Xung đột giữa quyền tiếp cận thông tin KH&CN với bảo hộ quyền tác giả tiếp cận dưới giác độ pháp luật

DOI: 10.31276/VJST.63(10).46-51  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Xung đột giữa quyền tiếp cꢀn thông tin KH&CN với bảo hộ quyền tác giả  
tiếp cꢀn dưới giác độ pháp luꢀt  
Lê Tùng Sơn1*, Trần Văn Tiến2  
1Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  
2Học viện Hành chính Quốc gia  
Ngày nhận bài 26/7/2021; ngày chuyển phản biện 30/7/2021; ngày nhận phản biện 30/8/2021; ngày chấp nhận đăng 7/9/2021  
Tóm tắt:  
Quyền tiếp cꢀn thông tin (TCTT) khoa học vꢁ công nghệ (KH&CN) vꢁ quyền tác giả (QTG) lꢁ hai chế định pháp  
luꢀt cꢂ vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tạo nền tảng đꢃ thꢄc hiện các quyền con ngưꢅi, quyền  
công dân khác như: học tꢀp, nghiên cꢆu khoa học, tiếp cꢀn vꢁ thụ hưởng các giá trị văn hꢂa, tham gia vꢁo đꢅi sống  
văn hꢂa tinh thần. Đồng thꢅi, tạo động lꢄc thúc đẩy phát triꢃn xꢇ hội học tꢀp vꢁ nền kinh tế tri thꢆc. Tuy vꢀy, trên  
thꢄc tế, qua nghiên cꢆu về thꢄc trạng pháp luꢀt hiện hꢁnh, hai chế định pháp luꢀt nꢁy đang cꢂ những xung đột nhất  
định. Trên cơ sở phân tích thꢄc trạng pháp luꢀt vꢁ nhꢀn diện những xung đột hiện hữu giữa quyền TCTT KH&CN  
với bảo hộ QTG, bꢁi viết đề xuất giải pháp chính sách nhằm khắc phục những xung đột trên.  
Từ khóa: bảo hộ quyền tác giả, quyền tiếp cꢀn thông tin, sở hữu trí tuệ, thông tin KH&CN.  
Chỉ sꢀ phân loại: 5.5  
Trên cơ sở khái quát thực trạng pháp luật về quyền TCTT KH&CN  
và QTG, bài viết nhận diện xung đột của hai chế định này, đồng thời  
đưa ra những quan điểm tiếp cận và giải pháp để giải quyết những  
xung đột. Do đó, những câu hꢁi nghiên cứu sau cần được trả lời: xung  
đột về quyền TCTT KH&CN với bảo hộ QTG có biểu hiện như thế  
nào và tác động của nó? Cần có những tiếp cận và điều chỉnh trong  
hệ thống pháp luật về QTG và quyền TCTT KH&CN như thế nào để  
khắc phục những xung đột này?  
Mở đầu  
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên thông tin và tri thức với sự  
biến đổi không ngừng của KH&CN, đặc biệt dưới tác động của cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số. Thông tin,  
tri thức đã và đang phát huy vai trò như một động lực trong việc hỗ  
trợ học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới, thúc đẩy phát triển kinh  
tế - xã hội của mỗi quốc gia. Quyền TCTT nói chung, TCTT KH&CN  
nói riêng đã trở thành một chế định quan trọng có sự ảnh hưởng, tác  
động đến các quyền học tập, nghiên cứu khoa học, hưởng thụ các giá  
trị văn hóa, sáng tạo và các quyền con người, quyền công dân khác.  
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc thực thi quyền TCTT của công dân  
có sự đa dạng, trong đó, tiếp cận thông qua môi trường số được dự báo  
tương lai sẽ là phương thức chủ yếu. Để đáp ứng yêu cầu này, việc tạo  
dựng khung pháp lý trong TCTT, trong đó giải quyết thấu đáo những  
vấn đề liên quan đến bảo hộ QTG được đặt ra.  
Pháp luật về quyền TCTT KH&CN và bꢀo hộ QTG ở Việt Nam  
Quyền TCTT KH&CN  
Thông tin KH&CN giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển  
KH&CN và đổi mới của mỗi quốc gia. Thông tin KH&CN được hiểu  
là những dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt  
động KH&CN, đổi mới sáng tạo được chắt lọc, tổng hợp thành tri  
thức khoa học, được thể hiện dưới các phương thức khác nhau như  
ngôn ngữ, ký hiệu, hình ảnh và các phương thức khác tác động đến  
giác quan của con người nhằm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu,  
phát triển bản thân và các nhu cầu khác liên quan đến việc trau dồi  
tri thức của người sử dụng.  
QTG là một chế định có tác động đến sự sáng tạo và tôn vinh  
những đóng góp về văn học, nghệ thuật, khoa học và các lĩnh vực  
khác thuộc sự bảo hộ của QTG đối với cá nhân. Tiếp cận từ tổng thể  
hệ thống pháp luật, quyền TCTT và QTG có sự thống nhất, giao thoa  
và xung đột với nhau. Sự xung đột này được nhận diện do triết lý của  
hai chế định pháp luật này hướng đến, nếu như quyền TCTT nhấn  
mạnh việc bảo đảm cho mọi công dân được tiếp cận với thông tin,  
tri thức ở một phổ rộng, thì bảo hộ QTG nhấn mạnh vai trò và những  
lợi ích về mặt vật chất và tinh thần mang lại cho từng cá nhân trong  
hoạt động sáng tạo, đặc biệt là việc tạo ra tri thức cho cộng đồng. Khi  
đó, trong nhiều trường hợp, đặc biệt trong môi trường số sẽ gặp phải  
xung đột về lợi ích của chủ thể sáng tạo với nhu cầu được tiếp cận và  
sꢀ dụng những tri thức này của cộng đồng. Điều đó đòi hꢁi cần có sự  
điều chỉnh của pháp luật, để vừa bảo đảm những quyền lợi cho người  
sáng tạo, vừa bảo đảm quyền TCTT của cộng đồng.  
Thông tin KH&CN được thể hiện ở nhiều dạng vật mang tin khác  
nhau, trong nghiên cứu này xem xét thông tin KH&CN được thể hiện  
dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học và các dạng ấn phẩm khoa học  
(sau đây gọi chung là tác phẩm khoa học) với các hình thức thể hiện  
dưới dạng in, số và những dạng khác. Trong bối cảnh công nghệ thông  
tin và chuyển đổi số, việc TCTT KH&CN dạng số thông qua các công  
cụ hỗ trợ như máy tính, internet… được xem là phương thức tiếp cận  
chủ đạo và được nhận diện cụ thể trong nghiên cứu.  
Nghiên cứu về quyền TCTT KH&CN không thể không nhꢂc tới  
quyền TCTT với vai trò là một thành tố quan trọng trong quyền cơ bản  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
63(10) 10.2021  
46  
Khoa học xã hội và nhân văn  
đề: thừa nhận và bảo đảm quyền TCTT KH&CN của công dân.  
The conflict between the right to  
access S&T information and copyright  
protection from a legal perspective  
Việc thừa nhận quyền TCTT KH&CN (nói chung) được quy định  
tại Điều 25 của Hiến pháp2; Luật TCTT 2016 cùng các văn bản hướng  
dẫn thi hành đã cụ thể hóa các quyền này. Theo đó: (i) Mọi công dân  
đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền  
TCTT; (ii) Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi  
cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Nhà  
nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở  
khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã  
hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền TCTT. Điều 8 của Luật này  
cũng quy định, công dân có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ,  
chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp  
luật về TCTT.  
Tung Son Le1*, Van Tien Tran2  
1Ministry of Culture, Sports and Tourism  
2National Academy of Public Administration  
Received 26 July 2021; accepted 7 September 2021  
Abstract:  
The right to access scientific and technological (S&T)  
information and copyright are two important legal  
institutions that play an important role in promoting  
creative activities, creating a foundation for the  
realisation of human and civil rights (such as the right  
to study and research; the right to access and enjoy  
cultural values, and the right to participate in spiritual  
and cultural life), and creating a driving force to promote  
the development of a learning society and a knowledge  
economy. However, in fact, through research on the  
current legal situation, these two legal institutions are  
having certain conflicts. On the basis of analysing the  
legal situation and identifying existing conflicts between  
the right to access science and technology information  
and copyright, the article proposes policy solutions to  
overcome these conflicts.  
Ngoại lệ của việc thực hiện quyền TCTT cũng được quy định tại  
các khoản 4 và 5 Điều 3 của Luật TCTT. Theo đó: (i) Việc hạn chế  
quyền TCTT phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do  
quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội,  
sức khỏe của cộng đồng; ii) Việc thực hiện quyền TCTT của công dân  
không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp  
pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác.  
Việc bảo đảm quyền TCTT được cụ thể hóa bằng các quy định  
của Hiến pháp và Luật TCTT, được thể hiện trong các quy định của  
pháp luật chuyên ngành có liên quan đến các thiết chế đảm bảo quyền  
TCTT KH&CN như: Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 của  
Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, trong đó Điều 32 quy  
định về quyền của tổ chức và cá nhân khai thác thông tin KH&CN:  
được cung cấp thông tin KH&CN nhằm phục vụ nhu cầu hợp pháp  
của mình; được TCTT KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước phù  
hợp với quy định của pháp luật; Luật Thư viện 2019, tại Điều 24 quy  
định: lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm; tạo lập môi trường  
thân thiện, bình đẳng; bảo đảm quyền tiếp cận và sử dụng thư viện của  
tổ chức cá nhân; bảo đảm thực hiện quyền TCTT và sử dụng thư viện  
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên  
quan và quy chế, nội quy của thư viện… Trong quy định về việc tiếp  
cận tài nguyên thông tin của thư viện, Luật Thư viện cũng nhắc đến  
các yêu cầu của pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), bảo vệ bí mật nhà  
nước và các quy định pháp luật khác có liên quan.  
Keywords: copyright protection, intellectual property,  
right to access information, S&T information.  
Classification number: 5.5  
của con người. Trong nghiên cứu của Adrian Vasile Cornescu (2009)  
[1] đã xác định 4 quyền con người, trong đó quyền TCTT được xếp  
trong nhóm quyền dân sự và chính trị. Mặt khác, quyền này cũng được  
Luật Nhân quyền quốc tế thừa nhận và xác định trong Tuyên ngôn  
quốc tế nhân quyền năm 19481. Tại Việt Nam, Điều 69 Hiến pháp  
năm 1992 gọi đó là “quyền được thông tin”, Hiến pháp năm 2013 gọi  
là “quyền TCTT” và đã có những quy định thừa nhận quyền này như  
một quyền cơ bản của công dân, được pháp luật bảo đảm thực thi.  
Ngoài ra, việc cụ thể hóa và bảo đảm quyền TCTT còn được nhắc  
đến tại khoản 4 Điều 10 Luật Báo chí 2016 với việc quy định TCTT  
báo chí là một trong các nội dung của quyền tự do báo chí. Tuy vậy,  
trong phạm vi của nghiên cứu, tác giả tập trung đánh giá việc bảo đảm  
quyền TCTT KH&CN, được hình thành thông qua hoạt động nghiên  
cứu khoa học, thuộc nhóm đối tượng: tác phẩm khoa học, sách giáo  
khoa, giáo trình và các tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ  
viết hoặc ký tự khác, bài giảng, công trình khoa học được bảo hộ  
QTG.  
Quyền TCTT KH&CN là một bộ phận trong quyền TCTT của  
công dân, được xác định là quyền công dân được tìm kiếm, tiếp nhận,  
thu thập, sử dụng và trao đổi thông tin KH&CN; quyền được sử dụng  
các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN từ các thiết chế cung ứng  
thông tin KH&CN trên nguyên tắc tự do, bình đẳng trong tiếp cận [2].  
Bảo hộ QTG  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT, QTG là quyền  
của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở  
hữu. Cũng có thể hiểu QTG là quyền của các chủ thể trực tiếp sáng  
tạo hoặc là chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ  
Tại Việt Nam, quyền TCTT được thể chế hóa trong nhiều văn bản  
quy phạm pháp luật khác nhau, với những nội dung hướng đến 2 vấn  
1Tại Điều 19 của Tuyên ngôn khẳng định: mọi người đều có quyền tự do ngôn  
luận và bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không  
có sự can thiệp, tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin.  
2Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, TCTT, hội họp, lập hội,  
biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.  
47  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
thuật, khoa học, được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức  
nào (sau đây gọi chung là tác phẩm) [3-5]. Trong đó: (1) Chủ thể của  
QTG bao gồm cá nhân, các cá nhân trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm;  
tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu tác phẩm3; (2) Khách thể của QTG là  
các tác phẩm do cá nhân hoặc các cá nhân trực tiếp sáng tạo; (3) Nội  
dung các QTG bao gồm: (i) Quyền nhân thân gồm các quyền: đặt tên  
cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác  
phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, trong đó quyền công bố tác  
phẩm được xem là quyền gắn với quyền tài sản và có thể chuyển giao;  
(ii) Quyền tài sản gồm các quyền: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn  
tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối, nhập khẩu  
bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, truyền đạt tác phẩm đến công chúng,  
cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh, chương  
trình máy tính.  
cho họ một động lực cho việc sáng tạo và đổi mới, đồng thời bảo đảm  
cho công chúng có thể tiếp cận thành công thành quả và nỗ lực của họ.  
Trong các công trình nghiên cứu năm 2016 và 2019 của mình,  
Peter K. Yu [8, 9] đã nêu bật những ràng buộc, tương tác phức tạp giữa  
các sản phẩm khoa học, SHTT và nhân quyền. Đồng thời đưa ra quan  
điểm lấy việc thiết lập quyền con người đối với SHTT làm điểm khởi  
đầu, đi kèm với nó là 4 lớp cấu trúc trong khuôn khổ quyền con người  
gồm: sản xuất, lợi nhuận, sự bảo hộ và những giới hạn. Gabriele Spina  
Ali (2020) [10] đã nghiên cứu, phân loại những tương tác giữa quyền  
SHTT và quyền con người, trong đó tác giả đã đưa ra phương pháp  
phân loại tổ chức các mối quan hệ tương tác giữa quyền con người và  
SHTT, với 3 mô hình tương tác chính là: “công nhận” diễn ra khi luật  
nâng quyền SHTT lên thứ hạng của quyền con người; “xung đột” khi  
quyền SHTT và quyền con người giao thoa với nhau; “hợp tác” khi  
chúng hiệp đồng vận hành.  
Nền tảng pháp lý cơ bản của bảo hộ QTG được nhấn mạnh trong  
các Điều 40, 41 và 62 của Hiến pháp 2013. Trong đó, QTG gắn với  
các quyền nghiên cứu KH&CN, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ  
hưởng lợi ích từ những hoạt động này (đối với chủ thể sáng tạo),  
quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống  
văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (đối với chủ thể thụ hưởng). Đồng  
thời để bảo đảm thực thi, Nhà nước ưu tiên đầu tư, khuyến khích tổ  
chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng  
có hiệu quả thành tựu KH&CN; bảo đảm quyền nghiên cứu KH&CN,  
bảo hộ quyền.  
Xét về nội hàm của quyền TCTT bao gồm các quyền: tìm kiếm,  
tiếp nhận, thu thập, sử dụng và trao đổi thông tin (tri thức), quyền  
được sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN; các quyền  
này đều liên quan trực tiếp đến khách thể của QTG đó là những sản  
phẩm trí tuệ được cá nhân hoặc các cá nhân trực tiếp sáng tạo trong  
các lĩnh vực khoa học. Trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức,  
việc tiếp cận với các tác phẩm khoa học có vai trò quan trọng đối với  
việc học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới, sản xuất..., góp phần tạo  
ra những tri thức mới, tạo động lực trong phát triển kinh tế - xã hội.  
Bảo hộ QTG được cụ thể hóa trong các quy định tại Phần II Luật  
SHTT năm 2005, sửa đổi và bổ sung năm 2009; Nghị định 22/2018/  
NĐ-CP ngày 23/2/2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi  
hành Luật SHTT năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của  
Luật SHTT năm 2009 về QTG, quyền liên quan (Nghị định 22) và  
một số các quy định khác. Trong đó, tập trung quy định việc xác lập  
QTG (chủ thể, khách thể, nội dung QTG, chứng nhận, đăng ký QTG  
và quyền liên quan), chuyển nhượng, chuyển giao QTG, các hành vi  
xâm phạm QTG và các chế tài xử lý…  
Như vậy, có thể thấy, mối quan hệ giữa quyền TCTT KH&CN và  
QTG được nhận diện ở những khía cạnh đa chiều, bao gồm cả thống  
nhất và xung đột.  
Nhận diện xung đột giữa quyền TCTT với bảo hộ QTG  
Quyền sao chép tác phẩm, phân phối bản sao tác phẩm tạo ra  
rào cản trong việc phát triển tài nguyên thông tin, đặc biệt là tài  
nguyên thông tin dạng số của các thư viện phục vụ quyền tiếp nhận,  
sử dụng thông tin của người sử dụng  
Mối quan hệ giữa quyền TCTT KH&CN với bảo hộ QTG  
Xét trên khꢀa cạnh bảo đảm quyền TCTT KH&CN: sự phát triển  
của công nghệ thông tin cùng xu thế chuyển đổi số đã và đang làm  
thay đổi phương thức TCTT của người sử dụng, xu thế sử dụng các  
nguồn tin KH&CN dạng số đã và đang trở thành một xu thế cần hướng  
đến. Trong đó, các tổ chức thông tin KH&CN như thư viện, trung tâm  
thông tin thư viện (sau đây gọi chung là thư viện) là một trong những  
đối tượng hỗ trợ đắc lực trong việc bảo đảm phục vụ quyền tiếp nhận,  
sử dụng thông tin của người sử dụng. Tuy vậy, theo quy định về quyền  
sao chép tác phẩm, phân phối bản sao tác phẩm tại điểm c và d khoản  
1 Điều 20 Luật SHTT và khoản 2 Điều 22 Nghị định 22 thì sao chép  
tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu là việc  
sao chép không quá một bản. Thư viện không được sao chép và phân  
phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số. Đây  
là một trong những rào cản đối với hoạt động phát triển tài nguyên  
thông tin dạng số của các thư viện.  
Tại Hội thảo “Quyền SHTT và quyền con người” do Tổ chức  
SHTT thế giới (WIPO) phối hợp với Văn phòng Cao ủy về nhân  
quyền của Liên hợp quốc (OHCHR) tổ chức năm 1998 đã thảo luận  
xoay quanh các vấn đề về nguồn gốc và sự phát triển, quyền SHTT với  
quyền văn hóa, quyền SHTT với sức khỏe con người, quyền SHTT  
với các tri thức truyền thống và những quan điểm về nhân quyền trong  
SHTT, tiến bộ khoa học và tiếp cận các lợi ích từ khoa học [6], từ đây  
có thể khẳng định mối quan hệ thống nhất giữa 2 chế định này trong  
hệ thống pháp luật.  
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa 2 quyền này, Laurence R. Helfer  
(2003) [7] đã đề cập cả 2 khía cạnh sự xung đột và giao thoa giữa  
quyền con người và SHTT nói chung theo 2 hướng tiếp cận cơ bản:  
(i) Tiếp cận từ sự xung đột: cách tiếp cận này cho rằng, việc bảo hộ  
quyền SHTT sẽ khiến giảm đi mức độ hưởng thụ của các quyền con  
người trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa; (ii) Tiếp cận từ  
sự hòa hợp giữa 2 quyền này: tiếp cận này được hình thành trên cơ  
sở xác định phạm vi thích hợp và hài hòa giữa quyền của cá nhân tạo  
Tiếp cận từ hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thư viện, việc tạo ra  
bản sao kỹ thuật số tác phẩm để lưu trữ trong thư viện không mang ý  
nghĩa trong việc phân phối, truyền bá tác phẩm để phục vụ quyền tiếp  
nhận, sử dụng thông tin của người sử dụng. Nội dung này xung đột  
với khoản 3 Điều 31 Luật Thư viện về phát triển thư viện số, khi quy  
định tại Điều 31 hướng đến việc xây dựng thư viện số nhằm khai thác  
3Tác giả sử dụng thuật ngữ “chủ sở hữu tác phẩm” thay cho “chủ sở hữu QTG”  
như trong Luật SHTT hiện nay, do thuật ngữ “chủ sở hữu QTG” chỉ nắm  
quyền tài sản chứ không hề nắm quyền nhân thân.  
63(10) 10.2021  
48  
Khoa học xã hội và nhân văn  
tài nguyên thông tin số cho người sử dụng thư viện.  
những nội dung quan trọng, ảnh hưởng không chỉ đối với quyền  
TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân mà quan trọng hơn nó còn ảnh  
hưởng đến hoạt động KH&CN và đổi mới.  
Với quy định này, việc phát triển tài nguyên thông tin dạng số  
hướng đến xây dựng thư viện số nhằm đa dạng hóa phương thức phục  
vụ hướng đến chuyển đổi số của ngành thư viện gặp nhiều vướng mắc  
liên quan đến các quy định về QTG. Kết quả nghiên cứu trường hợp  
của thư viện công cộng (đối tượng phục vụ là toàn thể cộng đồng) về  
tình hình phát triển tài nguyên thông tin số trong giai đoạn 2016-2019  
được thể hiện ở bảng 1.  
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 và 2 Điều 20 Luật SHTT, việc  
thực hiện quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng do chủ sở hữu  
tác phẩm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện.  
Trong khi đó, việc tiếp nhận, sử dụng, trao đổi thông tin được người  
dân thực hiện thông qua các nền tảng cơ bản như các thiết chế cung  
cấp thông tin hoặc thông qua không gian mạng. Theo quy định tại  
khoản 1 Điều 33 Luật Thư viện, thư viện thực hiện việc truyền thông  
về tài nguyên thông tin, hay nói cách khác thông qua các hoạt động  
chuyên môn của mình, thư viện thực hiện truyền đạt nội dung tác  
phẩm đến với công chúng thông qua không gian mạng, hoặc thông  
qua các hoạt động văn hóa tổ chức tại thư viện để người dân có thể  
tiếp nhận, sử dụng và trao đổi thông tin.  
Bảng 1. So sánh tỷ lệ tài nguyên thông tin dạng số so với dạng in trong  
giai đoạn 2016-2019.  
2016  
2017  
2018  
2019  
Tài nguyên thông tin số (đầu  
tài liệu)  
906.303  
1.002.141  
2.809.698  
3.028.344  
Tài nguyên thông tin dạng in  
(đầu tài liệu)  
39.389.712 40.716.048  
2,3 2,4  
42.302.974  
6,6  
43.968.664  
6,9  
Trên thực tế, để thực hiện hoạt động này, các thư viện đưa thông  
tin thư mục, hoặc thông tin toàn văn của tác phẩm lên không gian  
mạng, để người sử dụng nắm được thông tin, tiếp nhận, sử dụng, trao  
đổi thông tin và xem đó như một hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ  
của thư viện. Như vậy, đặt trong mối quan hệ tương quan giữa việc  
thực thi pháp luật về QTG và pháp luật về quyền TCTT đã có sự xung  
đột. Thậm chí, hoạt động này của thư viện (trong trường hợp thư viện  
hoặc cơ quan chủ quản của thư viện không phải là chủ sở hữu tác  
phẩm) được xem là xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công  
chúng, bởi lẽ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 20, quyền truyền  
đạt tác phẩm đến công chúng thuộc về chủ sở hữu tác phẩm.  
So sánh tỷ lệ %  
Nguồn: các tác giả tổng hợp từ Số liệu hoạt động thư viện công cộng qua các  
năm 2016-2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.  
Kết quả bảng 1 cho thấy, số tài nguyên thông tin dạng số của thư  
viện trong giai đoạn 2016-2019 có bước phát triển đáng kể, tuy vậy  
so với tài nguyên thông tin dạng in còn chiếm một tỷ trọng khiêm tốn.  
Trong xu thế chuyển đổi số, vấn đề tiếp nhận và sử dụng thông tin của  
người dân ngày càng phong phú đa dạng, không gian mạng và chuyển  
đổi số đã và đang trở thành phương thức chủ yếu. Xung đột này dẫn  
đến những hệ quả: (i) Khả năng TCTT (tri thức) thông qua thư viện sẽ  
ngày càng giảm sút, thư viện hay các tổ chức thông tin KH&CN khác  
sẽ không còn là lựa chọn, sự ưu tiên số 1 của người sử dụng thông  
tin; (ii) Khả năng hiện đại hóa thư viện, hướng đến chuyển đổi số của  
thư viện ở mức độ thấp, thư viện truyền thống và phương thức truyền  
thống vẫn giữ vài trò chính.  
Ở một khía cạnh khác, đối với những tác phẩm khoa học, được  
tạo ra từ ngân sách nhà nước (các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học) và  
được lưu giữ trong các tổ chức thông tin KH&CN của các bộ ngành,  
địa phương, việc truyền đạt các tác phẩm đến công chúng chủ yếu chỉ  
dừng lại ở mức độ thông tin thư mục (là thông tin được tạo lập và sử  
dụng nhằm thông báo, giới thiệu, tuyên truyền về tài liệu)5 thay vì tiếp  
cận toàn văn, tại các thư viện, việc khai thác các nguồn tài nguyên  
nội sinh (luận văn, luận án, các đề tài khoa học) chủ yếu phục vụ cho  
đối tượng trong nhà trường, chưa có cơ chế mở rộng, phục vụ các đối  
tượng bên ngoài để tiếp cận, để tri thức KH&CN có thể hướng đến  
cộng đồng và phục vụ cuộc sống, từ đó chưa tạo ra sự gắn kết giữa khu  
vực nghiên cứu với khu vực sản xuất. Từ đây, đặt ra vấn đề về việc  
khai thác QTG trong việc công bố và truyền đạt các tác phẩm khoa  
học đến với công chúng trong trường hợp chủ sở hữu tác phẩm khoa  
học là Nhà nước.  
Xét trên khꢀa cạnh bảo hộ QTG: vấn đề bảo hộ QTG trong trường  
hợp tiếp cận thông tin KH&CN tại các thư viện cũng cần được nhắc  
đến, bởi lẽ ngay cả khi thư viện hay chủ sở hữu tác phẩm cài đặt phần  
mềm chống sao chép thì cũng không thể loại bỏ trường hợp có nhiều  
hơn 1 người tạo ra bản sao tác phẩm thông qua hình thức chụp. Bởi lẽ,  
theo quy định của Luật SHTT, “bản chụp” cũng được xem là bản sao  
tác phẩm4, ví dụ người sử dụng khi truy cập internet không thể copy  
tác phẩm nhưng vẫn có thể sử dụng thiết bị chụp ảnh để chụp lại màn  
hình máy tính và từ đó có thể nhân lên thành nhiều bản (hiện tại chưa  
ghi nhận có bất kỳ công nghệ nào có thể chống lại “chụp” màn hình  
máy tính). Việc tự sao chép 1 bản nhằm mục đích khoa học, giảng dạy  
của cá nhân là hoàn toàn hợp pháp theo quy định tại điểm a khoản 1  
Điều 25 Luật SHTT.  
Quyền làm tác phẩm phái sinh xung đột với quyền đưꢀc tiếp cận  
đối với các sản phẩm thông tin KH&CN trong các thiết chế cung  
cấp thông tin  
Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng xung đột với quyền  
đưꢀc tiếp nhận, sử dụng và trao đổi thông tin  
Quyền làm tác phẩm phái sinh quy định tại điểm a khoản 1 Điều  
20 Luật SHTT, theo đó chủ sở hữu tác phẩm được độc quyền thực  
hiện hoặc cho phép thực hiện theo quy định đối với các hoạt động:  
dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, cải biên,  
chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn6... Quyền làm tác phẩm  
phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tác phẩm. Tác phẩm phái  
Xuất phát từ đặc tính của thông tin KH&CN là tính luân chuyển,  
theo đó, thông tin tri thức khoa học phải được phổ biến, lưu thông  
trong cộng đồng để phát huy giá trị của nó. Do vậy, khâu truyền đạt  
các tác phẩm khoa học đến với công chúng được xem là một trong  
4Khoản 10 Điều 4 Luật SHTT quy định sao chép là việc tạo ra một hoặc  
nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ  
phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình  
thức điện tử.  
5Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Thông tư 10/2017/TT-BKHCN ngày  
28/6/2017 quy định về xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng, duy trì và phát  
triển cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.  
6Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT.  
49  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
sinh được phân thành 2 nhóm: có tác động đến tác phẩm gốc như:  
dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể; không tác động đến tác phẩm  
gốc như tuyển chọn… [11].  
KH&CN ở khu vực công với chủ sở hữu tác phẩm là Nhà nước cần  
có những cơ chế đặc thù theo hướng truy cập tự do và miễn phí cho  
người sử dụng.  
Trong khi đó, hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của thư viện, hoạt  
động thông tin KH&CN, ngoài việc cung ứng thông tin, còn có cung  
ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin cho người sử dụng. Trong bối cảnh  
hiện nay, với nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng, cung ứng sản phẩm  
thông tin phù hợp với từng nhóm đối tượng chuyên biệt đã và đang trở  
thành một xu thế tất yếu. Việc tạo lập sản phẩm thông tin gắn với quá  
trình xử lý thông tin (bao gồm: nội dung và hình thức thể hiện), trong  
đó nhiều sản phẩm được tạo ra tác động vào nội dung thông tin như:  
biên soạn, chú giải, tuyển chọn, tổng luận, đánh giá thông tin… nhằm  
tạo ra các cơ sở dữ liệu thư mục, cơ sở dữ liệu, dữ kiện và cơ sở dữ  
liệu toàn văn cùng các thông tin chuyên đề phục vụ người sử dụng, các  
nội dung này đã được thể chế hóa tại khoản 2 Điều 28 Luật Thư viện.  
Năm 2011, UNESCO đã đề xuất các hướng dẫn để phát triển các  
chính sách về TCTT khu vực công, sau đó OECD đã kiểm tra những  
tác động xã hội và đề xuất một bản khuyến nghị để cải thiện việc tiếp  
cận và sử dụng thông tin ở khu vực công có tính đến các yêu cầu và  
hạn chế pháp lý, trong đó vấn đề bản quyền được xác định là một rào  
cản trong việc TCTT. Năm 2011, tại Hội nghị về vấn đề sử dụng bản  
quyền để thúc đẩy TCTT và nội dung sáng tạo, WIPO đã đưa ra 5 đề  
xuất cơ bản cho vấn đề này. Cụ thể: (i) Không nên áp dụng luật tự do  
thông tin nghiêm ngặt đối với bất kỳ mô hình thúc đẩy tiếp cận và sử  
dụng thông tin của Chính phủ; (ii) Khuyến khích xóa bỏ tình trạng  
bản quyền thông tin của khu vực công và các quyền SHTT khác có  
thể hạn chế công chúng tiếp cận và sử dụng lại thông tin của khu vực  
công; (iii) Các chính phủ có thể lựa chọn 1 trong số 3 mô hình: đặt  
tất cả các thông tin của khu vực công trong phạm vi công cộng; sử  
dụng bản quyền kết hợp các giấy phép mở; bảo vệ tất cả thông tin khu  
vực công nhưng cho phép sử dụng lại thông qua giấy phép mở, từ bỏ  
bản quyền; (iv) Khuyến nghị thành lập các cổng thông tin quốc gia  
để tạo điều kiện cho việc tiếp cận, phổ biến và tái sử dụng thông tin  
của khu vực công; (v) Ở những quốc gia nơi thông tin khu vực công  
được bảo vệ (toàn bộ hoặc một phần) bằng bản quyền, thông tin này  
phải được phát hành theo giấy phép mở (thông qua giấy phép Creative  
Commons tiêu chuẩn)7 [14].  
Có thể thấy, thông qua hoạt động phát triển sản phẩm thông tin  
của các thư viện, một số sản phẩm thông tin được tạo ra là đối tượng  
điều chỉnh của pháp luật về QTG. Như vậy, tiếp cận từ hệ thống pháp  
luật, có thể thấy, có sự xung đột trong chủ thể có quyền tạo ra một số  
loại hình tác phẩm phái sinh giữa pháp luật về QTG và quyền TCTT.  
Sự xung đột này dẫn đến hệ quả là sự phát triển những sản phẩm thông  
tin chuyên biệt, sản phẩm thông tin mang hàm lượng chất xám và tri  
thức còn hạn chế trong các tổ chức thông tin KH&CN do rào cản về  
QTG, từ đó hạn chế quyền tiếp cận và sử dụng các sản phẩm thông tin  
KH&CN của tổ chức, cá nhân.  
Đề xuất điều chỉnh hệ thống pháp luật nhằm khắc phục những  
xung đột về quyền TCTT và QTG  
Đề xuất hướng tiếp cận và điều chỉnh hệ thống pháp luật nhằm  
khắc phục những xung đột về quyền TCTT với bảo hộ QTG  
Điều chỉnh pháp luật về QTG liên quan đến TCTT: khoản 2 Điều  
22 Nghị định 22 cần có sự điều chỉnh nhằm tháo gỡ quy định về tạo ra  
bản sao tác phẩm (bao gồm cả bản kỹ thuật số) và phân phối bản sao  
này trong thư viện. Để thư viện có thể phát huy tối đa các hoạt động  
cần có sự điều chỉnh với 2 hướng:  
Hướng tiếp cận  
Mối quan hệ giữa quyền TCTT và quyền tác giả được xem là  
một mối quan hệ đa chiều, phức tạp, trong nhiều trường hợp, đó là  
sự tương hỗ lẫn nhau, khi hầu hết các quy định về quyền TCTT và  
hoạt động bảo đảm quyền TCTT luôn ghi nhận một rào cản nhất định  
về bảo đảm thực thi QTG. Tuy vậy, đặt trong bối cảnh phát triển của  
KH&CN và xu thế chuyển đổi số, với nhu cầu TCTT, tri thức ngày  
càng đa dạng của người dân, sự xung đột giữa quyền TCTT và QTG  
cần có những nhận diện cơ bản và giải quyết thấu đáo để vừa bảo đảm  
quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhằm khuyến khích sự  
sáng tạo, vừa bảo đảm cộng đồng có thể TCTT tri thức, phục vụ việc  
học tập suốt đời, hỗ trợ hoạt động KH&CN và đổi mới.  
Thứ nhất, có ngoại lệ nhất định trong việc tạo ra bản sao kỹ thuật  
số tác phẩm trong thư viện. Theo đó, thư viện được số hóa phục vụ  
người sử dụng với các trường hợp: (1) Tác phẩm là tài nguyên thông  
tin nội sinh của cơ quan, tổ chức chủ quản của thư viện, việc số hóa  
và đưa ra phục vụ tuân theo quy tắc, chính sách của cơ quan chủ quản,  
đơn cử như các nguồn tin KH&CN là tài liệu nội sinh trong các trường  
đại học (khóa luận, luận văn, luận án, giáo trình, bài giảng được tạo ra  
trong quá trình nghiên cứu của các trường đại học…). Trong trường  
hợp này, các chủ sở hữu tác phẩm cũng cần hướng đến việc cung ứng  
rộng rãi phục vụ cộng đồng (thay vì chỉ phục vụ cho đối tượng thuộc  
cơ quan chủ quản) theo nguyên tắc trả phí sử dụng hoặc phát triển tài  
nguyên giáo dục mở (OER) cho cả cộng đồng tiếp cận [15]; (2) Tác  
phẩm đã được cấp phép mở theo giấy phép được chủ sở hữu tác phẩm  
cấp thông qua giấy phép mở của Creative Commons (ở đây muốn  
nhấn mạnh đến tác phẩm có chủ sở hữu là Nhà nước hoặc các tổ chức,  
cá nhân cho phép sử dụng tác phẩm của mình). Thư viện thực hiện  
các quyền đối với tác phẩm theo giấy phép mà chủ sở hữu tác phẩm  
cấp; (3) Tác phẩm thuộc về công chúng theo quy định tại Điều 43 Luật  
SHTT; (4) Tác phẩm trong thời hạn bảo hộ QTG, việc số hóa tài liệu  
phải được sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm. Thư viện thỏa thuận về  
mức phí chi trả cho chủ sở hữu tác phẩm trong trường hợp người sử  
Tiếp cận quyền TCTT và QTG là một trong những nội dung nằm  
trong hệ thống quyền con người và quyền SHTT. Nghiên cứu của  
Peter K. Yu (2007, 2012) [12, 13] đã đề cập và nhận diện xung đột  
giữa quyền con người và quyền SHTT ở hai góc độ xung đột ngoại lai  
và nội bộ, tác giả vận dụng mô hình như trong nghiên cứu của [3] để  
giải quyết hai xung đột này. Cụ thể: (i) Mô hình giải quyết xung đột  
ngoại lai, với cơ chế giải quyết xem xét các giới hạn hay ngoại lệ trong  
hệ thống SHTT từ góc độ hậu kiểm lẫn tiền kiểm. Theo đó, xác lập  
những giới hạn và ngoại lệ đối với cơ chế xác lập, bảo hộ, khai thác  
quyền SHTT; (ii) Mô hình giải quyết xung đột nội bộ, với giải pháp  
trả phí công bằng, theo cách tiếp cận này, chủ sở hữu tác phẩm chỉ  
nắm quyền hưởng lợi ích, trong khi đó, cộng đồng có thể tiếp cận đến  
tác phẩm nhưng phải trả phí (trong trường hợp chủ sở hữu tác phẩm  
không phải là Nhà nước).  
7Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập từ năm 2001,  
hoạt động với mục tiêu mở rộng thông tin về quyền tác giả hợp lý, linh hoạt.  
Liên quan đến vấn đề tiếp cận và sử dụng khai thác thông tin  
63(10) 10.2021  
50  
Khoa học xã hội và nhân văn  
dụng bản sao kỹ thuật số tác phẩm khi khai thác tài nguyên thông tin  
của thư viện (áp dụng theo hướng thứ 2).  
Kết luận  
Quyền TCTT KH&CN và QTG là hai chế định pháp luật quan  
trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân, cũng như thúc  
đẩy việc thực thi các quyền con người khác như nghiên cứu KH&CN,  
sáng tạo văn học, nghệ thuật, tiếp cận các giá trị văn hóa. Nhận diện  
thấu đáo sự xung đột giữa quyền TCTT KH&CN với bảo hộ QTG  
mang ý nghĩa quan trọng, không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề đặt  
ra đối với việc bảo đảm quyền TCTT trong xu thế chuyển đổi số, thúc  
đẩy hiện đại hóa các thiết chế cung ứng thông tin KH&CN mà còn  
góp phần giải quyết hài hòa những lợi ích cá nhân, thúc đẩy sự sáng  
tạo với lợi ích của cộng đồng trong việc TCTT KH&CN thúc đẩy hoạt  
động học tập, nghiên cứu, sáng tạo.  
Thứ hai, trả phí công bằng đối với việc sử dụng bản sao tác phẩm  
(là bản sao kỹ thuật số) đối với những tác phẩm đang còn thời hạn bảo  
hộ QTG do thư viện cung cấp. Trong mô hình này, thư viện giữ vai trò  
là trung gian, cầu nối giữa chủ sở hữu tác phẩm với người sử dụng.  
Việc chi trả các khoản phí thông qua việc tải các tác phẩm của người  
sử dụng sẽ được chuyển đến chủ sở hữu tác phẩm. Để thực hiện được  
nội dung này, ngoài việc hoàn thiện khung pháp lý còn cần đến các  
giải pháp về công nghệ.  
Hoàn thiện hệ thống chꢀnh sách bảo đảm quyền TCTT: đi cùng  
với việc sửa đổi và điều chỉnh các quy định của pháp luật về QTG  
liên quan đến TCTT, đặt ra vấn đề cần thiết lập hệ thống chính sách  
trong việc bảo đảm quyền TCTT nhằm khắc phục những xung đột  
giữa QTG và quyền TCTT. Hệ thống chính sách này dựa trên những  
nền tảng cơ bản như sau:  
Do hạn chế về dung lượng và tính phức tạp của nghiên cứu nên  
một số nội dung chưa được phân tích, nhận diện thấu đáo, cần có  
các nghiên cứu tiếp theo như: hệ thống giấy phép mở của Creative  
Commons trong việc cấp phép mở đối với thông tin KH&CN có chủ  
sở hữu là Nhà nước; quá trình liên thông, chia sẻ nguồn tin KH&CN  
hướng đến xây dựng nguồn học liệu mở phục vụ nhu cầu học tập của  
người dân cùng những chính sách phụ trợ đi kèm.  
Thứ nhất, thiết lập khung pháp lý trong việc phát triển tài nguyên  
thông tin số trong các tổ chức thông tin KH&CN. Trên thực tế hiện  
nay, ngoài quy định tại Điều 25 Luật Thư viện đề cập những nội dung  
cơ bản trong xây dựng tài nguyên thông tin, cho đến nay chưa có một  
quy định cụ thể, chi tiết nào về hoạt động này. Việc thiết lập khung  
pháp lý đối với phát triển tài nguyên thông tin số được xây dựng theo  
hướng: trong quá trình phát triển tài nguyên thông tin số (bao gồm số  
hóa tài liệu và mua quyền truy cập đối với các cơ sở dữ liệu số), các  
tổ chức thông tin KH&CN, các thư viện cần phân loại và xác định rõ  
tình trạng pháp lý của các nguồn tin liên quan đến bảo hộ QTG để thực  
hiện bổ sung và có các biện pháp cung ứng phù hợp đối với từng loại  
tài nguyên thông tin cho người sử dụng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Adrian Vasile Cornescu (2009), The Generation of Human Rights, Day of Law,  
nescu_Adrian_Vasile.pdf (truy cập ngày 9/8/2021).  
[2] Lê Tùng Sơn, Thạch Thị Hoàng Yến, Trần Văn Hồng (2021), “Quyền tiếp cận  
thông tin khoa học và công nghệ trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới ở Việt  
Nam”, Tạp chꢀ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 63(4), tr.50-55.  
[3] Trần Kiên (2020), Sự xung đột giữa quyền con người và quyền sở hữu trꢀ tuệ tiếp  
cận từ triết lý pháp luật và thực tiễn pháp lý, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[4] Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà  
xuất bản Tư pháp.  
Thứ hai, xây dựng khung pháp lý đối với việc thiết lập hệ thống  
cơ sở dữ liệu và khai thác các tài nguyên thông tin được sử dụng ngân  
sách nhà nước, nhằm thúc đẩy việc TCTT đối với khu vực công nói  
chung và phát huy tối đa giá trị của các thông tin KH&CN sử dụng  
ngân sách nhà nước trong hoạt động KH&CN và đổi mới, nhằm phát  
triển kinh tế - xã hội. Theo đó, các nguồn tin KH&CN sử dụng ngân  
sách nhà nước (ngoài những thông tin mật thuộc nhóm không được  
tiếp cận theo quy định) phải được khai thác toàn văn, cấp phép mở  
theo giấy phép của Creative Commons tiêu chuẩn, đồng thời phải  
được liên thông, chia sẻ giữa các tổ chức thông tin KH&CN, các thư  
viện, tạo điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp thuận tiện  
trong tiếp cận, phát huy giá trị hàm lượng thông tin tri thức, hướng  
đến xây dựng hệ thống học liệu mở phục vụ nhu cầu học tập suốt đời  
và phát triển thông tin tri thức của mỗi quốc gia.  
[5] Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Sở hữu trꢀ tuệ Việt Nam, Nhà  
xuất bản Công an nhân dân.  
[6] WIPO (1998), Intellectual Property and Human Rights, 50th Anniversary of the  
wipo_pub_762.pdf (truy cập ngày 4/8/2021).  
[7] Laurence R. Helfer (2003), “Human rights and intellectual property: conflict or  
coexistence?”, Minnesota Intellectual Property Review, 5(1), pp.47-61.  
[8] Peter K. Yu (2016), “The anatomy of the human rights framework for intellectual  
property”, SUM Law Review, 69(1), pp.38-95.  
[9] Peter K. Yu (2019), “Intellectual property and human rights 2.0”, University of  
Richmond Law Review, 53, pp.1377-1452.  
[10] Gabriele Spina Ali (2020), “Intellectual property and human rights: a taxonomy  
of their interations”, IIC - International Review of Intellectual Property and Competition  
Law, 51, pp.411-445.  
Thứ ba, trong bối cảnh phát triển KH&CN và xu thế chuyển đổi  
số, tác giả đề xuất xây dựng thư viện số quốc gia, đây được xem là  
giải pháp về kỹ thuật. Thư viện này được xây dựng trên nền tảng tích  
hợp các tài nguyên thông tin, tri thức KH&CN của các bộ, ngành, lĩnh  
vực, các tỉnh/thành phố trong cả nước nhằm tạo thuận lợi cho người  
dân khai thác sử dụng. Trên nền tảng thư viện số này, các tài nguyên  
thông tin cung cấp cho người dân cần được làm rõ tình trạng pháp lý  
về QTG để có những ứng xử cho phù hợp, đồng thời thiết lập hệ thống  
hỗ trợ thanh toán chi phí tiếp cận các tài nguyên thông tin số đối với  
các tác phẩm trong thời hạn bảo hộ; khoản chi phí này sẽ được chuyển  
cho chủ sở hữu tác phẩm nhằm bảo đảm việc cân bằng lợi ích giữa chủ  
sở hữu tác phẩm và người sử dụng.  
[11] Trần Văn Hải (2012), “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh”, Tạp  
chꢀ Khoa học Pháp lý, 4, tr.18-23.  
[12] Peter K. Yu (2007), “Reconceptualizing intellectual property interests in a  
human rights framework”, U.C. Davis Law Review, 40, pp.1039-1149.  
[13] Peter K. Yu (2012), “Intellectual property and human rights in the nonmultilater-  
al era”, Florida Law Rieview, 64, pp.1045-1100.  
[14] WIPO (2011), Workshop on Using Copyright to Promote Access to Informa-  
ge_11/wipo_cr_wk_ge_11_4.pdf (truy cập ngày 8/5/2021).  
[15] Trần Văn Hải (2017), “Bảo hộ quyền tác giả trong việc xây dựng ‘tài nguyên  
giáo dục mở’”, Tạp chꢀ Pháp luật và Thực tiễn, 4, tr.32-44.  
51  
63(10) 10.2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 10400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xung đột giữa quyền tiếp cận thông tin KH&CN với bảo hộ quyền tác giả tiếp cận dưới giác độ pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxung_dot_giua_quyen_tiep_can_thong_tin_khcn_voi_bao_ho_quyen.pdf