoạch cập nhật  
dữ liệu, bộ tiêu chí đánh giá về mức độ hoàn  
thành nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ  
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập  
của các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập;  
quy định về bảo vệ thông tin cá nhân; quy  
định về việc thực hiện thủ tục hành chính trên  
môi trường điện tử; quy định về phối hợp giữa  
Thanh tra Chính phủ và các cơ quan kiểm soát  
tài sản khác, các cơ quan khác được pháp luật  
quy định trong khai thác, sử dụng dữ liệu quốc  
gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người  
có chức vụ, quyền hạn.  
Thứ tư, yêu cầu khác:  
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia  
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ quyền hạn phải tận dụng được nguồn  
nhân lực có chất lượng tại chỗ đang thực hiện  
quản lý, vận hành các hệ thống thông tin và  
các nguồn khác theo quy định của pháp luật.  
Kinh phí bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu phải  
được dự toán trong kinh phí quản lý, vận hành  
và duy trì các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu  
và được cân đối từ nguồn kinh phí chi thường  
xuyên ngân sách nhà nước hàng năm theo  
phân cấp ngân sách (kinh phí thực hiện nhiệm  
vụ không thường xuyên, không thực hiện chế  
độ tự chủ) của cơ quan nhà nước.  
Thứ hai, Thanh tra Chính phủ cần  
khẩn trương:  
- Phối hợp với các cơ quan kiểm soát tài  
sản và các cơ quan liên quan khác rà soát nhu  
cầu, quy định, điều kiện cần thiết và các hoạt  
động cần thực hiện để xây dựng và quản lý  
cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn;  
- Xây dựng chương trình, kế hoạch thực  
hiện, kế hoạch kiểm tra, đánh giá dữ liệu  
theo từng giai đoạn trình Chính phủ;  
3. Một số kiến nghị  
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo,  
chỉ đạo của Chính phủ đối với các cơ quan  
kiểm soát tài sản thu nhập, đặc biệt là vai trò  
chủ trì trong xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu  
quốc gia về tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn từ phía Thanh tra Chính  
phủ. Chính phủ cần tập trung hoàn thiện thể  
chế để tạo hành lang pháp lý cho ban hành  
các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện.  
Sau khi Nghị định số 130/2020/NĐ-CP  
ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát  
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền  
hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được thông  
qua, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo xây dựng,  
ban hành quy chế quản lý, vận hành, khai thác  
cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn;  
quy định nhằm nâng cao tính pháp lý của lưu  
trữ điện tử; xây dựng các quy định cụ thể về  
- Dự kiến các tình huống phát sinh trong  
quá trình xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu  
quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của  
người có chức vụ, quyền hạn và dự kiến  
giải pháp khắc phục;  
- Tham mưu, đề xuất với Chính phủ  
nghiên cứu áp dụng phương án là thuê  
doanh nghiệp đầu tư trên cơ sở đặt hàng  
của Nhà nước và Nhà nước thuê lại để giải  
quyết vấn đề nguồn vốn.  
Thứ ba, các cơ quan kiểm soát tài sản,  
thu nhập cần nâng cao tinh thần trách nhiệm  
trong công tác tự kiểm tra, đánh giá, báo cáo  
khi xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia  
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn  
15 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.  
Số 08(432) - T4/2021  
15  
pdf 6 trang Thùy Anh 11040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_quan_ly_co_so_du_lieu_quoc_gia_ve_kiem_soat_tai_san.pdf