Tài liệu Những điểm mới cơ bản của bộ luật dân sự năm 2015

LỜI CẢM ƠN  
Ban biên soạn trân trọng cám ơn sự hỗ trợ của Dự án JICA- Nhật  
Bản để hoàn thành và công bố cuốn tài liệu.  
Ban biên soạn trân trọng cám ơn PGS.TS Đỗ Văn Đại- Giảng viên  
Trường Đại học Luật TP. HCM; PGS.TS Bùi Đăng Hiếu - Giảng viên  
Trường Đại học Luật Hà Nội; TS Nguyễn Minh Tuấn - Giảng viên  
Trường Đại học Luật Hà Nội và ThS. Nguyễn Văn Mạnh - Vụ Pháp  
luật, Văn phòng Chính phủ đã tham gia ý kiến hoàn thiện cuốn tài liệu.  
VI. GIAO DỊCH DÂN SỰ.......................................................................................81  
VII. ĐẠI DIỆN .........................................................................................................93  
VIII. THỜI HIỆU ..................................................................................................103  
MỤC LỤC  
IX. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XÁC LẬP, THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU,  
QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN....................................................................107  
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA..................................................................................9  
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................11  
MỤC LỤC.................................................................................................................12  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................15  
X. CHIẾM HỮU ....................................................................................................115  
XI. HÌNH THỨC SỞ HỮU...................................................................................121  
XII. QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN............................................................125  
XIII. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ NGHĨA VỤ ........................................................143  
XIV. BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ ........................................................147  
XV. TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ.............................................................................171  
XVI. GIAO KẾT HỢP ĐỒNG..............................................................................175  
XVII. THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG .........................................................................181  
XVIII. VỀ CÁC THỜI ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG .......................189  
XIX. CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG ...........................................................................193  
XX. MỘT SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG.......................................................197  
XXI. TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ....209  
XXII. THỪA KẾ ....................................................................................................221  
XXIII. PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QHDSYTNN...................................231  
XXIV. “ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH” ..................................................................261  
PHẦN THỨ NHẤT:  
MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BỘ LUẬT  
DÂN SỰ VÀ TꢀNG QUAN VỀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 .......................17  
I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG  
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015..............................................................................19  
II. TꢀNG QUAN VỀ BLDS NĂM 2015 ................................................................23  
PHẦN THỨ HAI:  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015...............37  
I. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA BLDS................................................................39  
II. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ  
VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ........................................................................41  
III. THỰC HIỆN, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ .....................................................51  
IV. CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ.......................................57  
V. TÀI SẢN...............................................................................................................77  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BLDS  
Bộ luật dân sự  
Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam năm 2015  
BLDS năm 2015  
BLDS năm 2005  
BLDS năm 1995  
Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam năm 2005  
Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam năm 1995  
BTTH  
Bồi thường thiệt hại  
CHXHCN  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về  
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống  
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng  
đến năm 2020  
NQ 48-NQ/TW  
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về  
Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020  
NQ 49-NQ/TW  
QHDSYTNN  
XHCN  
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài  
Xã hội chủ nghĩa  
PHẦN THỨ NHẤT:  
MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY  
DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ TꢀNG QUAN  
VỀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG  
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
BLDS năm 2015 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu về thể chế  
hóa các nghị quyết của Đảng(1), đặc biệt Hiến pháp năm 2013 về công  
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân,  
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; yêu cầu về  
điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh đa dạng, phong phú trong phát  
triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước; yêu cầu đổi mới  
về nhận thức, tư duy pháp lý trong việc hoàn thiện cơ chế điều chỉnh  
quan hệ dân sự, xây dựng nền tảng pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định  
cho hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam; yêu cầu về thực hiện, bảo vệ  
tốt hơn quyền dân sự về nhân thân, tài sản của cá nhân, pháp nhân, tạo  
cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi hơn cho việc khai thác, sử dụng một  
cách tiết kiệm và hiệu quả các tài sản và các nguồn tài nguyên thiên  
nhiên khác của đất nước(2).  
1. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005  
của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam  
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005  
của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  
2. Việc tổng kết, đánh giá bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và thi hành  
pháp luật về BLDS năm 2005, pháp luật khác có liên quan đã được Chính phủ thực  
hiện tại 21 Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương, 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung  
ương (tham khảo theo Báo cáo số 151/BC-BTP ngày 15/7/2013 của Bộ Tư pháp về  
tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005).  
19  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
Trong bối cảnh như vậy và trên tinh thần xác định BLDS là một  
đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người,  
quyền công dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng  
pháp luật, việc xây dựng BLDS năm 2015 được Chính phủ xác định rõ  
theo mục tiêu chung và bốn quan điểm chỉ đạo xuyên suốt như sau(3):  
đó là: (1) Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ  
và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, nhất là quyền, lợi ích  
của bên yếu thế, bên thiện chí, ngay tình trong quan hệ dân sự; hạn chế  
tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi,  
chấm dứt quan hệ dân sự; (2) Tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản  
xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm  
sự thông thoáng, ổn định trong giao lưu dân sự, góp phần phát triển nền  
kinh tế thị trường định hướng XHCN; (3) Là công cụ pháp lý hữu hiệu  
để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các thiết chế dân chủ trong xã  
hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.  
1. Mục tiêu  
Xây dựng BLDS thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật  
điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do,  
tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi  
nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao  
lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng  
XHCN, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội  
sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.  
2.3. Xây dựng BLDS thành bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung  
của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ  
sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm; có  
tính khái quát, tính dự báo và tính khả thi để một mặt, bảo đảm tính ổn  
định của Bộ luật, mặt khác, đáp ứng được kịp thời sự phát triển thường  
xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của  
pháp luật dân sự.  
2. Quan điểm chỉ đạo  
2.1. Thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công  
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền  
công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như những tư  
tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN  
về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các  
chủ thể thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế đã được ghi  
nhận trong trong các nghị quyết của Đảng và đặc biệt là trong Hiến  
pháp năm 2013.  
2.4. Bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp  
với thực tiễn của pháp luật dân sự, cũng như các giá trị văn hóa, tập  
quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam; có sự tham khảo kinh  
nghiệm xây dựng BLDS của một số nước, nhất là các nước có truyền  
thống pháp luật tương đồng với Việt Nam.  
2.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, hạn chế trong thực  
tiễn thi hành để bảo đảm BLDS thực sự phát huy được ba vai trò cơ bản,  
3. Tờ trình Quốc hội số 390/TTr-CP ngày 12/10/2014 của Chính phủ về dự án Bộ luật  
dân sự (sửa đổi).  
20  
21  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
II. TꢀNG QUAN VỀ BLDS NĂM 2015  
1. Bố cục của BLDS năm 2015  
BLDS năm 2015 có 689 điều, được bố cục thành 6 phần, 27 chương,  
trong đó so với BLDS năm 2005, Bộ luật giữ nguyên 81 điều, kế thừa  
và sửa đổi 573 điều, bổ sung 70 điều, bãi bỏ 123 điều, bao gồm:  
Phần thứ nhất “Quy định chung” (Điều 1 - Điều 157), quy định  
chung về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, áp dụng BLDS, xác  
lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự, địa vị pháp lý của chủ thể, tài  
sản, giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn, thời hiệu. Phần này được kết  
cấu thành 10 chương:  
Chương I: Những quy định chung  
Chương II: Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự  
Chương III: Cá nhân  
Chương IV: Pháp nhân  
Chương V: Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở  
trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự  
Chương VI: Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách  
pháp nhân trong quan hệ dân sự  
Chương VII: Tài sản  
23  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
Chương VIII: Giao dịch dân sự  
Chương IX: Đại diện  
lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật  
Chương XX: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng  
Chương X: Thời hạn và thời hiệu  
Phần thứ tư “Thừa kế” (Điều 609 - Điều 662), quy định chung về  
quyền để lại tài sản cho người khác bằng việc lập di chúc để định đoạt  
tài sản của mình hoặc cho người thừa kế theo pháp luật, quyền hưởng di  
sản của cá nhân, chủ thể không phải là cá nhân theo di chúc hoặc theo  
pháp luật. Phần này được kết cấu thành 4 chương:  
Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”  
(Điều 158 - Điều 273), quy định chung về xác lập, thực hiện, bảo vệ và  
giới hạn quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản của mình  
hoặc tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác, chế độ pháp lý về  
chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Phần này được  
kết cấu thành 4 chương:  
Chương XXI: Quy định chung  
Chương XXII: Thừa kế theo di chúc  
Chương XXIII: Thừa kế theo pháp luật  
Chương XXIV: Thanh toán và phân chia di sản.  
Chương XI: Quy định chung  
Chương XII: Chiếm hữu  
Chương XIII: Quyền sở hữu  
Chương XIV: Quyền khác đối với tài sản  
Phần thứ năm “Pháp luật áp dụng đối với QHDSYTNN” (Điều  
663 - Điều 687), quy định chung về áp dụng pháp luật đối với quan hệ  
dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước  
ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam  
nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ dân sự  
xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp  
nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.  
Phần này được kết cấu thành 3 chương:  
Phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng” (Điều 274 - Điều 608), quy  
định chung về quyền yêu cầu của một hoặc nhiều chủ thể đối với chủ  
thể khác về việc chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy  
tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất  
định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Phần này được kết cấu  
thành 6 chương:  
Chương XXV: Quy định chung  
Chương XV: Quy định chung  
Chương XXVI: Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân  
Chương XVI: Một số hợp đồng thông dụng  
Chương XVII: Hứa thưởng, thi có giải  
Chương XXVII: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ  
nhân thân.  
Chương XVIII: Thực hiện công việc không có ủy quyền  
Chương XIX: Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được  
Phần thứ sáu “Điều khoản thi hành” (Điều 688 và Điều 689), quy  
định về hiệu lực thi hành và áp dụng pháp luật đối với những quan hệ  
24  
25  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
dân sự xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực.  
và kết cấu thành các chương về quy định chung, pháp luật áp dụng đối  
với cá nhân, pháp nhân, pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan  
hệ nhân thân;  
Bố cục của BLDS năm 2015 như trên về cơ bản có sự kế thừa, không  
tạo xáo trộn lớn về kết cấu so với BLDS năm 1995 và BLDS năm  
2005(4). Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả mục tiêu xây dựng BLDS năm  
2015, tính đồng bộ, thống nhất trong nội dung các chế định của Bộ luật,  
trong quy định giữa các luật có liên quan và trong nhận thức, xây dựng  
và áp dụng pháp luật, BLDS năm 2015 đã được sửa đổi về kết cấu phần,  
chương, mục như sau:  
(2) Đối với những nội dung cụ thể đã được quy định trong các luật  
khác có liên quan mang tính đặc thù hoặc đòi hỏi cần sự linh hoạt trong  
điều chỉnh pháp luật thì BLDS mới cũng không quy định lại. Trong đó,  
Bộ luật đã lược bỏ các quy định trong BLDS năm 2005 về hợp đồng  
về nhà ở, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm trong mục về các hợp đồng  
thông dụng. Những nội dung pháp lý này hoặc được quy định chung  
trong các chế định có liên quan về tài sản, quyền sở hữu, quyền khác  
đối với tài sản, hợp đồng, thừa kế, quyền nhân thân trong BLDS hoặc  
được quy định cụ thể trong Luật nhà ở, Luật kinh doanh bảo hiểm và  
các luật khác có liên quan đối với những quy định có tính đặc thù, có  
tính biến động cao trong thực tiễn giao lưu dân sự. Để đáp ứng nhu cầu  
điều chỉnh các chế định pháp lý độc lập, Bộ luật bổ sung một số chương  
như: Chương II “Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự”, Chương  
V “Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở  
địa phương trong quan hệ dân sự”, Chương VII “Tài sản” (quy định về  
tài sản ở Phần Tài sản và quyền sở hữu của BLDS năm 2005), Chương  
XII “Chiếm hữu”, Chương XIV “Quyền khác đối với tài sản”, Chương  
XVII “Hứa thưởng, thi có giải”; sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một số  
chương, như Chương II ”Những nguyên tắc cơ bản” của BLDS năm  
2005 được sửa đổi thành một điều “Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
dân sự” (Điều 3); Chương VIII “Thời hạn”, Chương IX “Thời hiệu” của  
BLDS năm 2005 được quy định chung thành một chương (Chương X  
“Thời hạn và thời hiệu”)...  
(1) Về kết cấu, Bộ luật không kết cấu “Quy định về chuyển quyền sử  
dụng đất”, “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” thành các  
phần độc lập trong Bộ luật. Những nội dung liên quan được giải quyết  
theo hướng, việc điều chỉnh pháp luật đối với quyền sử dụng đất, quyền  
sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong các quan hệ dân sự được  
áp dụng theo các quy định chung về tài sản, giao dịch dân sự, sở hữu,  
hợp đồng...; những nội dung cụ thể, đặc thù hoặc những nội dung cần  
có sự điều chỉnh linh hoạt về chính sách pháp lý được quy định tại Luật  
đất đai, Luật sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ và luật khác  
có liên quan.  
Bên cạnh đó, Bộ luật sửa đổi phần “Tài sản và quyền sở hữu” thành  
“Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” cùng với việc bổ sung các  
chương riêng về chiếm hữu, quyền khác đối với tài sản (quyền đối với  
bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt); đổi tên phần  
“QHDSYTNN” thành phần “Pháp luật áp dụng đối với QHDSYTNN”  
4. So với Bộ luật dân sự các nước, BLDS năm 2015 (kể cả BLDS năm 1995 và  
BLDS năm 2005) cơ bản được kết cấu thành các phần, chương theo hướng khái quát  
lý luận đã được áp dụng trong Bộ luật dân sự của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên,  
khác với nhiều bộ luật dân sự của các nước này, Bộ luật dân sự của Việt Nam không  
có phần “Gia đình” (do đã có luật riêng về hôn nhân và gia đình ban hành vào các năm  
1959, 1986, 2000 và 2014) và có phần “Pháp luật áp dụng đối với QHDSYTNN” (ở  
BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 Phần này gọi là “QHDSYTNN”).  
2. Những tiếp cận mới chủ yếu của BLDS năm 2015 so với BLDS  
năm 2005  
BLDS năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền  
27  
26  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
thống pháp luật dân sự Việt Nam, thành tựu của BLDS năm 1995 và  
BLDS năm 2005, đúc rút kinh nghiệm điều chỉnh các quan hệ pháp luật  
dân sự qua 30 năm đất nước đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, khắc  
phục những tồn tại, bất cập của các quy định hiện hành. Về nội dung,  
so với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có nhiều tiếp cận mới, quan  
trọng, mang tính đột phá cả về nhận thức và tư duy lập pháp trong việc  
hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ dân sự trong đời sống  
hàng ngày của cá nhân, pháp nhân, thể hiện qua một số phương diện cơ  
bản sau đây:  
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của  
Bộ luật này; trường hợp luật khác có liên quan “không quy định hoặc  
có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật  
này được áp dụng”(5). Cách tiếp cận như vậy đã làm rõ hơn mối quan hệ  
giữa BLDS với luật khác có liên quan, tạo cơ chế pháp lý để các cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền xây dựng, áp dụng pháp luật đồng bộ, thống  
nhất, giúp người dân thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật khi  
tham gia các quan hệ xã hội có liên quan, tháo gỡ sự lúng túng hoặc tùy  
tiện, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án. Điều này còn góp phần  
khắc phục và hạn chế tình trạng các luật khác có liên quan (luật chuyên  
ngành) có những biểu hiện “thoát ly” khỏi BLDS.  
2.1. BLDS làm rõ hơn về vị trí, vai trò của BLDS là luật chung của  
hệ thống pháp luật tư  
d. BLDS năm 2015 quy định chung về địa vị pháp lý và chuẩn mực  
pháp lý về cách ứng xử, nội dung các quy định về địa vị pháp lý của  
chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, về giao dịch, đại diện, thời hiệu,  
quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa  
kế và pháp luật áp dụng đối với QHDSYTNN. Trong đó, Bộ luật quy  
định thống nhất về cơ chế pháp lý có tính chuẩn mực về thực hiện, bảo  
vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân theo hướng bảo đảm tự do ý  
chí của cá nhân, pháp nhân trong xác lập, thực hiện quyền dân sự và  
trong lựa chọn cơ chế pháp lý bảo vệ quyền dân sự khi bị xâm phạm.  
Đặc biệt, để bảo vệ quyền dân sự, BLDS năm 2015 quy định rõ trách  
nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, bên cạnh trách nhiệm của chủ  
thể xâm phạm quyền dân sự của chủ thể khác thì chính chủ thể có quyền  
không được lạm dụng quyền, phải áp dụng các biện pháp cần thiết mà  
luật không cấm để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại của chính mình, qua  
đó bảo đảm sự công bằng, ổn định trong quan hệ dân sự.  
a. BLDS năm 2015 quy định thống nhất về những dấu hiệu đặc trưng  
về bản chất pháp lý của các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của hệ  
thống pháp luật tư. Đó là những quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân được  
hình thành trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu  
trách nhiệm.  
b. BLDS năm 2015 quy định thống nhất các nguyên tắc cơ bản thể  
hiện bản chất pháp lý của quan hệ dân sự và đặc trưng của pháp luật  
dân sự, đó là: (1) bình đẳng; (2) tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận;  
(3) thiện chí, trung thực; (4) tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích  
công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và (5) tự chịu  
trách nhiệm dân sự.  
c. Trong mối quan hệ với các luật khác có liên quan, trên cơ sở xác  
định rõ phạm vi điều chỉnh và vị trí, vai trò của BLDS, BLDS năm  
2015 quy định theo hướng: (1) Đối với những quan hệ xã hội không  
thuộc quan hệ tư thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật; (2)  
Đối với các quan hệ dân sự, Bộ luật quy định các luật khác có liên quan  
điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái  
e. Để kịp thời công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự của cá  
5. Khoản 2, khoản 3 Điều 4 BLDS năm 2015  
28  
29  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
nhân, pháp nhân và cũng để bảo đảm sự ổn định trong quy định của  
BLDS, khắc phục sự khuyết thiếu trong quy định pháp luật, BLDS năm  
2015 cũng quy định rõ những công cụ pháp lý để Tòa án, cơ quan có  
thẩm quyền khác áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự cụ thể khi không  
có quy định của pháp luật.  
dòng họ...) thì BLDS xác định đây là những thực thể thực tế trong quan  
hệ dân sự mà cá nhân, pháp nhân thông qua đó để tham gia quan hệ  
dân sự. Do đó, chủ thể của các quan hệ dân sự có sự tham gia của các  
thực thể thực tế này chính là các cá nhân, pháp nhân là thành viên của  
thực thể thực tế đó; việc xác định quyền, nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm  
dân sự, tư cách tố tụng theo các quy định về địa vị pháp lý của cá nhân,  
pháp nhân.  
2.2. BLDS được xây dựng với vai trò là luật của các quan hệ thị  
trường, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng  
XHCN của Việt Nam  
b. Về tài sản và quyền sở hữu, Bộ luật quy định dựa trên các quan  
điểm xuyên suốt là:  
Để bảo đảm cho BLDS thực sự là luật của các quan hệ thị trường,  
đặc biệt về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, tài sản và sở hữu, giao  
dịch... thì BLDS năm 2015 đã được xây dựng dựa trên một chủ thuyết  
nhất quán, minh bạch, ổn định và hội nhập hơn. Trong đó:  
(1) Khắc phục những “điểm nghẽn” pháp lý về tài sản và sở hữu,  
hoàn thiện môi trường pháp lý theo hướng ổn định, có tính dự báo cho  
sự phát triển các quan hệ kinh tế - xã hội;  
(2) Tôn trọng và bảo đảm hành lang pháp lý về sự đa dạng của tài  
sản trong giao lưu dân sự, làm rõ hơn quyền tài sản của người dân trong  
quan hệ với đất đai thuộc sở hữu toàn dân theo hướng ghi nhận tài sản  
trong giao lưu dân sự bao gồm bất động sản và động sản, có thể là tài  
sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai; quyền sử dụng đất là  
quyền tài sản; việc đăng ký tài sản phải công khai; bảo đảm tài sản là  
hàng hóa trong giao lưu dân sự được lưu thông không ngừng ở nhiều  
hình thức, quy mô khác nhau, được khai thác lợi ích của tài sản không  
chỉ bởi chủ sở hữu mà còn bởi cả người không phải là chủ sở hữu;  
Về chủ thể, Bộ luật quy định về chủ thể của các quan hệ dân sự theo  
nguyên tắc bảo đảm sự minh bạch về địa vị pháp lý, phù hợp với bản  
chất pháp lý của quan hệ tư, thực tiễn giao lưu dân sự ở Việt Nam và  
tương thích với thông lệ quốc tế, thể hiện ở các tiêu chí: (1) Tôn trọng  
sự đa dạng của các thực thể trong giao lưu dân sự; (2) Chủ thể quan hệ  
dân sự phải xác định được cụ thể; (3) Chủ thể khi tham gia quan hệ dân  
sự phải độc lập về tài sản với chủ thể khác; (4) Chủ thể phải có năng lực  
tự chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.  
Trên cơ sở đó, BLDS năm 2015 ghi nhận chủ thể quan hệ pháp  
luật dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân. Đối với sự tham gia của  
Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan Nhà nước ở trung ương, ở địa  
phương trong quan hệ dân sự, BLDS quy định chủ thể này có địa vị  
pháp lý của pháp nhân (pháp nhân đặc biệt), bình đẳng với các chủ thể  
của quan hệ pháp luật dân sự, chịu trách nhiệm dân sự theo quy định  
của BLDS. Đối với sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác  
không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, tổ, nhóm tự quản,  
(3) Tách biệt quan hệ thực tế giữa người với tài sản (chiếm hữu) và  
quan hệ giữa người với người về tài sản trên cơ sở hoàn thiện chế độ  
pháp lý phù hợp với bản chất pháp lý của từng loại quan hệ tài sản, vừa  
tôn trọng sự hình thành, phát triển của các quan hệ này theo nguyên tắc  
thị trường vừa bảo đảm ổn định các quan hệ có liên quan và trật tự xã  
hội;  
(4) Tạo nhiều cơ hội và sự bảo đảm về pháp lý cao hơn để chủ sở  
31  
30  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
hữu mạnh dạn, yên tâm giao tài sản của mình cho người khác đầu tư,  
khai thác sử dụng; đồng thời, người không phải là chủ sở hữu cũng yên  
tâm, mạnh dạn đầu tư vào tài sản thuộc sở hữu của người khác, từ đó  
làm phát sinh nhiều lợi ích hơn cho chính các chủ thể liên quan, cho  
nền kinh tế và cho toàn xã hội, góp phần làm giảm thiểu chi phí cho  
phát triển kinh tế. Cách tiếp cận này làm cho pháp luật Việt Nam phù  
hợp hơn với thông lệ quốc tế, góp phần thực hiện chủ trương chủ động,  
tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Trên cơ sở đó, bổ  
sung quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể có quyền này được  
trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác,  
bao gồm: quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền  
bề mặt.  
thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện; tách bạch giữa thời điểm giao  
dịch có hiệu lực với thời điểm chuyển quyền sở hữu, quyền khác đối với  
tài sản và thời điểm quyền của chủ thể giao dịch có hiệu lực công khai  
đối với xã hội (hiệu lực đối kháng với người thứ ba; việc áp dụng thời  
hiệu theo ý chí của chủ thể giao dịch; bảo đảm sự linh hoạt, sự ổn định  
của giao dịch trong giao dịch dân sự vô hiệu, nhất là giao dịch vô hiệu  
liên quan đến năng lực chủ thể; việc hạn chế quyền của chủ thể giao  
dịch khi có hoàn cảnh thay đổi một cách cơ bản...)  
d. Về trách nhiệm dân sự. Bên cạnh quy định cụ thể chế độ pháp lý  
riêng cho trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, Bộ luật  
cũng đã quy định cụ thể những chuẩn mực pháp lý chung trong xác định  
trách nhiệm dân sự theo hướng bảo đảm sự minh bạch, công bằng và  
bảo đảm sự ổn định trong quan hệ có liên quan. Trong đó: (1) Sự thỏa  
thuận của các chủ thể về trách nhiệm dân sự đều được tôn trọng nếu  
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự; (2) Bên bị thiệt hại  
có quyền được bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại, bên gây thiệt  
hại không chứng minh được không có lỗi để được loại trừ trách nhiệm  
BTTH; (3) Bên có quyền, bên cạnh việc có quyền yêu cầu bên có nghĩa  
vụ vi phạm phải thực hiện trách nhiệm dân sự với mình, cũng phải áp  
dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn  
chế thiệt hại cho chính mình.  
c. Về giao dịch, Bộ luật quy định theo cách tiếp cận mang tính “khai  
thông” về tôn trọng tự do ý chí, tự do kinh doanh trong một thị trường  
phát triển lành mạnh, có tính hội nhập, bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro  
pháp lý, bảo đảm công bằng, hợp lý trong thực hiện quyền về tự do giao  
dịch, tự do kinh doanh, cũng như sự ổn định của các quan hệ xã hội có  
liên quan. Trong đó, Bộ luật tập trung hoàn thiện những quy định mang  
tính chất nền tảng pháp lý của giao dịch trong các quan hệ thị trường  
về cả nội dung, hình thức giao dịch, đại diện, thời hạn và thời hiệu theo  
hướng tạo hành lang pháp lý thông thoáng, an toàn, ít rủi ro pháp lý  
hơn; người dân, doanh nghiệp được xác lập, thực hiện giao dịch theo  
đúng ý chí và nhu cầu của mình trên cơ sở tôn trọng lợi ích quốc gia,  
dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác,  
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bên cạnh  
đó, Bộ luật cũng làm rõ, minh thị hơn về mối quan hệ giữa chủ thể giao  
dịch với chủ thể khác, với Nhà nước và xã hội qua việc quy định nguyên  
tắc về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự; hoàn thiện chế độ pháp lý  
liên quan nhằm bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba  
ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu, trong giao dịch do người có  
2.3. BLDS bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã  
được hiến định trong lĩnh vực dân sự  
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015  
quy định quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân chỉ có thể bị hạn chế  
theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng,  
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của  
cộng đồng; cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền dân sự theo ý chí của  
mình; việc cá nhân, pháp nhân không thực hiện quyền dân sự của mình  
32  
33  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ NHẤT: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ...  
không phải là căn cứ làm chấm dứt quyền, trừ trường hợp luật có quy  
định khác; hoàn thiện chế độ pháp lý về quyền, nghĩa vụ về nhân thân  
và tài sản của các chủ thể trong quan hệ dân sự; dành sự quan tâm đáng  
kể trong việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp lý để hỗ trợ cho một số  
đối tượng là người yếu thế trong xã hội.  
quyết. Đây thực sự là một đột phá quan trọng trong thực hiện Chiến  
lược cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước ta, đáp ứng được nhu cầu  
điều chỉnh đa dạng của quan hệ dân sự, bảo đảm được sự ổn định của hệ  
thống pháp luật tư cũng như góp phần thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền  
con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.  
Mặt khác, khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc  
cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp  
luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.  
2.4. BLDS làm rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của Tòa án, cơ quan  
có thẩm quyền khác trong các quan hệ dân sự  
Liên quan đến vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền dân sự của  
cá nhân, pháp nhân, BLDS năm 2005 chưa quy định cơ chế pháp lý để  
giải quyết vụ việc dân sự khi các bên không có thỏa thuận, không có tập  
quán và không áp dụng được tương tự pháp luật; do đó thẩm phán có  
thể từ chối giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp này. Trong khi  
đó, BLDS và pháp luật chuyên ngành dù có quy mô lớn đến đâu cũng  
không thể điều chỉnh đầy đủ, cụ thể tất cả các tình huống có thể xảy ra  
trong đời sống xã hội. Thực tế đó đã gây ra không ít khó khăn cho Tòa  
án, đặc biệt cho người dân, doanh nghiệp trong việc giải quyết các vụ  
việc dân sự.  
2.5. BLDS đã hoàn thiện quy định về việc áp dụng pháp luật đối  
với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (QHDSYTNN) phù hợp hơn  
với thực tiễn và tương thích với các chuẩn mực chung của pháp luật  
quốc tế  
Quy định của BLDS năm 2015 về cơ bản đã tương thích với các  
chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế, tiến gần tới thực tiễn về tư pháp  
quốc tế trong lĩnh vực dân sự, thương mại của các quốc gia.  
Đặc biệt, so với BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, quyền miễn  
trừ của Nhà nước, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương  
trong tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã được quy định  
cụ thể trong BLDS năm 2015.  
Để phát huy vai trò bảo vệ công lý của Tòa án theo quy định của  
Hiến pháp năm 2013, khắc phục “lỗ hổng” của pháp luật trước nhu  
cầu điều chỉnh đa dạng quan hệ dân sự, lần đầu tiên BLDS năm 2015  
quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do  
chưa có điều luật để áp dụng. Quy định này xác định rõ trách nhiệm của  
Tòa án, trong việc giải quyết tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền con  
người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự. Cùng với quy định đó,  
BLDS năm 2015 cũng đã ghi nhận các công cụ pháp lý đầy đủ hơn cho  
Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp này. Theo đó, khi  
các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không áp  
dụng được tập quán, tương tự pháp luật thì Tòa án có quyền vận dụng  
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải  
Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 quy định về cơ chế ưu tiên thực hiện  
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, ghi nhận cơ chế linh hoạt  
trong giải quyết các QHDSYTNN theo hướng tiếp thu có chọn lọc các  
nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng đã được quốc tế thừa nhận rộng  
rãi, trong đó có cơ chế cho phép chủ thể QHDSYTNN được lựa chọn  
pháp luật áp dụng, quy định chi tiết các hệ thuộc quy phạm xung đột  
pháp luật và thứ tự ưu tiên áp dụng các hệ thuộc này, nhất là đối với  
quan hệ hợp đồng, BTTH ngoài hợp đồng.  
34  
35  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
Các nội dung mới này sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý để thực  
hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, bảo đảm sự hội nhập của nền  
kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển giao lưu  
dân sự giữa Việt Nam với các quốc gia khác và giữa các cá nhân, pháp  
nhân liên quan, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã và đang là thành  
viên của nhiều tổ chức quốc tế đa phương như Tổ chức Thương mại  
thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương  
(APEC), Cộng đồng ASEAN, tham gia nhiều hiệp định thương mại,  
tư pháp quốc tế song phương, các hiệp định thương mại tự do thế hệ  
mới, như: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu  
(EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế  
Á Âu (VN-EAEU FTA), một số công ước của Hội nghị La Hay về Tư  
pháp quốc tế (HccH).  
PHẦN THỨ HAI:  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA  
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
Với những tiếp cận mới, mang tính đột phá nêu trên, BLDS năm 2015  
đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và hoàn thiện pháp  
luật dân sự của Việt Nam. Đây thực sự là một bước tiến lớn trong việc định  
hình cách ứng xử của các cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự, bảo vệ  
tốt hơn các quyền nhân thân và quyền tài sản không chỉ của hơn 94 triệu  
người dân và hơn nửa triệu tổ chức kinh tế của Việt Nam mà còn cả của  
người nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ dân sự, thương mại  
với Việt Nam. BLDS năm 2015 về cơ bản đã tương thích với thông lệ quốc  
tế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để Việt Nam thực hiện các cam kết  
quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như của các  
doanh nghiệp trong các “sân chơi” kinh tế quốc tế. Các quy định mới của  
BLDS năm 2015 được kỳ vọng sẽ góp phần tạo đột phá trong huy động,  
phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Qua đó, nếu được  
thi hành nghiêm chỉnh, BLDS năm 2015 sẽ thực sự góp phần quan trọng  
vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước theo thể chế kinh tế thị  
trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế sâu rộng như tinh thần của  
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra./.  
36  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
I. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA BLDS  
BLDS năm 2015 xác định phạm vi điều chỉnh của BLDS là quy định  
địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử, quyền, nghĩa vụ về  
nhân thân và tài sản của chủ thể trong các quan hệ dân sự. Để phù hợp  
hơn với vị trí, vai trò là luật chung, nền tảng pháp lý của pháp luật điều  
chỉnh các quan hệ dân sự, bảo đảm tính bao quát, dự báo toàn diện, đáp  
ứng được kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ  
dân sự, phạm vi điều chỉnh của BLDS năm 2015 được quy định một  
cách khái quát hơn so với BLDS năm 2005. Theo đó:  
- Bộ luật quy định chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của BLDS nói  
riêng và pháp luật dân sự nói chung bao gồm cá nhân, pháp nhân;  
- Bộ luật thay vì cách quy định liệt kê theo hình thức các quan hệ  
(dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) như  
trong BLDS năm 2005 thì đã tiếp cận theo hướng làm rõ, thống nhất về  
các dấu hiệu chung, cơ bản của các quan hệ dân sự (quan hệ được hình  
thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu  
trách nhiệm). Cách tiếp cận này vừa bảo đảm được tính bao quát, dự  
báo, vừa bảo đảm thể hiện được đúng bản chất pháp lý của các quan hệ  
xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của BLDS và pháp luật dân sự. Qua  
đó, góp phần bảo đảm được sự ổn định trong quy định của BLDS, khắc  
phục được cách nhận thức không đúng là tất cả quan hệ hôn nhân và gia  
đình, kinh doanh, thương mại, lao động đều thuộc phạm vi điều chỉnh  
của BLDS và pháp luật dân sự trong khi về bản chất pháp lý nhiều nội  
39  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
dung trong các quan hệ này thuộc về quan hệ giữa Nhà nước và công  
dân(6).  
- Về nội dung, BLDS năm 2015 đã có những điều khoản chung có  
tính định hướng và chi phối hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật  
dân sự nhằm bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, không mâu thuẫn, chồng  
chéo của hệ thống pháp luật dân sự, nhất là những điều khoản chung về  
áp dụng pháp luật dân sự, xác lập, thực hiện, bảo vệ quyền dân sự, địa  
vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, tài sản, giao dịch dân sự, đại diện,  
thời hạn và thời hiệu; nguyên tắc về xác lập, thực hiện, bảo vệ, hạn chế  
quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản; đối tượng nghĩa vụ, bảo  
đảm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự... BLDS năm 2015 quy  
định cụ thể những quan hệ dân sự truyền thống, có tính ổn định cao,  
như: tài sản, giao dịch dân sự, đại diện, thời hiệu, quyền sở hữu, quy  
định chung về hợp đồng, hợp đồng mua bán, tặng cho, vay, thuê, mượn,  
hợp đồng hợp tác, hợp đồng dịch vụ, BTTH ngoài hợp đồng, thừa kế...  
Qua đó, góp phần thực hiện một trong những quan điểm chỉ đạo quan  
trọng trong việc sửa đổi, bổ sung BLDS lần này là xây dựng BLDS  
thành bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật  
dân sự, có tính khái quát, tính dự báo và tính khả thi để đáp ứng được  
kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội vốn  
rất năng động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, đồng thời  
bảo đảm được tính ổn định của Bộ luật này.  
II. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN  
CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ  
VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ  
1. Về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự  
Như đã đề cập ở Phần thứ nhất, trên cơ sở xác định quan hệ dân sự  
là những quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc  
lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm, Điều 3 BLDS năm 2015 ghi nhận  
05 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự bao gồm:  
(1) Nguyên tắc bình đẳng: mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng,  
không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo  
hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản;  
(2) Nguyên tắc tự do ý chí: cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện,  
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện  
cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm  
của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên  
và phải được chủ thể khác tôn trọng;  
(3) Nguyên tắc thiện chí, trung thực: cá nhân, pháp nhân phải xác  
lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách  
thiện chí, trung thực;  
6. Ví dụ: Nội dung về đăng ký kết hôn, khai sinh, giám hộ... trong quan hệ hôn  
nhân và gia đình; nội dung về đăng ký chủ thể kinh doanh, kiểm soát của cơ quan  
quản lý nhà nước với tổ chức, hoạt động của chủ thể kinh doanh... trong quan hệ kinh  
doanh, thương mại...;  
(4) Nguyên tắc tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp khác không thuộc  
của mình: Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự  
40  
41  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng,  
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác;  
trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp thể hiện chính sách của Nhà nước  
đối với nhóm xã hội, vùng, miền nhất định; BLDS năm 2015 quy định  
vấn đề này một cách hợp lý hơn ở điều khoản về “chính sách của Nhà  
nước đối với quan hệ dân sự” (Điều 7). Bên cạnh đó, những quy định  
về quyền nhân thân của cá nhân, giám hộ, đại diện, thừa kế... cũng có  
sự cân nhắc, ghi nhận về khía cạnh đạo đức, truyền thống tốt đẹp của  
dân tộc.  
(5) Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm dân sự: Cá nhân, pháp nhân phải  
tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng  
nghĩa vụ dân sự.  
So với BLDS năm 2005, nội dung về các nguyên tắc cơ bản của  
BLDS năm 2015 được quy định khái quát, tập trung trong một điều luật  
(Điều 3) thay vì một chương với nhiều điều luật (từ Điều 4 đến Điều 13  
chương II BLDS năm 2005), đồng thời, trong từng nguyên tắc cụ thể,  
nội dung của nguyên tắc cũng được sửa đổi toàn diện, thống nhất hơn,  
trong đó có một số sửa đổi lớn như sau:  
Quy định như trên là dựa trên cơ sở tiếp cận sau đây:  
Một là, thể chế hóa Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của  
Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật  
Việt Nam năm 2010, định hướng đến năm 2020 và cụ thể hóa nội dung,  
tinh thần của Hiến pháp năm 2013(8) về công nhận, tôn trọng, bảo vệ,  
bảo đảm quyền con người, quyền công dân cũng như những tư tưởng,  
nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về  
quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ  
thể không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;  
- BLDS năm 2005 quy định “tuân thủ pháp luật” là một trong những  
nguyên tắc cơ bản (Điều 11). Tuy nhiên, đây không phải là nguyên tắc  
đặc trưng của quan hệ pháp luật dân sự mà là nguyên tắc chung của  
Nhà nước pháp quyền. Do đó, BLDS năm 2015 không ghi nhận lại quy  
định mang tính chung chung này mà thay vào đó quy định cụ thể về  
các trường hợp chủ thể bị giới hạn quyền dân sự hoặc phải tuân thủ quy  
định của pháp luật trong BLDS hoặc luật khác có liên quan;  
Hai là, bảo đảm nhất quán bản chất pháp lý, những nguyên lý, tư  
tưởng chỉ đạo có tính xuyên suốt, ổn định cho hệ thống pháp luật điều  
chỉnh các quan hệ dân sự và phù hợp với thông lệ quốc tế. Qua đó, góp  
phần hình thành nền tảng pháp lý cho chuẩn mực pháp lý về cách ứng  
xử của cá nhân, pháp nhân, cơ quan có thẩm quyền trong đời sống dân  
sự;  
- BLDS năm 2015 cũng không quy định “tôn trọng đạo đức, truyền  
thống tốt đẹp”, “hòa giải”... là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
dân sự. Nguyên tắc hòa giải không tiếp tục được ghi nhận trong BLDS  
năm 2015 bởi vì về bản chất hòa giải thuộc nội dung của các nguyên  
tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và thiện chí, trung  
thực(7). Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp cũng không  
được tiếp tục ghi nhận trong BLDS năm 2015 bởi vì đây không phải là  
nguyên tắc chung cho tất cả các quan hệ dân sự, nội dung của vấn đề tôn  
Ba là, bảo đảm là công cụ pháp lý để Tòa án vận dụng giải quyết  
các vụ việc dân sự khi chưa có quy định của pháp luật, góp phần giữ ổn  
định các quan hệ dân sự, quy định của BLDS, đáp ứng được yêu cầu  
điều chỉnh các quan hệ dân sự đa dạng, linh hoạt, tôn trọng sự đa dạng  
7. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng đã bổ sung quy định về việc Tòa án công  
nhận kết quả hòa giải ngoài tòa án.  
8. Các Điều 13, 14, 15, 16, 32, 33, 51...Hiến pháp năm 2013  
42  
43  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
của thực tế cuộc sống, kịp thời thực hiện, bảo vệ được quyền con người,  
quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.  
luật dân sự hoặc những luật này không có quy định thì quy định  
của BLDS được áp dụng (Điều 4). Theo đó, các nguyên tắc cơ bản  
của pháp luật dân sự đã được điều chỉnh tập trung, thống nhất trong  
BLDS, các luật khác có liên quan không nhất thiết phải quy định lại  
các nguyên tắc này, trường hợp cần ghi nhận thì phải bảo đảm không  
trái với các nguyên tắc cơ bản của BLDS. Bên cạnh đó, để bảo đảm  
phù hợp với mục tiêu điều chỉnh các quan hệ dân sự đặc thù trong  
một số quy định cụ thể, BLDS dẫn chiếu theo quy định của luật khác  
có liên quan. Trong trường hợp luật khác có liên quan không quy  
định hoặc có quy định nhưng vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật dân sự thì quy định của BLDS được áp dụng.  
Cách tiếp cận của BLDS năm 2015 về các nguyên tắc cơ bản của  
pháp luật dân sự như trên không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà còn  
có tác dụng lớn trong thực tiễn, tạo chuẩn mực pháp lý chung, thống  
nhất cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự và  
đảm bảo tính minh bạch của pháp luật; qua đó hạn chế tối đa việc lạm  
dụng, lẩn tránh pháp luật, nhất là trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài  
hay trong việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài tại Việt  
Nam.(9)  
2. Về áp dụng BLDS  
Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng về bảo đảm sự đồng bộ,  
thống nhất trong nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật, nhất là  
trong bối cảnh, bên cạnh BLDS, hệ thống pháp luật dân sự của nước ta  
đã và đang ngày càng có nhiều luật khác có liên quan điều chỉnh quan  
hệ dân sự trong những lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể, như: Bộ luật  
hàng hải năm 2015, Bộ luật lao động năm 2012, Luật hàng không dân  
dụng năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật doanh nghiệp năm  
2014, Luật đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016), Luật đất đai  
năm 2013, Luật nhà ở năm 2014, Luật kinh doanh bất động sản năm  
2014, Luật đấu thầu năm 2013, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,  
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật chuyển  
giao công nghệ năm 2006(10), Luật kinh doanh bảo hiểm 2010, Luật giao  
dịch điện tử năm 2005, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm  
2009(11)...  
Để bảo đảm vị trí, vai trò của BLDS trong xây dựng nền tảng  
pháp lý ổn định, thống nhất cho hệ thống pháp luật dân sự, đồng thời  
để bảo đảm tính linh hoạt, chuyên biệt trong điều chỉnh các quan hệ  
dân sự thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể, BLDS năm 2015  
quy định BLDS là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, đồng  
thời làm rõ hơn về mối quan hệ giữa BLDS với các luật khác có  
liên quan (luật có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự cụ  
thể) theo hướng: Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự  
trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản  
của pháp luật dân sự được quy định trong BLDS, trường hợp quy  
định của luật khác có liên quan vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp  
9. Trong thực tiễn những năm qua, nhiều phán quyết của trọng tài nước ngoài  
không được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam vì lý do “vi  
phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, trong đó có các nguyên tắc cơ  
bản quy định tại các BLDS trước đây. Hệ lụy của nó là, trong hầu hết các hợp đồng  
thương mại, đầu tư, thậm chí bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam với nước ngoài, đối  
tác đều đưa ra điều kiện lấy pháp luật nước ngoài, chứ không phải pháp luật Việt Nam,  
làm luật áp dụng. Cách tiếp cận như trên của BLDS năm 2015 sẽ góp phần tránh được  
tình trạng này.  
10. Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 đã được thay thế bởi Luật chuyển giao  
công nghệ năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018).  
11. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã được thay thế bởi  
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2017).  
44  
45  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
Bên cạnh đó, mặc dù hệ thống pháp luật dân sự ngày càng hoàn thiện  
nhưng trong bối cảnh phát triển nền kinh tế vận hành theo quy luật thị  
trường và hội nhập quốc tế, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản  
trong giao lưu dân sự hoặc ngày càng phát sinh mới hoặc ngày càng đa  
dạng về nội dung, phức tạp về tính chất quan hệ nên có thể dẫn tới có  
những “khoảng trống pháp lý”. Trong trường hợp này, Nhà nước cần  
phải tạo ra những căn cứ, công cụ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền  
giải quyết những vấn đề còn có “khoảng trống pháp lý”, kịp thời tôn  
trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân về dân sự,  
bảo đảm được sự ổn định của quan hệ dân sự và các quan hệ xã hội khác  
có liên quan.  
quốc tế, BLDS năm 2015 quy định cụ thể hơn về việc áp dụng tập quán,  
áp dụng tương tự pháp luật. Trong đó:  
3.1 Về áp dụng tập quán  
BLDS đã chính thức ghi nhận khái niệm tập quán tại khoản 1 Điều 5,  
theo đó tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền,  
nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình  
thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận  
và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư  
hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Khoản 2 Điều 5, Điều 6 BLDS năm  
2015 tiếp tục ghi nhận vị trí của tập quán là nguồn luật bổ sung có vị  
trí đầu tiên trong trường hợp pháp luật không quy định, sau đó mới đến  
các nguồn khác như quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự  
tương tự, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng.  
Trong bối cảnh như vậy, BLDS với vị trí, vai trò là bộ luật nền, luật  
chung của hệ thống pháp luật dân sự thì cần phải bảo đảm thực hiện ba  
chức năng cơ bản:  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 BLDS năm 2015, tập quán được  
áp dụng khi đảm bảo các điều kiện sau:  
(1) Quy định những vấn đề cơ bản nhất, chung nhất có liên quan đến  
tất cả các lĩnh vực thuộc đời sống dân sự;  
(1) Tập quán được áp dụng khi ”các bên không có thoả thuận” về  
(2) Định hướng cho việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật  
điều chỉnh các quan hệ dân sự đặc thù;  
quyền, nghĩa vụ của các bên và các vấn đề khác có liên quan.  
(2) Tập quán được áp dụng trong trường hợp “pháp luật không quy  
định” để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó.  
(3) Khi các luật khác có liên quan không có quy định về một quan hệ  
dân sự cụ thể thì BLDS phải có đủ quy định để tạo căn cứ pháp lý hoặc  
công cụ pháp lý để điều chỉnh.  
(3) Tập quán không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật dân sự(12).  
3. Về áp dụng tập quán, áp dụng quy định của pháp luật điều  
chỉnh quan hệ dân sự tương tự  
Như vậy, trong trường hợp các bên trong hợp đồng có thỏa thuận về  
việc quyền và nghĩa vụ được xác định theo tập quán (chẳng hạn như tập  
Để bảo đảm tính khả thi trong quy định của BLDS và luật khác có  
liên quan, tạo cơ chế pháp lý đầy đủ hơn trong giải quyết vụ việc dân  
sự, trên cơ sở kế thừa quy định của BLDS năm 1995, BLDS năm 2005,  
quy định của Luật thương mại, Luật hôn nhân và gia đình... và thông lệ  
12. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, việc áp dụng tập quán còn không được  
vi phạm điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình (khoản 1 Điều 7 Luật Hôn nhân và  
gia đình năm 2014).  
46  
47  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT ...  
quán thương mại quốc tế (Incoterm)(13), các quy tắc và thực hành thống  
nhất về tín dụng chứng từ (UCP600)(14)...) thì các tập quán này sẽ được  
áp dụng. Các bên cũng hoàn toàn có quyền thỏa thuận các nội dung về  
quyền và nghĩa vụ của mình miễn là các thỏa thuận đó không vi phạm  
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, không vi phạm điều cấm. Trong  
trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật cũng không có quy  
định cụ thể và có tập quán điều chỉnh về quan hệ cụ thể của các bên thì  
tập quán sẽ được áp dụng.  
là nguồn luật bổ trợ, được áp dụng khi không có pháp luật quy định  
cần lưu ý trong một số ít trường hợp ngoại lệ, vị trí của tập quán có thể  
có điểm khác biệt, chẳng hạn như một số trường hợp có tập quán điều  
chỉnh mối quan hệ nhất định thì hệ quả pháp lý có thể khác với các  
trường hợp thông thường, cụ thể là trường hợp xác định bên có nghĩa  
vụ sửa chữa tài sản thuê (khoản 1 Điều 477 BLDS) , về thời hạn xác  
lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lại (khoản 1 Điều 231 BLDS),  
xác định nghĩa vụ BTTH do súc vật thả rông gây ra (khoản 4 Điều 603  
BLDS)  
Đồng bộ với quy định của BLDS, khoản 1 Điều 45 Bộ luật tố tụng  
dân sự năm 2015 cũng quy định về áp dụng tập quán, theo đó “Tòa án  
áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các  
bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không  
được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại  
Điều 3 của BLDS. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương  
sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng. Tòa  
án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng  
quy định tại Điều 5 của BLDS. Trường hợp các đương sự viện dẫn các  
tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được  
thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự”.  
Bộ luật cũng đã ghi nhận về thói quen trong một số quan hệ dân sự  
như thói quen trong chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (khoản 2 Điều  
393).  
3.2. Về áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân  
sự tương tự  
Áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ tương tự được  
hiểu là việc dùng những quy phạm pháp luật đang có hiệu lực điều  
chỉnh những quan hệ tương tự như quan hệ cần xử lý để điều chỉnh  
quan hệ cần xử lý đó. Áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan  
hệ tương tự là biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những khoảng trống  
của pháp luật, hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật thực định.  
Ngoài quy định có tính nguyên tắc chung, BLDS năm 2015 còn có  
các quy định dẫn chiếu cho phép áp dụng tập quán trong một số quan  
hệ, tình huống cụ thể như là một phần của việc áp dụng điều luật (tập  
quán phụ thuộc điều luật)(15). Bên cạnh việc xác định vị trí của tập quán  
BLDS năm 2015 quy định việc áp dụng công cụ pháp lý này theo  
hai cách tiếp cận: (1) Trường hợp không có quy định pháp luật trực tiếp  
điều chỉnh, các bên không có thỏa thuận và cũng không có tập quán  
được áp dụng thì áp dụng quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh quan  
hệ dân sự tương tự để giải quyết vụ việc dân sự (nghĩa hẹp của tương  
tự pháp luật); (2) Trường hợp không có quy phạm pháp luật cụ thể điều  
chỉnh quan hệ dân sự tương tự thì có thể áp dụng các nguyên tắc cơ bản  
của pháp luật dân sự án lệ, lẽ công bằng để giải quyết (Điều 6).  
13. Incoterms là viết tắt của International Commerce Terms - Các tập quán thương  
mại quốc tế.  
14. Bộ quy tắc này được Ủy ban kỹ thuật và Tập quán Ngân hàng thuộc Phòng  
Thương mại Quốc tế (ICC) tập hợp và công bố.  
15. Cụ thể xem các điều 26, 29, 121, 175, 208, 211, 231, 262, 404, 432, 433, 452,  
471, 477, 481, 603, 658, 666... BLDS năm 2015.  
48  
49  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 130 trang Thùy Anh 14161 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Những điểm mới cơ bản của bộ luật dân sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_nhung_diem_moi_co_ban_cua_bo_luat_dan_su_nam_2015.pdf