Mù điếc và hội chứng rối loạn phổ tự kỉ: Những đặc điểm giống nhau - Sự tương đồng trong phương pháp giáo dục

Trịnh Thị Thu Thanh, Nguyễn Thị Hằng  
Mù điếc và hội chứng rối loạn phổ tự kỉ:  
Những đặc điểm giống nhau - Sự tương đồng  
trong phương pháp giáo dục  
Trịnh Thị Thu Thanh1, Nguyễn Thị Hằng2  
TÓM TẮT: Bài báo nghiên cứu những đặc điểm giống nhau giữa mù điếc và hội  
1 Email: thuthanh12[email protected]  
2 Email: hangk56@gmail.com  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
chứng rối loạn phổ tự kỉ về giao tiếp, tương tác xã hội, hành vi, sự thay đổi  
trong thói quen, tiếp nhận thông tin cảm giác và kĩ năng điều hành. Từ đó,  
nhóm tác giả bàn luận đến cách thức chẩn đoán, đánh giá rối loạn phổ tự kỉ ở  
trẻ mù điếc và phương pháp giáo dục trẻ mù điếc dựa trên các phương pháp  
giáo dục trẻ tự kỉ đang được sử dụng phổ biến hiện nay.  
TỪ KHÓA: Rối loạn phổ tự kỉ; mù điếc; đặc điểm giống nhau; giao tiếp; tương tác xã hội.  
Nhận bài 01/7/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 21/10/2020 Duyệt đăng 25/4/2021.  
1. Đặt vấn đề  
cho trẻ điếc hay chương trình GD dành cho trẻ mù không  
Các nghiên cứu trên thế giới hiện nay đã chỉ ra rối loạn thể đáp ứng được nhu cầu học tập của trẻ mù điếc. Trẻ  
phổ tự kỉ (ASD) và các khiếm khuyết giác quan có liên mù điếc có hai dạng chính là mù điếc bẩm sinh và mù  
điếc mắc phải. Mù điếc bẩm sinh là tình trạng sinh ra  
đã điếc và mù, hoặc xuất hiện điếc và mù rất sớm sau  
khi sinh. Mù điếc mắc phải bao gồm 3 nhóm: Nhóm  
1, khiếm thính bẩm sinh và giảm dần thị lực; Nhóm 2,  
khiếm thị bẩm sinh và suy giảm dần thính lực; Nhóm 3,  
sinh ra không bị khiếm thính cũng như không bị khiếm  
thị nhưng mắc phải suy giảm thính lực và suy giảm thị  
lực trong quá trình sinh sống. Những khó khăn chính mà  
trẻ mù điếc gặp phải là kĩ năng giao tiếp, tiếp cận, thu  
nhận thông tin để khám phá môi trường xung quanh [2].  
Theo Hiệp hội Mù điếc Tây Ban Nha, việc thiếu hụt  
hai kênh tiếp nhận thông tin chính là thị giác và thính  
giác, khiến cho quá trình tri giác của trẻ mù điếc gặp rất  
nhiều khó khăn. Trẻ tri giác không trọn vẹn, thậm chí  
trẻ không hiểu được những gì đang diễn ra xung quanh  
mình. Những thách thức trong việc học kĩ năng giao tiếp  
được cho là khó khăn lớn nhất đối với trẻ mù điếc. Đối  
với những trẻ mù điếc bẩm sinh mà không được can  
thiệp thì kĩ năng giao tiếp không thể phát triển một cách  
tự nhiên, hoặc giao tiếp ở mức rất cơ bản bằng các cử chỉ.  
Một số trẻ mù điếc mà khả năng nghe còn lại tương đối  
tốt thì trẻ có thể sử dụng được từ đơn hoặc cụm từ ngắn.  
ASD là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc  
đời, thường xuất hiện trong ba năm đầu đời. Tự kỉ là rối  
loạn do thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt  
động của não bộ. Đặc điểm của tự kỉ là những khiếm  
khuyết về tương tác xã hội; giao tiếp ngôn ngữ và phi  
ngôn ngữ; có hành vi, sở thích và hoạt động mang tính  
hạn hẹp và lặp đi lặp lại [3].  
quan đến nhau theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt là  
với những trường hợp mù điếc. Trong những nghiên cứu  
gần đây về ASD của các tác giả như Donnellan, Hill,  
Leary (2010), Schirmer (2013), Haussler (2016) và  
Rollet, Kastner - Koller (2018) đều đề cập đến mối liên  
hệ của ASD với các đặc điểm của khó khăn về quá trình  
tri giác và chú ý. Mặt khác, theo Vaan và cộng sự (2013),  
ASD xuất hiện ngày càng nhiều ở những người có khiếm  
khuyết giác quan và khuyết tật trí tuệ. Những người có  
khiếm khuyết giác quan cũng có những biểu hiện hành  
vi giống với những người mắc hội chứng ASD, một vài  
những biểu hiện có sự chồng chéo nhau, đặc biệt là trong  
trường hợp với những người bị mù điếc. Trẻ mù điếc  
thường phản ứng mang tính tự kỉ hoặc có những hành vi  
như hội chứng rối loạn phổ tự kỉ. Mặc dù trẻ có thể vừa  
bị mù điếc vừa mắc tự kỉ nhưng cũng có khi trẻ mù điếc  
chỉ đơn giản xuất hiện một số đặc điểm giống với trẻ tự  
kỉ và ngược lại [1]. Vậy những đặc điểm giống nhau này  
là gì? Đánh giá trẻ mù điếc kèm rối loạn phổ tự kỉ được  
thực hiện như thế nào? Những phương pháp giáo dục  
(GD) cho trẻ mù điếc có thể được vận dụng từ những  
phương pháp được áp dụng cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ hay  
không?  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Đặc điểm giống nhau của mù điếc và hội chứng rối loạn  
phổ tự kỉ  
Mù điếc, theo Đạo luật liên bang Mĩ (2004) là tình  
trạng kết hợp cả suy giảm thính lực và suy giảm thị lực  
gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng trong giao tiếp và  
Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rỗi nhiễu  
các lĩnh vực phát triển khác mà chương trình GD dành tinh thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental  
Số 40 tháng 4/2021  
47  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Disorders - DSM) phiên bản 5 của Hội Tâm thần Mĩ thần kinh điều khiển, không phải do sự thiếu hụt các giác  
(American Psychiatric Association (APA), trẻ được chẩn quan.  
đoán ASD phải thỏa mãn những điều kiện quy định trong  
bốn nhóm A, B, C, D. Trong đó, nhóm A đề cập đến  
những thiếu hụt dai dẳng trong khả năng giao tiếp xã  
hội và tương tác xã hội trong nhiều tình huống, bối cảnh  
khác nhau với 3 biểu hiện cụ thể, hiện tại đang biểu hiện  
hay trước đây đã biểu hiện. Trẻ phải hội tụ đủ cả 3 biểu  
hiện của nhóm này. Nhóm B đề cập đến những kiểu mẫu  
hành vi, hứng thú hoặc hoạt động lặp đi lặp lại hay bị hạn  
chế. Nhóm B có 4 biểu hiện, trẻ phải thỏa mãn 2 trong  
4 biểu hiện của nhóm này. Nhóm C đề cập đến những  
triệu chứng cần phải xuất hiện trong giai đoạn phát triển  
sớm (nhưng có thể sẽ không biểu hiện hoàn toàn cho  
đến khi nhu cầu xã hội vượt quá khả năng có hạn của  
những cá nhân này, hoặc chúng có thể bị che giấu đi bằng  
các chiến lược mà các cá nhân đã học được trong cuộc  
sống). Nhóm D đề cập đến các triệu chứng gây ra sự suy  
giảm có ý nghĩa lâm sàng đối với hoạt động xã hội, nghề  
nghiệp hoặc những lĩnh vực hoạt động quan trọng khác  
trong hiện tại. Nhóm E đề cập những triệu chứng nêu  
trên không thể giải thích được bởi khuyết tật trí tuệ hay  
sự chậm phát triển tổng thể của trẻ. Rối loạn phổ tự kỉ  
thường đi đôi với khuyết tật trí tuệ. Để chuẩn đoán rối  
loạn phổ tự kỉ và khuyết tật trí tuệ, khả năng giao tiếp xã  
hội của trẻ phải ở dưới mức trung bình so với những trẻ  
có sự phát triển ngôn ngữ bình thường và đúng theo độ  
tuổi.  
a. Sự chậm trễ trong phát triển giao tiếp bằng lời và  
không lời  
Việc không có cơ hội, hoặc được tiếp xúc rất ít với lời  
nói, trẻ mù điếc thường bị giảm cơ hội hoặc tiếp cận một  
cách lẻ tẻ với ngôn ngữ. Trẻ có thể không hiểu được hậu  
quả các hành động của mình, không kiểm soát được môi  
trường. Đồng thời, việc không được tiếp cận các cơ hội  
học tập ngẫu nhiên, trẻ mù điếc cần được dạy các kĩ năng  
giao tiếp không lời cơ bản như biểu cảm khuôn mặt, cử  
chỉ. Ở trẻ tự kỉ, đặc điểm này thường được biểu hiện như  
giảm khả năng khởi xướng giao tiếp, lặp đi lặp lại các âm  
thanh, thiếu hoặc chậm phản hồi trong giao tiếp, khó có  
khả năng thiết lập hoặc duy trì giao tiếp bằng mắt. Trẻ  
cũng khó khăn trong việc nhận ra các cử chỉ, biểu cảm  
nét mặt, ngôn ngữ cơ thể. Trẻ cũng dễ bị thu hút bởi các  
yếu tố khác trong môi trường nhiều hơn là tập trung vào  
đối tượng giao tiếp (Ví dụ như ánh sáng mầu).  
b. Sự chậm trễ trong phát triển tương tác xã hội  
Điều dễ nhận thấy ở trẻ tự kỉ có những khó khăn về kĩ  
năng lần lượt trao đổi qua lại. Trẻ cũng duy trì sự cứng  
nhắc trong các mối quan hệ. Ví dụ, trẻ chỉ chào hỏi hoặc  
tạm biệt theo một cách nhất định với nhiều người khác  
nhau trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trẻ tự kỉ khó xây  
dựng và duy trì các mối quan hệ, nhất là với bạn đồng  
trang lứa. Trẻ cũng gặp khó khăn trong việc phản hồi các  
thông tin mang tính dự đoán do trẻ khó có thể nhận biết  
được người khác đang nghĩ gì, đang cảm thấy gì và đang  
2.2. Những đặc điểm giống nhau của mù điếc và rối loạn phổ mong đợi gì. Thêm nữa, trẻ thường khó hiểu các từ ngữ  
tự kỉ  
mang tính châm biếm hoặc các từ mang nghĩa bóng.  
c. Những chuyển động mang tính định hình, hành vi  
rập khuôn  
Cả trẻ mù điếc và trẻ tự kỉ đều bị ảnh hưởng bởi quá  
trình tiếp nhận và xử lí thông tin cảm giác từ môi trường,  
nên hai đối tượng trẻ này có những đặc điểm giống nhau  
[1]. Đối với trẻ mù điếc, trẻ có thể bỏ lỡ, suy giảm hoặc  
cảm nhận sai các thông tin giác quan do thiếu hụt thị giác  
và thính giác. Sự thiếu hụt này có thể là nguyên nhân  
gây ra từ các bất thường ở cấu tạo mắt, tai hoặc ở đường  
truyền thông tin thị giác, thính giác từ các dây thần kinh  
lên não, cũng có thể là do quá trình xử lí thông tin ở não  
bộ. Đối với trẻ tự kỉ, trẻ thường gặp khó khăn với quá  
trình xử lí các kích thích thị giác và thính giác nhưng  
thường là do rối loạn xử lí cảm giác hơn là việc bị thiếu  
hụt cảm giác như ở trẻ mù điếc. Những khác biệt trong  
việc xử lí các kích thích cảm giác, những hành vi bất  
thường ở trẻ tự kỉ liên quan đến việc não bộ xử lí thông  
tin. Khó khăn chung của trẻ tự kỉ đó là khả năng thu nhận  
thông tin một cách hiệu quả, sàng lọc thông tin, sau đó  
nhận biết chính xác các thông tin trong môi trường hay  
khi tương tác với người khác. Trẻ tự kỉ thường rất giỏi  
Đối với trẻ có thị giác và thính phát triển bình thường,  
trẻ thường học được hầu hết các kĩ năng xã hội, các mối  
quan hệ cá nhân thông qua việc học tập ngẫu nhiên. Với  
trẻ mù điếc, sự suy giảm thị lực và thính lực khiến cho  
trẻ không có cơ hội học tập ngẫu nhiên nên các kĩ năng  
xã hội cần được dạy theo những cách rất cụ thể, trực tiếp.  
Trẻ mù điếc cần được hỗ trợ để tiếp cận môi trường xung  
quanh để hiểu được các hậu quả hành vi của trẻ. Việc  
thiếu hụt kĩ năng xã hội ở trẻ mù điếc không phải do trẻ  
không thể học được mà là do trẻ thiếu tiếp cận các kích  
thích thị giác và thính giác trong các tình huống học kĩ  
năng xã hội.  
Trẻ tự kỉ thường có những biểu hiện như đung đưa  
người khi đứng hay ngồi, vẫy tay, ngắm nhìn các ngón  
tay chuyển động trước mặt hoặc bịt tai. Trẻ cũng có  
nhiều biểu hiện của nhại lời. Những hành vi rập khuôn  
này thường được coi là hành vi tự kích thích. Nguyên  
trong việc nhận ra các mẫu, chi tiết nhưng lại khó khăn nhân của các hành vi này có thể là do thiếu cảm giác.  
khi tri giác toàn bộ hình ảnh. Sự chú ý đến các chi tiết, Những hành vi này rất dễ bắt gặp ở trẻ khiếm thị, trẻ mù  
các bộ phận hoặc một khía cạnh cảm giác là do hệ thống điếc. Đối với việc nhại lời ở trẻ khiếm khuyết giác quan  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
48  
Trịnh Thị Thu Thanh, Nguyễn Thị Hằng  
có thể là do trẻ thiếu kinh nghiệm về chủ đề đang nói. kích thích, dễ mệt mỏi. Các biểu hiện tìm kiếm giác quan  
Hoặc cũng có thể do khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ tốt như bồn chồn, khó ngồi yên, tìm kiếm mọi hình thức  
hơn khả năng diễn đạt ngôn ngữ nên trẻ không đủ vốn từ chuyển động, thường xuyên nhai, cắn…  
theo kịp cuộc thoại. Các hành vi lặp đi lặp lại với trẻ mù  
điếc có thể là một khoảng nghỉ để trẻ quyết định sẽ làm  
g. Khó khăn trong các kĩ năng điều hành  
Đối với trẻ mù điếc, trẻ rất thiếu cơ hội để học các kĩ  
gì tiếp theo. Đôi khi cũng có thể là do trẻ mù điếc thiếu năng điều hành. Việc thiếu thông tin về môi trường, bối  
thông tin về việc những đứa trẻ khác sẽ thực hiện như thế cảnh khiến trẻ mù điếc khó nhận ra các tình huống mới  
nào trong cùng một hoạt động như vậy.  
d. Khó khăn trong việc thay đổi môi trường, thói quen  
hàng ngày  
và áp dụng những kĩ năng điều hành đã học được vào tình  
huống mới. Điều này lí giải tại sao kĩ năng định hướng di  
chuyển, kĩ năng sống độc lập có ý nghĩa quan trọng với  
trẻ mù điếc. Khám phá môi trường, các hoạt động sinh  
hoạt hàng ngày cần được dạy và thực hành thường xuyên  
với những trợ giúp phù hợp kết hợp các công nghệ hỗ  
trợ. Các kĩ năng điều hành mà trẻ tự kỉ thường hay gặp  
khó khăn như tự điều chỉnh hành vi, kiểm soát sự ức chế,  
lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, giải quyết  
vấn đề. Trẻ thể hiện những khó khăn này trong học tập,  
sinh hoạt như khó hoàn thành nhiệm vụ mà không có gợi  
nhắc, khó bình tĩnh khi bị kích động, phản ứng quá mức  
với môi trường, khó vận dụng những gì đã được học vào  
một tình huống mới.  
Đối với trẻ mù điếc, trẻ thường bám vào các hoạt động  
sinh hoạt hàng ngày để có thể nhận thức về thế giới xung  
quanh mà đối với trẻ đó là một thế giới khó hiểu, hỗn  
loạn với đồ vật, con người và các hoạt động khác nhau.  
Trẻ mù điếc khó tiếp nhận được các dấu hiệu thông báo  
thay đổi hoạt động hay điều gì sẽ diễn ra tiếp theo một  
cách ngẫu nhiên như trẻ bình thường, nên trẻ cần dựa  
vào các thói quen sinh hoạt hàng ngày để đoán biết. Trẻ  
tự kỉ gặp nhiều khó khăn khi thay đổi các thói quen sinh  
hoạt hàng ngày cũng như chuyển từ hoạt động này sang  
hoạt động khác.  
Trẻ tự kỉ thường khó thích nghi với những thay đổi  
trong việc sắp xếp môi trường, nhạy cảm với những thay  
đổi như âm thanh, ánh sáng, mùi hương và cả những  
người có mặt. Trẻ kiên định với một trình tự hoạt động.  
Đối với trẻ khiếm thị nhỏ tuổi hoặc đã làm quen với kĩ  
năng định hướng di chuyển thì việc thay đổi môi trường  
cũng gây ra nhiều cản trở cho trẻ khi di chuyển. Trẻ sẽ  
làm việc hiệu quả hơn trong môi trường nhất quán, ít  
những sự thay đổi bất ngờ. Nhiều trẻ mù điếc cần môi  
trường nhất quán để có thể nhận biết được sự tồn tại,  
nguyên vẹn hay thay đổi của đồ vật. Trẻ mù điếc khó  
khăn trong việc hiểu được sự sắp xếp đồ vật. Ví dụ, trẻ  
muốn biết nếu trẻ để đồ vật xuống, đồ vật vẫn sẽ ở đó  
với nguyên hình dạng và tình trạng, lần tới trẻ có thể lấy  
đồ vật này.  
e. Phản ứng bất thường với các thông tin cảm giác  
Nhiều trẻ khiếm thị đơn tật có phản ứng được gọi tên  
là phòng vệ xúc giác. Trẻ khiếm thị có thể thiếu thông tin  
đáng tin cậy về những gì đang diễn ra, sắp xảy ra khiến  
cho trẻ đề phòng với một số kết cấu, hoặc các trải nghiệm  
xúc giác nhất định. Chẳng hạn, rất nhiều trẻ khiếm thị  
không muốn chạm vào các đồ vật mềm hay có lông…  
Những phản ứng này đặc biệt nghiêm trọng với những  
trẻ mù điếc khi trải nghiệm của trẻ về thế giới xung  
quanh rất hạn chế hoặc thậm chí thiếu hụt.  
Như vậy, trẻ mù điếc và trẻ rối loạn phổ tự kỉ thể hiện  
nhiều đặc điểm giống nhau và nguyên nhân chủ yếu dẫn  
đến những đặc điểm giống nhau trên là do hạn chế hoặc  
thiếu hụt thông tin giác quan.  
2.3. Đánh giá tự kỉ ở trẻ mù điếc  
Với rất nhiều đặc điểm giống nhau được kể đến ở trên,  
việc chẩn đoán chính xác trẻ mù điếc có kèm theo rối  
loạn phổ tự kỉ hay không đang là một trong nhiều thách  
thức với các nhà GD. Việc chẩn đoán, đánh giá chưa  
chính xác sẽ khiến cho quá trình định hướng GD gặp  
nhiều khó khăn. Rối loạn phổ tự kỉ có thể được chẩn  
đoán quá mức hay không đủ cơ sở để chẩn đoán trên trẻ  
mù điếc (Vaan, 2013). Hiện nay, chưa có các công cụ  
thực sự đáng tin cậy để chẩn đoán tự kỉ ở trẻ mù điếc [4].  
Tuy nhiên, việc chẩn đoán, đánh giá tự kỉ có thể được  
xem xét dựa vào các công cụ đánh giá tự kỉ và phương  
pháp đánh giá đặc thù trẻ đa tật, trẻ mù điếc của Jan Van  
Dijk. Cách tiếp cận trong đánh giá trẻ đa tật, trẻ mù điếc  
của Jan Van Dijk là đánh giá theo sự dẫn dắt của trẻ để  
thấy được hết khả năng học tập tiềm ẩn của trẻ. Phương  
pháp đánh giá theo sự dẫn dắt của trẻ có khung cơ sở  
khoa học vững chắc và được thực hiện trong môi trường  
có sự sắp xếp cẩn trọng [5].  
Vaan và cộng sự (2018) đề cập đến công cụ quan sát tự  
Trẻ tự kỉ có những vấn đề khó khăn về xử lí cảm giác kỉ ở người có khiếm khuyết giác quan và khuyết tật trí tuệ  
như quá nhạy cảm về giác quan, kém nhạy cảm về giác (OASID). Mục đích của OASID là chẩn đoán chính xác  
quan hay trẻ tìm kiếm cảm giác. Những biểu hiện quá sự hiện diện của tự kỉ ở những cá nhân khuyết tật trí tuệ  
nhạy cảm giác quan ở trẻ tự kỉ như dễ nhạy cảm với tiếng mức độ trung bình đến đặc biệt nặng có kèm khiếm thị hay  
ồn, sự đụng chạm, di chuyển; khó khăn khi tham gia vào mù điếc. OASID được thử nghiệm trên 60 người tham gia  
đám đông, hoạt động tâp thể. Các biểu hiện liên quan đến và được coi là công cụ đáng tin cậy và phù hợp với các  
kém nhạy cảm giác quan như phản ứng mờ nhạt với các tiêu chí chẩn đoán tư kỉ theo DSM-5. Công cụ này cũng  
Số 40 tháng 4/2021  
49  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
giúp tự kỉ không bị chẩn đoán quá mức ở nhóm đối tượng cạnh đó, các tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm đưa ra những  
khiếm khuyết giác quan và hoặc khuyết tật trí tuệ [6].  
thông tin cơ bản về sự phát triển mối liên hệ, tương tác  
và giao tiếp ở trẻ tự kỉ. Điều này khiến cho các phương  
pháp như DIR/Floortime trở nên có ý nghĩa đối với GD  
trẻ mù điếc.  
2.4. Áp dụng phương pháp giáo dục trẻ tự kỉ cho giáo dục trẻ  
mù điếc  
Sau khi đã có những chẩn đoán, đánh giá chính xác về  
việc có hay không kèm theo rối loạn phổ tự kỉ ở những cá  
nhân mù điếc, phương pháp GD trẻ mù điếc sẽ có những  
điểm nào tương đồng với các phương pháp GD trẻ rối  
loạn phổ tự kỉ đang được sử dụng phổ biến hiện này?  
Theo Rollet và Kastner-Koller (2018), các tiếp cận  
hành vi trong GD trẻ tự kỉ ngày càng mang lại nhiều hiệu  
quả. Hiện có 27 phương pháp can thiệp, GD trẻ tự kỉ  
được cho là có bằng chứng khoa học và được thừa nhận  
trên thế giới. Theo Wong và cộng sự (2014), nhóm tác  
giả đã chỉ ra phương pháp phân tích hành vi ứng dụng  
ABA có tác động mạnh nhất trong 27 phương pháp này  
[7]. Các phương pháp có hiệu quả và phổ biến khác như:  
Mô hình can thiệp sớm Denver (ESDM); Điều trị và GD  
dành cho trẻ em tự kỉ và khuyết tật liên quan đến giao  
tiếp (TEACCH); Can thiệp phát triển quan hệ (DIR/  
Floortime). Trong khi đó, mù điếc có tỉ lệ xuất hiện thấp  
hơn so với các dạng khuyết tật khác. Mù điếc thường  
xuất hiện kèm với các dạng khiếm khuyết khác hoặc các  
vấn đề về sức khỏe. Theo Ferrell, các phương pháp GD  
có bằng chứng khoa học cho nhóm đối tượng này cũng  
còn ít [4]. Tác giả cũng đã chỉ ra những bằng chứng khoa  
học trong phương pháp lấy trẻ làm trọng tâm và phương  
pháp giảng dạy có hệ thống trong can thiệp, GD trẻ mù  
điếc bẩm sinh. Những phương pháp này nhấn mạnh vào  
vai trò của xúc giác. Bên cạnh đó, một số bằng chứng  
khoa học về việc phát triển giao tiếp, lĩnh vực khó khăn  
nhất của trẻ mù điếc, tập trung vào hỗ trợ cá nhân hóa  
trong môi trường tự nhiên. Can thiệp hành vi cũng có  
những bằng chứng khoa học trong việc giải quyết các  
hành vi thách thức ở trẻ mù điếc.  
Ở trẻ tự kỉ và trẻ mù điếc, việc cần tăng cường kĩ năng  
tương tác xã hội là một trong những nhiệm vụ quan  
trọng. Những kĩ năng tương tác xã hội lại có liên quan  
và bị ảnh hưởng bới tâm lí học phát triển. Tâm lí học  
phát triển tập trung vào các kĩ năng tương tác sớm, giao  
tiếp sớm, chẳng hạn như việc hiểu và tham gia chủ động  
trong các tương tác hàng ngày. Tâm lí học cũng được áp  
dụng cho hỗ trợ hành vi tích cực nhằm mục đích nâng  
cao chất lượng cuộc sống, bao gồm những thông tin cơ  
bản về giải pháp cho cả trẻ tự kỉ và trẻ mù điếc.  
3. Kết luận  
Cùng gặp khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lí thông  
tin cảm giác từ môi trường khiến cho trẻ tự kỉ và điếc mù  
có nhiều đặc điểm giống nhau, thậm chí chồng chéo lên  
nhau. Các đặc điểm đó phải kể đến là sự suy giảm chất  
lượng tương tác xã hội, giao tiếp, các hành vi hạn chế,  
rập khuôn, định hình. Sự giống nhau và chồng chéo giữa  
các đặc điểm của rối loạn phổ tự kỉ và điếc mù cho thấy  
sự phát triển đa dạng và phức tạp của các dạng khuyết  
tật. Điều này gây khó khăn trong công tác chẩn đoán  
đánh giá tự kỉ ở nhóm người có khuyết tật giác quan, đặc  
biệt là mù điếc. Tuy nhiên, nhờ những đặc điểm giống  
nhau của hai dạng khuyết tật này mà GD trẻ mù điếc có  
thể vận dụng một vài phương pháp từ GD trẻ tự kỉ. Tuy  
nhiên, sự vận dụng này cần dựa trên đặc điểm phát triển  
riêng biệt của trẻ mù điếc.  
Trẻ có rối loạn phổ tự kỉ ngày càng gia tăng trong xã  
hội. Những tiêu chí chẩn đoán tự kỉ cũng như những đặc  
điểm phát triển của rối loạn phổ tự kỉ đã được các nhà  
khoa học, nhà GD làm rõ. Các phương pháp can thiệp,  
GD trẻ rối loạn phổ tự kỉ ngày càng được phát triển mạnh  
mẽ, chuyên sâu và có kiểm chứng khoa học. Tuy nhiên,  
lĩnh vực GD trẻ mù điếc, đặc biệt là GD trẻ mù điếc tại  
Việt Nam còn tương đối mới mẻ thì việc chỉ ra các đặc  
điểm giống nhau về mặt phát triển và gợi ý vận dụng  
phương pháp GD có thể áp dụng trong can thiệp GD trẻ  
mù điếc (TEACCH, DIR/Floortime) giúp giáo viên, cha  
mẹ trẻ mù điếc dễ dàng hơn khi GD trẻ mù điếc. Trẻ mù  
điếc ở Việt Nam hiện chưa được thống kê đầy đủ. Đồng  
thời, các tài liệu hướng dẫn chăm sóc, GD trẻ điếc mù  
còn chưa được phát triển. Vì vậy, việc xác định tự kỉ ở trẻ  
khiếm khuyết giác quan, trẻ mù điếc gặp nhiều khó khăn.  
Trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh can  
thiệp, GD trẻ tự kỉ nói chung thì nghiên cứu, can thiệp,  
GD trẻ mù điếc, trẻ tự kỉ ở nhóm trẻ điếc mù cần được  
Việc xuất hiện nhiều đặc điểm hành vi giống nhau giữa  
tự kỉ và mù điếc dẫn đến điểm chung trong can thiệp, GD  
cho hai nhóm trẻ này. Học ngẫu nhiên mà không có sự chú  
ý hay không có hướng dẫn rõ ràng là khái niệm khó đối  
với cả trẻ tự kỉ và trẻ mù điếc. Sử dụng các chiến lược của  
ABA với trẻ mù điếc cũng sẽ không có hiệu quả. Ngược  
lại, phương pháp GD mà chỉ lấy trẻ em làm trọng tâm, hay  
cá nhân hóa cũng không phù hợp với trẻ tự kỉ. Các hướng  
dẫn có cấu trúc như TEACCH cũng sẽ mang lại hiệu quả  
trong can thiệp, GD trẻ mù điếc. Điều này hoàn toàn phù  
hợp với đặc điểm trẻ mù điếc học tập tốt hơn nếu có cấu  
trúc rõ ràng trong các hoạt động hàng ngày.  
Trẻ mù điếc cũng có những khó khăn trong xử lí giác  
quan, vậy nên các chiến lược giác quan ở trẻ tự kỉ và trẻ  
rối loạn xử lí giác quan cũng có thể được xem xét để áp  
dụng ở trẻ mù điếc. Đặc biệt là các chiến lược giảm thiểu  
khó khăn xử lí nhận thức cảm tính (Laurie, 2014). Bên triển khai và đẩy mạnh hơn nữa.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
50  
Trịnh Thị Thu Thanh, Nguyễn Thị Hằng  
Tài liệu tham khảo  
[1] Maurice Belote - Julie Maier, (2014), Why Deaf -  
Blindness and Austism can look so much alike, California  
Deaf - Blind Services.  
Disorder in People with Sensory Impairments Combined  
with Intellectual Disabilities, Journal of Developmental  
and Physical Disabilities.  
[2] Barbara Miles, (2008), An Overview on Deaf-blindness,  
National Information Clearinghouse on Children who are  
Deaf-Blind.  
[7] Connie Wong, Samuel L.Odom, Kara Hume, Ann  
W.Cox, Angel Fettig, Suzanne Kucharczyk, Matthew E.  
Brock, Joshua B. Plavnick, Veronica P. Fleury, and Tia R.  
Schultz, (2014), Evidence -Based Practices for Children,  
Youth, and Young Adults with Autism Spectrum Disorder,  
University of North Carolina at Chapel Hill.  
[8] American Psychiatric Association, (2013), DSM-5,  
Autism Spectrum Disorders Classification in Diagnostic  
and Statistical Manual of Mental Disorders (5th edition).  
[9] Barbara Miles & Marianne Riggio, (1999), Remarkable  
Conversations, Perkins School for the Blind.  
[3] Nguyễn Nữ Tâm An, (2012), Một số vấn đề cơ bản trong  
chẩn đoán rối loạn phổ tự kỉ, Tạp chí Khoa học, Đại học  
Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn 28.  
[4] Mirko Baur, (2018), Overlaps of Autism Spectrum  
Disorder and Deafblindness: Consequences for  
Pedagogical work, Swiss Journal for Special Education.  
[5] Catherine Nelson, (2002), The van Dijk Approach to  
Child-Guided Assessment, Research and Practice for  
Persons with Servere Disabilities.  
[10] Phạm Minh Mục - Trần Thu Giang, (2012), Giáo dục sớm  
trẻ mù điếc, Tạp chí Giáo dục.  
[6] Gitta de Vaan, (2018), Assessing Autism Spectrum  
THE SAME FEATURES OF AUTISM SPECTRUM DISORDER  
AND DEAFBLINDNESS  
Trinh Thi Thu Thanh1, Nguyen Thi Hang2  
ABSTRACT: This article aims to examines the same features of deafblindness  
1 Email: thuthanh12[email protected]  
2 Email: hangk56@gmail.com  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam  
and autism spectrum disorder, including communication, social interaction,  
behaviors, sensory information, and executive skills. Thereby, the authors  
provide a discussion on how to diagnose and evaluate the autism spectrum  
disorder in deafblind children, as well as the methods of educating autistic  
children currently in common use.  
KEYWORDS: Autism spectrum disorder; deafblindness; same features; communication;  
social interaction.  
Số 40 tháng 4/2021  
51  
pdf 5 trang Thùy Anh 10740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mù điếc và hội chứng rối loạn phổ tự kỉ: Những đặc điểm giống nhau - Sự tương đồng trong phương pháp giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmu_diec_va_hoi_chung_roi_loan_pho_tu_ki_nhung_dac_diem_giong.pdf