Tổng quan nghiên cứu các vấn đề hành vi và cảm xúc ở trẻ có rối loạn phổ tự kỉ
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Tổng quan nghiên cứu các vấn đề hành vi và cảm xúc
ở trẻ có rối loạn phổ tự kỉ
Nguyễn Thị Hoài Phương1, Ngô Thùy Dung2,
Trần Văn Công3
TÓM TẮT: Rối loạn phổ tự kỉ là một dạng rối loạn phát triển và thường đi kèm với
1 Email: phuongnth@vnies.edu.vn
các chẩn đoán liên quan đến sự phát triển, tâm thần, thần kinh hoặc các chẩn
đoán về y tế khác. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhóm rối loạn phổ tự kỉ có tỉ lệ
rối loạn tâm thần kèm theo cao hơn nhóm không có rối loạn phổ tự kỉ. Các vấn
đề về hành vi và cảm xúc đi kèm chồng chéo lên những triệu chứng cốt lõi của
tự kỉ khiến trẻ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cải thiện các hoạt động chức
năng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Bài viết tổng quan các nghiên cứu
về các vấn đề hành vi và cảm xúc của trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Các vấn đề hành
vi phổ biến bao gồm tăng động, gây hấn và rối loạn hành vi ứng xử. Trong khi
đó, các vấn đề cảm xúc thường gặp gồm trầm cảm, lo âu chia tách và ám sợ
đặc hiệu hoặc ám sợ xã hội.
2 Email: dungnt@vnies.edu.vn
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
3 Email: congtv.vn[email protected]
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
TỪ KHÓA: Tự kỉ; rối loạn phổ tự kỉ; vấn đề hành vi và cảm xúc.
Nhận bài 03/8/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 19/10/2020 Duyệt đăng 10/5/2021.
1. Đặt vấn đề
70,8% trẻ có ít nhất một rối loạn tâm thần ở thời điểm
Rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) là một dạng rối loạn phát hiện tại; 62,8% có rối loạn chính là rối loạn tăng động
triển khởi phát sớm trong quá trình phát triển, thường giảm chú ý, cảm xúc hoặc về hành vi và 24,7% có một
được bộc lộ rõ trước 3 tuổi. RLPTK được đặc trưng bởi rối loạn khác thuộc một trong những rối loạn thần kinh.
các khiếm khuyết kéo dài về giao tiếp, tương tác xã hội
Những suy yếu về giao tiếp và tương tác xã hội khiến
và có các hành vi, sở thích hạn hẹp và định hình lặp lại. trẻ RLPTK gặp nhiều khó khăn với các kĩ năng xã hội
Về sự xuất hiện của những đặc điểm có ở trẻ RLPTK: bao gồm việc tham gia vào xã hội, quản lí giận dữ và cả
Những lo ngại về thị lực và thính giác thường được báo năng lực xã hội, điều này ảnh hưởng đến tình bạn và các
cáo trong năm đầu tiên; sự khác biệt về tương tác xã hội, mối quan hệ đồng đẳng khác. Như vậy, bản thân RLPTK
giao tiếp và kĩ năng vận động tinh được biểu hiện rõ khi đã gặp nhiều khó khăn, việc chồng chéo các vấn đề về
trẻ 6 tháng tuổi; các hành vi định hình lặp lại và sự khác hành vi - cảm xúc lên các triệu chứng RLPTK khiến cho
biệt khi chơi, bắt chước và thói quen ăn uống được báo những suy yếu ở trẻ càng phức tạp và khó để can thiệp
cáo trong năm thứ hai; sự khác biệt về tính khí nổi lên ở hơn. Bên cạnh đó, các triệu chứng cũng tạo ra những rào
24 tháng tuổi. Mặc dù chưa xác định được nguyên nhân cản trong việc chẩn đoán RLPTK. Ví dụ, các biểu hiện
chính xác của RLPTK nhưng có một số yếu tố nguy cơ trầm cảm ở trẻ có RLPTK có thể bao gồm: Gây hấn,
như: Cha mẹ có con đầu tiên có RLPTK, nguy cơ con tăng động, tăng hành vi rập khuôn, có hành vi tự gây tổn
thứ hai có RLPTK là 2% - 18% [1], con đầu lòng của cha thương. Hiện nay, nghiên cứu tại Việt Nam tập trung khá
mẹ lớn tuổi có khả năng có RLPTK cao gấp 3 lần so với nhiều vào việc “Làm thế nào để có cách thức hỗ trợ tốt
con thứ 3 hoặc sau này của mẹ từ 20 - 34 tuổi và cha nhỏ nhất cho trẻ?”. Các đề tài tìm hiểu vấn đề đi kèm RLPTK
hơn 40 tuổi [2].
còn khá hạn chế và chưa có nghiên cứu nào về các vấn đề
RLPTK thường đi kèm với các chẩn đoán liên quan hành vi và cảm xúc ở trẻ có RLPTK. Từ những lí do trên,
đến sự phát triển, tâm thần, thần kinh hoặc các chẩn đoán bài viết này nhằm mô tả và thống kê số liệu về các vấn
về y tế khác. Kết quả nghiên cứu từ dữ liệu về 2568 trẻ đề hành vi và cảm xúc có ở trẻ RLPTK. Từ đó có biện
đáp ứng định nghĩa giám sát trường hợp RLPTK cho pháp hỗ trợ trẻ và gia đình, giảm thiểu các hệ quả tiêu
thấy: Sự xuất hiện của hơn một chẩn đoán về sự phát cực của hành vi và cảm xúc lên vấn đề sẵn có của trẻ có
triển không phải RLPTK là 83%, về chẩn đoán tâm thần RLPTK. Đồng thời góp phần bổ sung nghiên cứu lí luận,
là 10% và chẩn đoán về thần kinh là 16% [3]. Nhóm mở ra các hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn nhằm nâng
RLPTK có tỉ lệ rối loạn tâm thần kèm theo cao hơn nhóm cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe tâm thần cho
không có RLPTK. Năm 2008, kết quả nghiên cứu của trẻ có RLPTK.
Simonoff và cộng sự cho thấy: Tỉ lệ lưu hành trong 3
tháng với tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV cho thấy
Một số khái niệm liên quan
RLPTK được đặc trưng bởi các khiếm khuyết kéo dài
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
22
Nguyễn Thị Hoài Phương, Ngô Thùy Dung, Trần Văn Công
về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong các tình trừ). Sau khi lọc, dữ liệu cuối cùng có 30 nghiên cứu đáp
huống khác nhau, bao gồm sự khiếm khuyết trong tính ứng các tiêu chí của chúng tôi và được chia thành 3 nhóm
nội dung như sau: (1) Tỉ lệ các vấn đề hành vi và cảm xúc
ở trẻ có RLPTK; (2) Đặc điểm lâm sàng của các vấn đề
hành vi và cảm xúc ở trẻ có RLPTK; (3) Nguy cơ xuất
hiện các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ có RLPTK.
qua lại về mặt xã hội, hành vi giao tiếp không lời sử dụng
trong tương tác xã hội và kĩ năng trong phát triển, duy
trì và hiểu các mối quan hệ. Ngoài khiếm khuyết về giao
tiếp xã hội, chẩn đoán RLPTK yêu cầu phải có sự xuất
hiện của các mẫu hình hành vi, sở thích hay hoạt động
giới hạn, lặp lại. Bởi vì, các triệu chứng thay đổi theo sự
phát triển và có thể được che giấu bởi các cơ chế ứng
phó, các tiêu chí chẩn đoán có thể cần dựa vào thông
tin từ quá khứ (lịch sử phát triển) và triệu chứng hiện tại
phải gây ra những khiếm khuyết đáng kể.
Hành vi là điều gì đó mà một người làm có thể quan
sát được, đo lường được và lặp đi lặp lại. Năm 2000, Jost
đã đưa ra khái niệm về hành vi như sau: Hành vi là cách
mà một cá nhân ứng xử/hành động với con người, xã
hội hoặc các đối tượng. Nó có thể là tốt hoặc xấu, có thể
là bình thường hoặc bất thường theo chuẩn mực xã hội.
Xã hội sẽ luôn cố gắng sửa những hành vi không tốt và
mang những hành vi bất thường trở lại bình thường. Các
vấn đề về hành vi thường bao gồm: Tăng động - giảm
chú ý, rối loạn hành vi ứng xử, hành vi gây hấn.
2.2. Kết quả nghiên cứu
2.2.1. Tỉ lệ các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ rối loạn phổ
tự kỉ
Phân tích dữ liệu thứ cấp từ mạng lưới giám sát các
khuyết tật phát triển và tự kỉ được thu thập từ khảo sát
năm 2010 trên trẻ có RLPTK 4 tuổi và 8 tuổi, trong đó:
Trẻ 4 tuổi có 783 trẻ (22,09% nữ và 77,91% nam); Trẻ
8 tuổi có 1091 trẻ (18,97% nữ và 81,03% nam), tỉ lệ trẻ
có RLPTK đi kèm với các vấn đề hành vi và cảm xúc là
không nhỏ, đặc biệt là rối loạn cảm xúc và cơn giận dữ.
Chi tiết được biểu hiện trong Biểu đồ 1:
Cảm xúc là bất kì trải nghiệm tinh thần nào của trạng
thái xúc cảm mãnh liệt hoặc khoái lạc cao (hài lòng/
không hài lòng). Cảm xúc được định nghĩa là một giai
đoạn những thay đổi xảy ra đồng thời, có quan hệ với
nhau trong trạng thái của tất cả hoặc hầu hết 5 tiểu hệ
thống của cơ thể/sinh vật (tiến trình xử lí thông tin, xác
nhận, quyết định thi hành, hành động, kiểm tra/giám sát)
để đáp ứng với việc đánh giá sự kiện kích thích bên ngoài
hoặc bên trong có liên quan đến mối quan tâm chính của
cơ thể/sinh vật. Các vấn đề về cảm xúc bao gồm: Lo âu,
trầm cảm, rối loạn dạng cơ thể.
Biểu đồ 1: Tỉ lệ các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ
có ASD tại Hoa Kì năm 2010
a. Các vấn đề về hành vi
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, một nửa số trẻ
có RLPTK đáp ứng tiêu chí chẩn đoán của rối loạn tăng
động giảm chú ý mặc dù chẩn đoán đi kèm được loại trừ
bởi DSM-IV-TR. Đây cũng là vấn đề hành vi mà trẻ có
RLPTK gặp nhiều nhất. Tỉ lệ mắc cả hai rối loạn ở nam
cao hơn nữ. Vấn đề hành vi đi kèm nhiều thứ hai ở trẻ
RLPTK là gây hấn, một số biểu hiện như đánh, đá, cắn,
cấu trên cả người chăm sóc và người khác. Số liệu cụ thể
được thể hiện trong Bảng 1.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Bài viết này sử dụng phương pháp tổng quan và phân
tích tài liệu. Đầu tiên, nhóm tác giả tiến hành tổng hợp
các nghiên cứu tại Google scholar, Researchgate,... với
các cụm từ: “Anxiety in children with autism spectrum
disorder, depression in children with autism spectrum
disorder, behavioural and emotional issues/problems
in children with autism spectrum disorder, aggression/
ADHD/conduct disorder in children with autism
spectrum disorder, characterization of depression/
anxiety in children with autism spectrum disorder, risk
of depression/anxiety/ADHD in children with autism
spectrum disorder...”. Dữ liệu được chọn là những
nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí: thời gian xuất bản (từ
2006 - 2019), nhóm khách thể của nghiên cứu (trẻ dưới
18 tuổi), đối tượng nghiên cứu (các vấn đề hành vi và
b. Các vấn đề về cảm xúc
Kết quả nghiên cứu tổng hợp từ Bảng 1 và 2 cho thấy:
Ở trẻ có RLPTK, tăng động-giảm chú ý và lo âu là hai
vấn đề về hành vi, cảm xúc xuất hiện phổ biến nhất và
có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu mà chúng tôi tổng
hợp. Bên cạnh hai nhóm vấn đề này, các triệu chứng của
gây hấn, hành vi thách thức - chống đối và tự gây thương
tích cũng được biểu hiện không ít. Đối với nhóm trẻ tự
kỉ có lo âu, đặc điểm biểu hiện và dạng lo âu ở mỗi trẻ
là khác nhau. Tuy nhiên, ám sợ là dạng lo âu thường gặp
nhất. Một phát hiện nữa mà kết quả nghiên cứu đã chỉ ra,
cảm xúc ở trẻ có RLPTK, những nghiên cứu về vấn đề đi đó là sự tương quan giữa vấn đề về hành vi với cảm xúc,
kèm ở trẻ RLPTK có liên quan đến tình trạng y tế bị loại cụ thể, nghiên cứu của Williams và cộng sự (2015) trên
Số 41 tháng 5/2021
23
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Bảng 1: Tỉ lệ các vấn đề về hành vi ở trẻ có RLPTK
TT Tác giả (năm) Khách thể
Phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
1
Ghirardi và
cộng sự
(2018)
- Mẫu: 1 899654 cá nhân tại - Thử nghiệm mối liên hệ giữa Trong tổng số khách thể:
Thụy Điển (1987-2006). RLPTK và rối loạn tăng động - 28468 trường hợp có RLPTK.
- Dữ liệu được lấy từ sổ đăng giảm chú ý giữa các cá nhân và - 82398 trường hợp có rối loạn tăng động giảm chú ý.
kí bệnh nhân quốc gia, các trong các gia đình bằng cách - 13793 đồng bệnh.
bệnh nhân được chẩn đoán sử dụng hồi quy.
RLPTK ≥ 1 tuổi được chọn
đưa vào nghiên cứu. Về chẩn
đoán khuyết tật trí tuệ, sẽ
lấy trẻ từ 3 tuổi trở lên trong
nhóm RLPTK.
- Tỉ lệ mắc cả hai rối loạn ở nam (1,01%) cao hơn ở
nữ (0,43%).
- Gần một nửa số người mắc RLPTK (48%) cũng có rối
loạn tăng động giảm chú ý và 17% người có rối loạn
tăng động giảm chú ý cũng có RLPTK.
- Con của những bà mẹ có rối loạn tăng động giảm chú
ý có nguy cơ cao gấp 2,5 lần có RLPTK (Không có rối
loạn tăng động giảm chú ý đi kèm) so với những bà mẹ
không có rối loạn tăng động giảm chú ý. Nguy cơ mắc
rối loạn tăng động giảm chú ý tăng gấp 3,7 lần được
tìm thấy trong số các trường hợp có RLPTK.
2
Ooi và cộng
sự (2011)
71 trẻ có độ tuổi trung bình - Thông tin về các vấn đề hành - Có khoảng 72% đến 86% tổng số khách thể có ít nhất
là 10.24 tuổi được chẩn vi và cảm xúc được rút ra từ một vấn đề về hành vi hoặc cảm xúc.
đoán bởi các nhà lâm sàng bảng kiểm hành vi trẻ em (Child - Các vấn đề được báo cáo nhiều nhất theo DSM là tăng
là có RLPTK tại Trung Quốc Behaviour Checklist - CBCL) và động/giảm chú ý (35,2%).
(86,1%), Malaysia (9,7%) và DSM-oriented scales.
4,2% khác.
3
Hartley và
cộng sự
(2008)
- 169 trẻ từ 1,5 tuổi đến 5,8 - Bảng kiểm hành vi trẻ em - 27,2% tổng số khách thể có các vấn đề hướng ngoại.
tuổi
(CBCL) 1,5-5 tuổi.
- 22,5% có hành vi gây hấn.
- 132 nam và 38 nữ
4
Simonoff
và cộng sự
(2008)
112 trẻ có RLPTK (từ 10 đến
-
Phỏng vấn phụ huynh - Tỉ lệ lưu hành trong 3 tháng với tiêu chuẩn chẩn đoán
14 tuổi): 98 là nam giới (7:1 với Đánh giá tâm thần trẻ của DSM-IV cho thấy 70,8% trẻ có ít nhất một rối loạn
tỉ lệ nam: nữ), với tuổi trung em và vị thành niên (Child tâm thần ở thời điểm hiện tại; 62,8% có rối loạn chính là
bình là 11,5 tuổi.
and Adolescent Psychiatric rối loạn tăng động giảm chú ý, cảm xúc hoặc về hành vi
Assessment - CAPA).
và 24,7% có một rối loạn khác thuộc một trong những
rối loạn thần kinh.
- Các rối loạn phổ biến:
+ Rối loạn tăng động giảm chú ý (28,1%).
- Các thang đo bao gồm:
+ Trí tuệ: Wisc III và RAVEN
+ Hành vi thích ứng: Vineland
+ Đặc điểm về gia đình: Sử + Rối loạn hành vi - thách thức chống đối (28,1%).
dụng thang điểm 8 của Cơ
quan thống kê quốc gia Vương
quốc Anh.
5
Dominick
và cộng sự
(2007)
- 54 trẻ có RLPTK từ 4 tuổi - Các hành vi bất thường: sử - 32,7% tổng số khách thể có hành vi tự gây tổn thương
2 tháng đến 14 tuổi 2 tháng. dụng Bảng câu hỏi về các (đập đầu, tự đánh và cắn mình).
mẫu hành vi không điển hình - 32,7% trẻ có hành vi gây hấn (đánh, đá, cắn và cấu/
(Atypical Behavior Patterns véo người khác).
Questionnaire - ABPQ).
Bảng 2: Tỉ lệ các vấn đề về cảm xúc ở trẻ có RLPTK
TT Tác giả (năm) Khách thể
Phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
1
2
Hollocks
và cộng sự
(2019)
35 nghiên cứu được công bố từ Tổng quan hệ thống và phân Ước tính gộp về tỉ lệ hiện tại và suốt đời đối với người
tháng 01 năm 2000 đến tháng tích tổng hợp
9 năm 2017
trưởng thành có RLPTK là 27% và 42% cho bất kì rối
loạn lo âu nào, 23% và 37% cho rối loạn trầm cảm.
Zaboski và
cộng sự
(2018)
83 nghiên cứu RLPTK và các Tổng quan hệ thống và phân Các rối loạn lo âu phổ biến nhất là: Ám sợ xã hội (17-
rối loạn lo âu đáp ứng các tiêu tích tổng hợp.
chí của nghiên cứu.
30%), ám sợ đặc hiệu (30-44%), rối loạn lo âu lan tỏa
(15-35%), rối loạn lo âu chia tách (9-38%) và rối loạn
ám ảnh cưỡng chế (17-37%).
3
Van Steensel
và cộng sự
(2017)
Các nghiên cứu RLPTK và biện Tổng quan hệ thống và phân - Trẻ em có RLPTK có mức độ lo lắng cao hơn so với
pháp lo lắng cho trẻ nhỏ có độ tích tổng hợp.
tuổi trung bình <19 tuổi.
trẻ em đang phát triển thông thường.
- Chỉ số trí tuệ (IQ) cao thì mức độ lo âu tăng theo.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
24
Nguyễn Thị Hoài Phương, Ngô Thùy Dung, Trần Văn Công
TT Tác giả (năm) Khách thể
Phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
4
Black và cộng 79 cha mẹ có con có RLPTK.
sự (2017)
Bảng hỏi về những khó khăn - 67% có mối quan hệ với các triệu chứng ám sợ
liên quan đến xử lí cảm giác, chuyên biệt.
mẫn cảm giác quan và lo lắng. - 57% có mối quan hệ với rối loạn lo âu chia tách.
- Không có mối quan hệ với ám sợ xã hội.
5
Williams
và cộng sự
(2015)
109 trẻ em và thanh thiếu niên - Danh sách kiểm tra hành - Mức độ lo âu: 15% bình thường, 10% ở ngưỡng,
được chẩn đoán mắc RLPTK, vi - Child Behavior Checklist 75% ở phạm vi lâm sàng.
tuổi trung bình là 9,74 (80 (CBCL).
- 99% có ít nhất một hành vi thách thức: 67% có cả
nam, 29 nữ). 47% bị thiểu năng - Kiểm kê triệu chứng tiêu hóa 3 hành vi, 28% có 2 hành vi và 5% có một hành vi.
trí tuệ. Gastrointestinal Symptom - Có mối tương quan thấp giữa lo lắng và tiêu hóa
-
Inventory.
- Mối tương quan thuận giữa lo lắng và khó ngủ
- Câu hỏi về thói quen ngủ (r=44, p<0,01).
ở trẻ em - Children’s Sleep - Có mối tương quan giữa lo lắng và hành vi thách
Habits Questionnaire (CSHQ).
- Bảng mẫu ngắn các vấn đề
về hành vi - Behavior Problems
Inventory-Short Form (BPI-S).
thức.
109 trẻ RLPTK với độ tuổi trung bình là 9.74 đã xác định ổn, tăng động, giảm chức năng thích ứng hoặc tự chăm
có mối tương quan giữa lo lắng và hành vi thách thức. sóc, thoái lui kĩ năng, tăng tính ép buộc, những thay đổi
Để thể hiện rõ về tỉ lệ hành vi và cảm xúc ở trẻ RLPTK, thất thường trong các triệu chứng của tự kỉ bao gồm cả
việc tăng hành vi rập khuôn và suy giảm hứng thú trong
các mối bận tâm/sở thích hạn hẹp, hành vi tự gây thương
tích, căng trương lực/rối loạn tâm lí (catatonia), có sự
thay đổi tổng thể rõ rệt trong hành vi từ đường cơ sở bởi
những đặc điểm trên. Nghiên cứu của Stewart và cộng
sự (2006) cho thấy, việc khởi phát trầm cảm có liên quan
đến việc bắt đầu hoặc trầm trọng hơn các hành vi kém
thích nghi, đặc biệt là tự gây thương tích và gây hấn [4].
Trẻ em tự kỉ có lo âu biểu hiện mức độ cao hơn ở toàn
bộ các hành vi lặp đi lặp lại, các sở thích hạn hẹp và các
hành vi vận động tạo cảm giác (tự kích thích) so với
những trẻ không có lo âu. Lo âu ở thanh thiếu niên có
RLPTK cũng có liên quan đến các phản ứng quá nhạy
cảm và làm giảm chất lượng cuộc sống nói chung. Ở
những thanh thiếu niên có RLPTK, lo âu có thể được
biểu hiện ở sự không linh hoạt/cứng nhắc, không tiếp
nhận/chịu đựng điều gì khác lạ một cách mãnh liệt và
sự né tránh quá mức các tác nhân khác nhau liên quan
đến lo âu. Các triệu chứng khác có thể bao gồm: Tăng
sự phòng vệ về cảm giác, tương tác xã hội theo cách tiêu
cực và giận dữ, đồng thời cực kì khó khăn với sự thay
đổi. Nghiên cứu của nhóm tác giả Williams năm 2015,
đánh giá mức độ lo âu ở thanh thiếu niên có RLPTK
được biểu hiện thông qua sự lo lắng, rối loạn giấc ngủ,
triệu chứng tiêu hóa và hành vi chống đối/thách thức.
chúng tôi đã tổng hợp ngẫu nhiên 23 nghiên cứu tìm hiểu
các vấn đề về hành vi và cảm xúc của trẻ có RLPTK, xác
định các vấn đề nằm trong kết quả nghiên cứu và thống
kê trên ứng dụng Mentimeter. Kết quả cụ thể như sau
(xem Hình 1):
(Ghi chú: Cỡ chữ của tên rối loạn càng lớn nghĩa là
rối loạn đó xuất hiện càng nhiều và ngược lại)
Hình 1: Các vấn đề về hành vi và cảm xúc của trẻ có
RLPTK
2.2.2. Biểu hiện lâm sàng của các vấn đề về hành vi và cảm xúc
ở trẻ có rối loạn phổ tự kỉ
Trầm cảm được tìm thấy là xuất hiện ở nhiều trẻ có
RLPTK. Tuy nhiên, việc phát hiện là khó khăn bởi trầm
cảm có thể bị che giấu bởi các triệu chứng của RLPTK
vì những biểu hiện như thu mình hay gặp vấn đề trong ăn
uống và giấc ngủ cũng được biểu hiện ở trầm cảm. Năm
2.2.3. Các yếu tố liên quan đến vấn đề về hành vi và cảm xúc ở
trẻ có rối loạn phổ tự kỉ
Năm 2015, kết quả nghiên cứu của tác giả Myriam và
cộng sự trên dữ liệu có sẵn từ PsycInfo, Pubmed, Web
2011, tác giả Magunson và cộng sự đã có bài viết về các of Science và ERIC đưa ra một số điểm quan trọng sau:
đặc điểm của trầm cảm ở trẻ có RLPTK. Một số biểu Trẻ tự kỉ có khả năng trầm cảm cao hơn ở những gia
hiện có thể hiện diện như sau: Gây hấn, tâm trạng bất đình có lịch sử trầm cảm; trầm cảm phổ biến ở thanh
Số 41 tháng 5/2021
25
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
thiếu niên và người lớn hơn so với trẻ em, trẻ càng lớn cha mẹ thấp có liên quan đến tỉ lệ cao hơn của bất kì rối
trí tuệ càng tốt hơn và tỉ lệ mắc trầm cảm cũng cao hơn. loạn cảm xúc và rối loạn thách thức đối lập nào ở trẻ [8].
Một vài nghiên cứu cũng đưa ra kết quả cho thấy trẻ tự
3. Kết luận và bàn luận
kỉ có mức độ nhận thức cao và các triệu chứng của tự kỉ
ít nghiêm trọng dự báo nguy cơ cao hơn có trầm cảm;
những khiếm khuyết về mặt xã hội ở trẻ tự kỉ có tương
quan với tâm trạng tiêu cực ở trẻ em và thanh thiếu niên
tự kỉ chức năng cao cũng đã được chứng minh. Các yếu
tố stress môi trường đóng vai trò trong nguy cơ trầm cảm
ở những cá nhân có RLPTK cũng giống như với những
thanh thiếu niên phát triển thông thường [5].
Nghiên cứu trên 67 trẻ có RLPTK được đánh giá với
thang đo cha mẹ báo cáo của Conner (Conner’s Parent
Rating Scale-Revised: CPRS-R) và thực hiện phỏng vấn
bán cấu trúc trên cha mẹ để thu thập dữ liệu lâm sàng về
các vấn đề tâm thần kinh và thực thể cùng tồn tại và các
yếu tố nguy cơ từ gia đình và trước/gần/sau sinh. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, 55% trẻ vượt quá điểm cắt của tổng
thang đo CPRRS-R. Một số yếu tố dự báo các vấn đề ở
trẻ RLPTK liên quan đến gia đình bao gồm: tiền sử gia
đình có khuyết tật trí tuệ (P=0.003) và rối loạn tâm thần
(P=0.039) [6].
Nghiên cứu trên 3319 trẻ có RLPTK, trong đó có
45,3% trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý. Phân tích
một mẫu tuyến tính tiết lộ rằng, trẻ có cả rối loạn tăng
động giảm chú ý và RLPTK làm tăng nguy cơ rối loạn
lo âu (nguy cơ tương đối được điều chỉnh là 2,20) và
rối loạn cảm xúc (nguy cơ là 2,72) khi so sánh với trẻ
chỉ có RLPTK. Độ tuổi tăng là yếu tố góp phần đáng kể
nhất dẫn đến sự hiện diện của rối loạn lo âu và rối loạn
cảm xúc [7]. Rối loạn lo âu không hiếm gặp ở trẻ em có
RLPTK. Có nhiều khả năng có sự ảnh hưởng của độ tuổi
và trí tuệ đến sự hiện diện của lo âu, những trẻ nhỏ tuổi
hơn có trải nghiệm lo âu nhẹ nhàng hơn (theo báo cáo
của cha mẹ) và những trẻ có chức năng nhận thức cao
hơn có trải nghiệm lo âu nhiều hơn. Nghiên cứu của tác
giả Wijhoven và cộng sự năm 2018 trên 172 trẻ có từ 8
đến 15 tuổi chỉ ra rằng, những trẻ ít tuổi hơn và trẻ nữ
có nhiều triệu chứng lo âu hơn những trẻ lớn và trẻ nam
Bài viết tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và tại
Việt Nam về các vấn đề về hành vi và cảm xúc có ở trẻ
RLPTK. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khoảng 13
năm trở lại đây, các nghiên cứu trên thế giới về các vấn
đề hành vi, cảm xúc ở trẻ tự kỉ đã được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm và tiến hành thực hiện. Các vấn đề về hành
vi, cảm xúc ở trẻ tự kỉ nổi bật nhất là tăng động giảm chú
ý (35,2% - 62,8%), hành vi gây hấn (đánh, đá, cắn, cấu)
(22,5% - 28,1%), cơn giận dữ, rối loạn lo âu (ám sợ đặc
hiệu, ám sợ xã hội, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn ám ảnh
cưỡng chế, rối loạn lo âu chia tách) (27% - 42%), rối loạn
trầm cảm (23% - 37%). Các vấn đề này có thể chưa đủ
tiêu chuẩn đáp ứng trở thành rối loạn nhưng những ảnh
hưởng của nó góp phần thêm khó khăn cho trẻ học tập và
hòa nhập. Các vấn đề về hành vi có thể dễ dàng quan sát
nhưng việc xác định nguyên nhân cốt lõi gây nên các vấn
đề đó lại không dễ dàng bởi có sự chồng chéo, nhầm lẫn
giữa các biểu hiện đặc trưng ở trẻ tự kỉ với các biểu hiện
của các rối loạn về cảm xúc. Chẳng hạn, làm tăng lên
các hành vi định hình, rập khuôn, hay sự tương tác bất
thường được biểu hiện theo chiều hướng tiêu cực hoặc
làm trầm trọng sự kém thích ứng ở trẻ.
Các nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu, trầm
cảm ở trẻ tự kỉ cao hơn với trẻ khác. Những yếu tố nguy
cơ có thể kể đến là: Gia đình có lịch sử trầm cảm, lo âu,
ở thanh thiếu niên cao hơn ở trẻ em, trẻ có trí tuệ tốt hơn
và những trẻ có nhiều triệu chứng tự kỉ hơn. Không chỉ
riêng ở trẻ có RLPTK mà ở nhóm trẻ khác, lịch sử gia
đình cũng là yếu tố nguy cơ đối với các vấn đề về sau
ở trẻ và có thể phát triển thành các rối loạn như: Lo âu,
trầm cảm, gây hấn,... Ở những trẻ tự kỉ có nhận thức tốt
hơn, trẻ biết để ý và quan tâm đến thái độ của những
người xung quanh hơn và đồng thời tự nhận thức về bản
thân tốt hơn. Do vậy, trẻ biết được những khó khăn của
chính mình và đôi khi không biết làm thế nào để có thể
có RLPTK. Với những trẻ thể hiện IQ không lời cao và giải quyết được vấn đề này, lo âu xuất hiện như là một
IQ sử dụng lời nói thấp có nhiều hơn các triệu chứng của điều có thể tiên lượng trước được.
ám sợ đặc hiệu.
Như đã trình bày ở trên, thực trạng các nghiên cứu
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Salazar năm 2015 về tự kỉ tại Việt Nam hiện nay tập trung các vấn đề về
thì các yếu tố nguy cơ của rối loạn tăng động giảm chú nhận thức của cộng đồng về RLPTK và các cách thức,
ý, rối loạn thách thức chống đối (ODD) là giới tính nam. phương pháp hỗ trợ giáo dục, y tế cho trẻ mà chưa có
Các yếu tố nguy cơ của rối loạn lo âu: IQ cao hơn, trẻ nghiên cứu nào tìm hiểu các vấn đề về hành vi, cảm xúc
lớn hơn (với các rối loạn lo âu chia tách, rối loạn lo âu hay các rối loạn tâm thần, thần kinh ở trẻ tự kỉ. Bài viết
lan tỏa, sợ khoảng trống). Những người có nhiều triệu này đã tổng quan tỉ lệ, biểu hiện lâm sàng và nguy cơ
chứng tự kỉ hơn có khả năng chẩn đoán sợ khoảng trống, của các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ có RLPTK,
rối loạn thách thức chống đối và sợ ban đêm. Các đặc trước hết là nhằm nâng cao và mở rộng hiểu biết về
điểm của cha mẹ cũng có ảnh hưởng đến các rối loạn ở RLPTK nói riêng và sức khoẻ tâm thần nói chung. Thứ
trẻ: Đau khổ tâm lí của cha mẹ và thất nghiệp của cha mẹ hai, việc gợi ý các biểu hiện lâm sàng của những vấn
ảnh hưởng đến nỗi sợ hãi ban đêm, trình độ học vấn của đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ có RLPTK có thể góp
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
26
Nguyễn Thị Hoài Phương, Ngô Thùy Dung, Trần Văn Công
phần hỗ trợ các nhà lâm sàng đánh giá chính xác hơn về đang thực sự gặp phải, phân biệt đúng nguyên nhân
trẻ, giảm thiểu nhầm lẫn giữa các biểu hiện chồng chéo gây ra khó khăn đó, đồng thời phải chú ý đến đặc điểm
lên nhau của các rối loạn. Cuối cùng, nội dung bài viết riêng của trẻ tự kỉ để có biện pháp hỗ trợ tốt nhất cho
nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng khi từng trẻ, giảm thiểu những khả năng nhầm lẫn nguyên
can thiệp cho trẻ có RLPTK đó là: Cần xác định chính nhân của triệu chứng dẫn đến thiết kế chương trình can
xác tối đa những vấn đề về hành vi và cảm xúc mà trẻ thiệp không phù hợp.
Tài liệu tham khảo
[1] Ozonoff S, Young GS, Carter A, Messinger D, Yirmiya
N, Zwaigenbaum L, Bryson S, Carver LJ, Constantino
JN, Dobkins K, Hutman T, Iverson JM, Landa R, Rogers
SJ, Sigman M, Stone WL, (2011), Recurrence risk for
autism spectrum disorders: A Baby Siblings Research
Consortium study, Pediatrics, 128: e488-e495.
[2] Durkin, M. S., Maenner, M. J., Newschaffer, C. J.,
Lee, L. C., Cunniff, C. M., Daniels, J. L., ... & Schieve,
L. A, (2008), Advanced parental age and the risk
of autism spectrum disorder, American journal of
epidemiology, 168(11), p.1268-1276.
[3] Levy, S. E., Giarelli, E., Lee, L. C., Schieve, L. A.,
Kirby, R. S., Cunniff, C., ... & Rice, C. E, (2010), Autism
spectrum disorder and co-occurring developmental,
psychiatric, and medical conditions among children
in multiple populations of the United States, Journal of
Developmental & Behavioral Pediatrics, 31(4), p.267-
275.
and Asperger syndrome: A review, Autism, 10(1), p.103-
116.
[5] DeFilippis, M, (2018), Depression in children and
adolescents with autism spectrum disorder, Children,
5(9), p.112.
[6] Lamanna, A. L., Craig, F., Matera, E., Simone, M.,
Buttiglione, M., & Margari, L, (2017), Risk factors for
the existence of attention deficit hyperactivity disorder
symptoms in children with autism spectrum disorders,
Neuropsychiatric disease and treatment, 13, p.1559.
[7] Gordon-Lipkin, E., Marvin, A. R., Law, J. K., & Lipkin,
P. H, (2018), Anxiety and mood disorder in children with
autism spectrum disorder and ADHD, Pediatrics, 141(4),
e20171377.
[8] Salazar, F., Baird, G., Chandler, S., Tseng, E., O’sullivan,
T., Howlin, P., ... & Simonoff, E, (2015), Co-occurring
psychiatric disorders in preschool and elementary
school-aged children with autism spectrum disorder,
Journal of Autism and Developmental Disorders, 45(8),
p.2283-2294.
[4] Stewart, M. E., Barnard, L., Pearson, J., Hasan, R., &
O’Brien, G, (2006), Presentation of depression in autism
A RESEARCH REVIEW OF BEHAVIORAL AND EMOTIONAL PROBLEMS
IN CHILDREN WITH AUTISM SPECTRUM DISORDERS
Nguyen Thi Hoai Phuong1, Ngo Thuy Dung2,
Tran Van Cong3
ABSTRACT:AutismSpectrumDisorder,whichisakindofneurodevelopmental
1 Email: phuongnth@vnies.edu.vn
disorder, is often accompanied by developmental, psychiatric, neurological,
or other medical diagnoses. Recent studies also found that the autism
spectrum disorder group had a higher incidence of comorbidities than those
without autism spectrum disorder. The comorbid behavioral and emotional
issues that overlap with the core symptoms of autism make it more difficult
for children to improve their functional activities for daily life. This article
aims to review the researches on the behavioral and emotional issues of
children with autism spectrum disorders. The common behavioral problems
include hyperactivity, aggression and conduct disorder. Meanwhile, the
common emotional problems include depression, separation anxiety, and
specific or social phobia.
2 Email: dungnt@vnies.edu.vn
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam
3 Email: congtv.vn[email protected]
VNU University of Education,
Vietnam National University, Hanoi
144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
KEYWORDS: Autism; autism spectrum disorder; behavioral and emotional issues.
Số 41 tháng 5/2021
27
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan nghiên cứu các vấn đề hành vi và cảm xúc ở trẻ có rối loạn phổ tự kỉ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tong_quan_nghien_cuu_cac_van_de_hanh_vi_va_cam_xuc_o_tre_co.pdf

