Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ VIỄN  
THÔNG DI ĐỘNG Ở KHU VỰC TP.HCM  
THE FACTORS AFFECTING CUSTOMER SATISFACTION ON USING MOBILE  
TELECOMMUNICATIONS SERVICES IN HO CHI MINH CITY  
Ngô Cao Hoài Linh  
Trường Đại học Công nghiệp TPHCM  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Kết hợp các phương pháp  
nghiên cứu định tính và định lượng tác giả tiến hành khảo sát 200 khách hàng đang sử dụng dịch vụ viễn thông  
di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh là: (1) khuyến mãi quảng  
cáo; (2) dịch vụ gia tăng; (3) cấu trúc giá; (4) chất lượng cuộc gọi (5) dịch vụ khách hàng. Dựa vào kết quả  
này, nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của  
khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để các công ty  
viễn thông đưa ra các định hướng, các chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ để có thể đứng vững trên thị  
trường trong khu vực và trên toàn quốc.  
Từ khóa: Sự hài lòng, dịch vụ, viễn thông di động, TP. Hồ Chí Minh.  
Abstract  
This study was conducted to analyze factors affecting customer satisfaction about the use of mobile  
telecommunications services in Ho Chi Minh city. Combining qualitative and quantitative research methods, the  
author conducted a survey of 200 customers who are using mobile telecommunications services in Ho Chi Minh  
city. The research results show that 5 factors affect customer satisfaction about using mobile  
telecommunications services in Ho Chi Minh city is: (1) advertising promotions; (2) value added services; (3)  
price structure; (4) call quality (5) customer service. Based on this result, the study has proposed a number of  
solutions and recommendations to improve service quality, customer satisfaction about the use of mobile  
telecommunications services in Ho Chi Minh city. This is the basis for telecom companies to give orientations,  
strategies to improve service quality to be able to stand firm on regional and national markets.  
Keywords: Satisfaction, service, mobile telecommunications, Ho Chi Minh city.  
1. Đặt vấn đề  
Việc làm khách hàng hài lòng đã trở thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và  
tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh  
nghiệp [1,7]. Thực tế kinh doanh cho thấy, một doanh nghiệp nếu gia tăng được 5% khách hàng trung  
thành nhờ sự hài lòng của họ về sản phẩm, dịch vụ, thì lợi nhuận sẽ tăng lên được khoảng 25% đến  
85% [1]. Điều này cũng hoàn toàn đúng với ngành dịch vụ viễn thông di động ở nước ta, nơi đang  
được xem là một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng bậc nhất châu Á. Sự khác biệt của  
dịch vụ viễn thông di động so với các ngành khác là ở chỗ: làm khách hàng thỏa mãn thì cần phải có  
những phương thức riêng, và gắn liền với chất lượng dịch vụ viễn thông di động, mà thường được  
khách hàng rất dễ cảm nhận [2]. Khi không làm thỏa mãn khách hàng thì không những nhà cung cấp  
dịch vụ đó rất khó giữ được khách hàng hiện tại, mà còn đứng trước nguy cơ làm mất đi các khách  
hàng tiềm năng khác, bởi vì một khách hàng nếu thất vọng sẽ kể cho nhiều người khác. Tuy vấn đề có  
tầm quan trọng như vậy, nhưng cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này, đặc biệt  
trong lĩnh vực viễn thông di động, nơi mà yếu tố khách hàng hài lòng sẽ trở thành vấn đề then chốt  
trong chiến lược cạnh tranh giữa những nhà cung cấp dịch vụ. Điều này càng trở nên đặc biệt hơn sau  
khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO với những cam kết mở cửa hoàn toàn thị  
896  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
trường viễn thông cho các đối tác nước ngoài. Phạm vi nghiên cứu tập trung việc làm rõ sự hài lòng  
của khách hàng cũng như những nhân tố ảnh hưởng của nó trong số các khách hàng sử dụng dịch vụ  
của ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động hàng đầu hiện nay của nước ta: Vinaphone, Mobifone,  
và Viettel tại Thành phố Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những lý do trên bài viết tập trung nghiên cứu sự  
hài lòng của khách hàng đối với việc sử dụng mạng di độnhg ở TP. Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra các giải  
pháp cũng như các kiến nghị lên các doanh nghiệp để họ có những chiến lược phát triển sản phẩm cụ  
thể hơn, đáp ứng được yêu cầu của mọi khàng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nói chung và các tỉnh  
thành khác nói riêng.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Dịch vụ  
Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ như “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và  
các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích  
của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách  
hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” (Bùi Nguyên Hùng, 2004). Theo Zeithaml &  
Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm  
tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn. Theo Gronroos (1990) dẫn theo Paul Lawrence  
Minner 1998, dịch vụ là một hoạt động hoặc một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, những  
không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ, các nguồn lực  
vật chất, cấc hệ thống cung cấp dịch vụ như là các giải quyết vấn đề của khách hàng. Theo ISO 8402,  
“Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt  
động nội bộ của bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu khách hàng”. Theo Philip Kotler, dịch vụ là bất kỳ  
hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất  
thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ  
có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Còn theo Adam Smith từng định  
nghĩa rằng, "dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc  
công, ca sĩ ôpêra, vũ công... Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". C. Mác  
cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển  
mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó  
của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"  
2.1.2. Dịch vụ viễn thông  
Theo quan điểm của Pete Moulton [II.9, Pg.25]: “Viễn thông là khoa học của sự truyền đạt  
thông tin qua một khoảng cách dài sử dụng công nghệ điện thoại hoặc công nghệ vô tuyến, nó liên  
quan đến việc sử dụng các công nghệ vi điện tử, công nghệ máy tính và công nghệ máy tính cá nhân để  
truyền, nhận và chuyển mạch âm thanh, dữ liệu, hình ảnh qua các phương tiện truyền dẫn khác nhau  
như cáp đồng, cáp quang và truyền dẫn điện từ”. Tương tự quan điểm của Pete Moulton, trong bảng  
phân ngành của mình, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) [II.14] cũng định nghĩa: “Viễn thông là tất  
cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng  
nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống  
điện từ khác”. Dịch vụ viễn thông được chia thành hai nhóm: Dịch vụ viễn thông cơ bản và Dịch vụ  
giá trị gia tăng. Dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm tất cả các dịch vụ viễn thông công cộng và tư nhân  
cung cấp truyền dẫn thông tin đến thiết bị đầu cuối của khách hàng. Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng  
là những dịch vụ viễn thông mà nhà cung cấp “bổ sung thêm các giá trị” cho các thông tin của khách  
hàng qua việc nâng cao hình thức hoặc nội dung của thông tin hoặc cung cấp nhằm lưu trữ và khôi  
phục thông tin. Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông được Quốc Hội Nước Cộng Hoà  
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 25/5/2002 [I.19 T.121-122, T.134], các khái  
niệm thuộc lĩnh vực viễn thông được đề cập gồm thiết bị viễn thông, thiết bị mạng, thiết bị đầu cuối,  
điểm kết cuối, dịch vụ viễn thông, đường truyền dẫn, tài nguyên thông tin (kho số viễn thông, phổ tần  
897  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
số vô tuyến điện, tài nguyên internet, quỹ đạo vệ tinh), sóng vô tuyến điện, thiết bị vô tuyến. Dịch vụ  
viễn thông được định nghĩa là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh  
hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Dịch vụ viễn thông  
cũng được phân chia thành dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng. Bên cạnh  
đó, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông còn bổ sung thêm dịch vụ kết nối internet, dịch vụ truy nhập  
internet và dịch vụ ứng dụng internet.  
2.1.3. Sự hài lòng  
Sự hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được áp ứng những mong muốn Theo  
Oliver (1997). Theo Tse và Wilton (1988), sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc  
ước lượng sự khác nhau giữa mong muốn trước đó và sự thể hiện thực sự của sản phẩm như là sự chấp  
nhận sau khi dùng nó. Theo David K. Tse (1990) thì cho rằng sự hài lòng là một biến trạng thái khách  
quan hoặc chủ quan, là một quá trình tương tác đa chiều giữa các hoạt động hành vi tinh thần và công  
khai diễn ra sau khi mua theo thời gian. Theo Teerence Levesque và Gordon H.G McDougall (1996),  
sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái, cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ  
sáu khi sử dụng dịch vụ đó. Còn theo Philip Kotler (2001) cho rằng sự hài lòng là mức độ của trạng  
thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với  
những kỳ vọng của người.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Chất lượng cuộc gọi  
Cấu trúc giá  
Khuyến mãi quảng cáo  
Sự hài lòng  
H3+  
Dịch vụ gia tăng  
Dịch vụ khách hàng  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu  
Giả thiết nghiên cứu:  
H1: Chất lượng cuộc gọi có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng  
dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
H2: Cấu trúc giá có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch vụ  
viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
H3: Khuyến mãi quảng cáo có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử  
dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
H4: Dịch vụ gia tăng có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch  
vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
H5: Dịch vụ khách hàng có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng  
dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
898  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Để đưa ra những nhận xét, đánh giá, phân tích cũng như những giải pháp phù hợp với thực tế,  
đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp hỗn hợp, phối hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính  
và phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 giai đoạn:  
Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính sử dụng kỹ  
thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục đích nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ sung thang  
đo các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở  
khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng. Kỹ thuật  
phỏng vấn trực tiếp được thực hiện từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018 tại khu vực TP. Hồ  
Chí Minh, sử dụng phương pháp thu thập thuận tiện 200 mẫu khảo sát được khảo sát trực tiếp các  
khách hàng đang sử dụng các dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Tất cả các số  
liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát sẽ được mã hóa, xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Để đảm  
bảo độ tin cậy thang đo, những biến quan sát này phải có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,4 và có  
hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,7. Phân tích nhân tố EFA dùng để rút gọn và tóm tắt các dữ liệu.  
Mỗi biến quan sát sẽ được tính một tỷ số gọi là hệ số tải nhân tố (Factor Loading) (>0,5), hệ số này  
dùng để phân nhóm các nhân tố. Sau mỗi lần phân nhóm, tiến hành xem xét hệ số KMO (Kaiser-  
Mayer-Olkin) phải thuộc khoảng [0,5; 1] và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05) thì các  
biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể. Sau khi kiểm định thang đo bằng phương pháp hệ  
số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA. Tác giả tiến hành phân tích hồi quy bội  
để kiểm định mô hình nghiên cứu.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Kết quả kiểm định thang đo  
Kết quả kiểm định thang đo chính thức (Bảng 1), hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,7 và hệ số  
tương quan biến tổng của các biến quan sát đều đạt chuẩn cho phép (>0,4). Vì thế, tất cả các thang đo  
đều được chấp nhận và được đưa vào phân tích nhân tố EFA.  
Bảng 1: Kiểm định độ tin cậy thang đo  
Mã hóa  
CLCG  
CTG  
Thành phần  
Chất lượng cuộc gọi  
Cấu trúc giá  
Hệ số Cronbach’s Alpha  
0,737  
0,898  
0,845  
0,875  
0,753  
0,753  
KMQC  
DVGT  
DVKH  
HL  
Khuyến mãi quảng cáo  
Dịch vụ gia tăng  
Dịch vụ khách hàng  
Sự hài lòng  
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích SPSS  
4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis)  
Kiểm định Bartlett (bảng 2) với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 < 0,05; hệ số KMO = 0,861. Kết quả  
này chỉ ra rằng các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau.  
Bảng 2: Kiểm định KMO và Bartlett  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
Sig.  
0,861  
0,000  
899  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 3: Bảng tích nhân tố  
Nhân tố  
Tên biến  
Ký hiệu  
1
2
3
4
5
DVKH3  
DVKH2  
DVKH4  
DVKH5  
DVKH7  
DVKH6  
DVKH1  
CTG2  
0,756  
0,745  
0,730  
0,729  
0,716  
0,715  
0,668  
Dịch vụ khách  
hàng  
(DVKH)  
0,862  
0,861  
0,824  
0,811  
Cấu trúc giá  
CTG4  
CTG1  
CTG3  
(CTG)  
KMQC1  
KMQC4  
KMQC3  
KMQC2  
DVGT1  
DVGT3  
DVGT2  
CLCG1  
CLCG2  
CLCG3  
0,795  
0,782  
0,774  
0,747  
Khuyến mãi quảng  
cáo  
(KMQC)  
0,846  
0,846  
0,816  
Dịch vụ gia tăng  
(DVGT)  
Chất lượng cuộc  
gọi  
(CLCG)  
Eigenvalue  
Phương sai trích (%)  
0,814  
0,787  
0,767  
1,350  
6,428  
68,365  
6,997  
33,317  
33,317  
2,164  
10,305  
43,622  
2,133  
10,156  
53,777  
1,713  
8,159  
61,937  
Tổng phương sai trích (%)  
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích SPSS  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá ở bảng 3 cho thấy tổng phương sai trích là 68,365%  
(>50%), điều này có nghĩa các nhân tố trích lại giải thích được 68,365% cho mô hình, còn lại 31,365%  
sẽ được giải thích bởi những nhân tố khác. Tỷ số rút trích nhân tố (Eigenvalue) đều lớn hơn 1 nên  
được giữ lại. Từ kết quả trên cho thấy mô hình phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) là  
phù hợp với dữ liệu với 5 nhóm nhân tố và có thể sử dụng kết quả này cho phân tích hồi quy bội.  
4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính bội  
Để đo lường các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng, tác giả tiến hành phân tích hồi  
quy tuyến tính bội và kiểm định các giả thuyết của mô hình với 5 nhóm yếu tố là biến độc lập để đo  
lường về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.  
Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy bội  
Beta đã chuẩn hóa  
T
Mức ý nghĩa  
0,000  
0,000  
0,001  
0,001  
Khuyến mãi quảng cáo (X1)  
Dịch vụ gia tăng (X2)  
Cấu trúc giá (X3)  
Chất lượng cuộc gọi (X4)  
Dịch vụ khách hàng (X5)  
F – Value  
0,372  
0,317  
0,163  
0,155  
0,150  
7,421  
6,484  
3,493  
3,537  
3,055  
0,003  
77,893  
Sig.  
0.000  
0,668  
0,659  
1,749  
R2 - Value  
Adjuster R2 – value  
Durbin-Watson  
Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích SPSS  
900  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Kết quả phân tích hồi quy được trình bày qua bảng 4 cho thấy R2 = 0,668 nghĩa là mô hình hồi  
quy tuyến tính trên có độ thích hợp đến 66,8%. Hiệu chỉnh R2 = 0,659; điều này có nghĩa là 65,9% sự  
hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh được  
giải thích bằng 5 nhóm biến quan sát đề cập đến trong mô hình. Còn lại 34,1% sự hài lòng của khách  
hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh được giải thích bởi các  
biến khác nằm ngoài mô hình.  
Giá trị F=77,893 và các giá trị sig < 0,05 cho thấy mô hình hồi quy xây dựng là phù hợp với dữ  
liệu thu thập được và các biến đều có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa là 5%. Các biến đưa  
vào mô hình có mối quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc, chính vì vậy các giả thuyết X1, X2, X3, X4,  
X5 đều được chấp nhận. Mô hình hồi quy tuyến tính các nhân tố như sau:  
Y = 0,372*X1 + 0,317*X2 + 0,163*X3 + 0,155*X4 + 0,150*X5.  
5. Kết luận và đề xuất  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ viễn thông di  
động ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Mức độ tác động của các yếu tố lần lượt như sau: (1) khuyến mãi  
quảng cáo; (2) dịch vụ gia tăng; (3) cấu trúc giá; (4) chất lượng cuộc gọi; (5) dịch vụ khách hàng. Từ  
kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra các giải pháp sau đây để các doanh nghiệp đưa ra các chiến lược cụ  
thể nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông di động để đáp sự hài lòng của khách hàng ở khu  
vực TP. Hồ Chí Minh.  
Về khuyến mãi quảng cáo: Là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đối với sự hài lòng của khách  
hàng về việc sử dụng mạng di động ở TP. Hồ Chí Minh, để nâng cao khuyến mãi quảng cáo bằng  
cách: tăng cường khuyến mãi hằng tháng trên các nhà mạng di động, chặn những tin nhắn rác nắn tin  
đến với khách hàng, phát hành những thẻ giảm giá với các gói dịch vụ di động, tổ chức các sự kiện  
quảng cáo đặc biệt để thu hút khách hàng, miễn phí và tặng thêm cho khách hàng những gói cước phù  
hợp khi khách hàng đăng ký.  
Về dịch vụ gia tăng: Là yếu tố tác động mạnh thứ hai đối với sự hài lòng của khách hàng về  
việc sử dụng mạng di động ở TP. Hồ Chí Minh, để nâng cao dịch vụ gia tăng bằng cách: (cải thiện dịch  
vụ, tăng cường cung cấp dịch vụ mới, đưa ra nhiều tiện ích mới cho khách hàng. Bởi hiện nay yếu tố  
“tổn thất chuyển đổi” một dạng của rào cản tiêu cực vẫn là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến lòng  
trung thành của khách hàng. Điều này có thể thay đổi khi có chính sách “chuyển mạng giữ số” yếu tố  
này sẽ không còn ý nghĩa gì nữa.  
Về cấu trúc giá: Là yếu tố tác động mạnh thứ ba đối với sự hài lòng của khách hàng về việc sử  
dụng mạng di động ở TP. Hồ Chí Minh, để nâng cao cấu trúc giá bằng cách cải thiện dịch vụ, đưa ra  
nhiều gói dịch vụ có giá phù hợp với khách hàng, thêm nhiều gói đăng ký tháng, ngày để có những giá  
phù hợp để khách hàng có thể chọn lựa phù hợp.  
Về chất lượng cuộc gọi: Là yếu tố tác động mạnh thứ ba đối với sự hài lòng của khách hàng  
về việc sử dụng mạng di động ở TP. Hồ Chí Minh, để nâng cao chất lượng cuộc gọi bằng cách: các  
nhà mạng cần xây dựng hạ tầng phủ song, thực hiện việc ứng cứu thông tin khi xảy ra sự cố (mất điện,  
đứt cáp…) một cách nhanh chóng để đảm bảo hệ thống liên lạc của khách hàng được thông suốt.  
Về dịch vụ khách hàng: Là yếu tố tác động mạnh thứ tư đối với sự hài lòng của khách hàng về  
việc sử dụng mạng di động ở TP. Hồ Chí Minh, để nâng cao dịch vụ khách hàng bằng cách: Thường  
xuyên cử nhân viên gọi điện thăm hỏi khách hàng, lắng nghe những phản hồi từ khách hàng; Thông  
cảm, giải thích rõ ràng cho khách hàng khi họ chưa hiểu về dịch vụ các mạng di độnh. Nâng cao chất  
lượng phục vụ của nhân viên khi tư vấn cho khách hàng, tạo ra môi trường làm việc thân thiện, vui vẻ,  
nhiệt tình tạo thiện cảm khi gặp khách hàng.  
901  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu trong nước  
1. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), Dự thảo chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt  
Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội.  
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận của khách hàng sử dụng dịch vụ thông tin di động của công ty  
dịch vụ viễn thông Vinaphone. Luận văn Thạc Sĩ. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Phan Chí  
Anh, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Huệ Minh, 2013.  
3. Garry D. Smith, Danny R. Arnold and Bobby G. Bizzell (1997), Chiến lược và chính sách kinh doanh,  
NXB Thống kê, Hà Nội.  
4. Giáo trình thông tin di động của Nguyễn Phan Anh Dũng (2003).  
5. Hà Thị Thu Hiền (2017), Trường Đại học Kinh tế Huế, Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng  
của khách hàng sử dụng dịch vụ Vinaphone trên địa bàn tỉnh Đakrong, tỉnh Quảng Trị.  
6. Hệ thống các văn bản pháp luật về bưu chính viễn thông (2004), Nhà Xuất Bản Lao Động.  
7. Nghiên cứu các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ. Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh.  
8. Phạm Đức Kỳ (2007), Nghiên cứu tác động của chất lượng dịch vụ viễn thông di động đến sự trung thành  
khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Bách Khoa Hồ Chí Minh.  
9. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Nguyễn Đình Thọ, 2013.  
10. Trần Đăng Khoa (2007), Phát triển ngành viễn thông Việt Vam đến năm 2020.  
11. TCVN ISO 8402:1999 do Ban Kĩ thuật TCVN/TC176 “Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng” biên  
soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường ban  
hành.  
12. Võ Nguyên Khanh (2011), Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công khi ứng  
dụng tiêu chuẩn iso tại ủy ban nhân dân quận 1 TP. Hồ Chí Minh.  
13. Vũ Đức Đam (1996), Phát triển viễn thông trong nền kinh tế hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
14. Viện Chiến lược BCVT & CNTT – Bộ Bưu chính Viễn thông (2005), Dự thảo chiến lược phát triển ngành  
viễn thông Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.  
Tài liệu nước ngoài  
15. Danesh, S.N.(2012), The study of customer satisfactions, customer trust and barriers on customer retention  
in Malaysia Hypermarket, International switching Journal of Bussiness and Management, 7(7), 141 -150.  
16. David K. Tse, Franco M. Nicosia, Peter C. Wilton (1990). Consumer satisfaction as a process. Vol. 7, No.  
3, pp. 177-193, 1990.  
17. Gerpott, T., Rams, W., & Schindler, A. (2001). Customer retention, loyalty, and satisfaction in the German  
mobilecellular telecommunications market, Telecommunication Policy, 25(4), 249–269.  
18. Grönroos, C (1984), A Service Quality Model and Its Marketing Implications, European Journal of  
Marketing, 18 (4): 36-44.  
19. Gremler, D. D & Brown (1996). The effect of satisfaction, switching costs, and interpersonal bonds on  
service loyalty. Unpublished dissertation, Arizona State University  
20. Hanzaee, K.H., & Nasimi, M.A. (2012), Path Analysis of perceived service quality, satisfaction and  
Loyalty in the banking industry of Iran, Research journal of applied sciences, engineering and technology,  
4(10), 1351 – 1358.  
21. Hair, J.F., Black, W.C., Babin, B.J., Anderson, R.E. & Tatham, R.L. (2006), Mutilvariate data analysis, 6th  
ed, Upper Saddle River NJ, Prentice –Hall.  
22. Khan, M.A. (2010), An Empirical assessment of service quality of cellular mobile telephone operators in  
Pakistan, Asian Social Science, 6(10), 164 -177.  
902  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
23. Kim, M.K., Park, M.C. & Joeng, D.H. (2004), The effect of customer satisfaction and switching barriers on  
customer loyalty Telecommunications Policy, in Korean mobile telecommunication services, 145 -149.  
24. Oliver, R. L. (1997). Satisfaction: A Behavioural Perspective on the Customer. New York: McGraw-Hill.  
25. Oliver, R. L., & Bearden, W. O. (1985). Disconfirmation Processes anConsumer Evaluations in Product  
Usage . Journal of Business Research , 13:235-246.  
26. Zeithaml, V. A., & Bitner, M. J. (2000). Services Marketing: Integrating Customer Focus Across the Firm.  
Irwin McGraw- Hill.  
903  
pdf 8 trang Thùy Anh 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về việc sử dụng dịch vụ viễn thông di động ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_su_hai_long_cua_khach_hang_ve_viec_su_dung_dich_v.pdf