Một số biểu hiện tổn thương tâm lí của trẻ sống trong gia đình không toàn vẹn tại Việt Nam

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Một số biểu hiện tổn thương tâm lí của trẻ  
sống trong gia đình không toàn vẹn tại Việt Nam  
Huỳnh Văn Sơn1, Nguyễn Thị Diễm My2  
TÓM TẮT: Đời sống gia đình không hạnh phúc trong những gia đình không toàn  
1 Email: sonhuynht[email protected]  
vẹn hiện nay đang trở thành một trong những tác nhân gây ảnh hưởng và tổn  
thương tâm lí nặng nề đến con trẻ.Thông qua việc tìm hiểu nhận thức của các  
bậc cha mẹ về những biểu hiện tổn thương tâm lí của con cái trong nhóm gia  
đình này, chúng tôi thấy rằng, nhóm biểu hiện “chú ý”; “lo âu - trầm cảm” và  
“thu mình” là ba nhóm biểu hiện đặc trưng và tiêu biểu của trẻ bị tổn thương  
tâm lí do chính gia đình không trọn vẹn tác động. Đây là những biểu hiện mà  
chúng ta cần quan tâm theo dõi và đề xuất giải pháp hỗ trợ tâm lí, góp phần  
giảm thiểu tổn thương tâm lí của trẻ trong những gia đình không toàn vẹn này.  
2 Email: myntd@hcmue.com  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh  
280 An Dương Vương, phường 4, quận 5,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
TỪ KHÓA: Biểu hiện; tổn thương tâm lí; gia đình không toàn vẹn; trẻ em.  
Nhận bài 01/02/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 20/02/2019 Duyệt đăng 25/03/2019.  
1. Đặt vấn đề  
Sau 30 năm đổi mới, xã hội và con người Việt Nam đã  
có những đổi thay đáng kể. Kinh tế hộ gia đình (GĐ) đã có  
Nghiên cứu năm 2010 về vấn đề này cũng chỉ ra những  
con số thống kê khiến nhiều người lo ngại. Theo đó, 60%  
các em trải qua những biến cố GĐ to lớn tính tới cả li hôn,  
bước phát triển mạnh, trở thành bộ phận quan trọng trong mất mát người thân hay cha mẹ tái hôn, tốt nghiệp trung  
học khi đã 20 tuổi.Tuy nhiên, chỉ tính riêng li hôn, tỉ lệ là  
78%. Trẻ càng nhỏ khi cha mẹ li hôn xảy ra thì càng bị ảnh  
hưởng nhiều. Nhiều biến cố liên tiếp xảy ra, sau hôn nhân  
đổ vỡ như cha hoặc mẹ tái hôn sẽ khiến các em khó khăn  
hơn trong học hành (Afua Hirsch, 2009).  
Có thể nói, sự hụt hẫng về mặt tâm lí trong GĐ không  
toàn vẹn (GĐKTV) mang đến cho đứa trẻ biến đổi mạnh  
mẽ trong đời sống tâm lí. Theo nghiên cứu trong suốt 15  
năm của tác giả Wolchik, S. và cộng sự về sự tác động dài  
hạn của GĐ tan vỡ đến tâm lí con trẻ cho thấy sự tan vỡ  
hạnh phúc GĐ để lại những tổn thương tâm lí (TTTL) trong  
một thời gian kéo dài và có xu hướng không bao giờ lành  
lặn trong tâm lí của trẻ [3].  
Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến việc tìm hiểu  
và phân tích một số biểu hiện TTTL của trẻ sống trong  
GĐKTV tại Việt Nam như một minh chứng cho sự cần thiết  
của việc sàng lọc, nhận diện và đề xuất các biện pháp hỗ trợ,  
can thiệp TTTL cho trẻ sống trong GĐKTV trong tương lai.  
Bài báo này được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và  
Công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 “Nghiên  
cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi  
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”, mã số  
KHGD/16-20, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.  
nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào quá trình  
xóa đói giảm nghèo. Công tác dân số, kế hoạch hóa GĐ,  
chăm sóc giáo dục trẻ em đã tích cực góp phần xây dựng  
GĐ ấm no, hạnh phúc, xã hội ngày càng ổn định và phát  
triển. Vai trò của phụ nữ trong xã hội và GĐ được đề cao.  
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn  
hóa” đã làm cho xã hội ngày càng có nhiều GĐ văn hoá,  
GĐ hiếu học, tộc họ văn hóa, thôn bản văn hóa, góp phần  
tạo dựng cuộc sống bình yên, văn hoá hơn, hướng thiện hơn  
trong mỗi GĐ và trong cộng đồng xã hội [1].  
Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở  
rộng giao lưu văn hoá với thế giới, ngoài yếu tố tích cực,  
hội nhập cũng đã kéo theo vào đất nước ta những biến đổi  
trong văn hóa, đạo đức xã hội, làm giá trị đạo đức truyền  
thống trong mỗi GĐ cũng đang dần bị thay đổi, tình trạng  
li thân, li hôn gần đây có xu hướng năm sau cao hơn năm  
trước.Theo thống kê của tòa án nhân dân các cấp, số vụ li  
hôn ở nước ta đang gia tăng nhanh chóng. Hiện nay, mỗi  
năm có khoảng 66.000 GĐ tan vỡ và kết quả nghiên cứu  
của Nguyễn Minh Hòa [2] cho thấy, cứ 3 cặp kết hôn thì sẽ  
có một cặp chia tay. Sự tan vỡ GĐ này ảnh hưởng không  
nhỏ đến đời sống tâm lí con trẻ.  
Nghiên cứu năm 1990 do Jane Mauldon, Đại học Cali-  
fornia (Mĩ) cho thấy, 35% trẻ em rơi vào hoàn cảnh này có  
nguy cơ mắc phải các vấn đề sức khỏe, trong khi tỉ lệ nhiễm  
bệnh trung bình của các trẻ khác là 26%.Tác giả Mauldon  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Giới hạn nghiên cứu trẻ em trong GĐ có cha mẹ li hôn và  
giải thích, stress kéo dài và trầm trọng bởi những thay đổi GĐ mẹ đơn thân từ 6 đến 15 tuổi trên địa bàn Thành phố  
đáng kể sau cuộc li hôn của cha mẹ chính là nguyên nhân. Hồ Chí Minh cùng các tỉnh Long An, Tây Ninh và được sự  
Ngoài ra, các em cũng không còn được hưởng sự quan tâm đồng ý của ban giám hiệu, GV chủ nhiệm, tiến hành gặp  
đầy đủ của cả cha mẹ và một môi trường an toàn như trước gỡ các em và phụ huynh của các em giới thiệu nội dung  
để phát triển (Jane Mauldon, 1990).  
nghiên cứu đồng thời khuyến khích phụ huynh, HS tham  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
6
Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Diễm My  
Bảng 1: Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng TTTL của trẻ em trong GĐKTV  
Thành phần HS  
Thành phần phụ huynh  
Tần số  
116  
Tỉ lệ%  
34.52  
65.47  
100  
Tỉ lệ %  
11.61  
88.39  
100  
Tần số  
39  
Nam  
Nữ  
Nam  
Nữ  
Giới tính  
Tổng  
Giới tính  
220  
297  
336  
150  
336  
Tổng  
Tiểu học  
THCS  
150  
44.64  
44.64  
Tiểu học  
THCS  
Cấp học  
Tổng  
Cấp học của con  
186  
336  
55.36  
100  
55.36  
100  
186  
336  
Tổng  
TP. Hồ Chí Minh  
Long An  
115  
110  
111  
336  
252  
84  
34.23  
32.74  
33.04  
100  
34.23  
32.74  
33.04  
100  
115  
110  
111  
336  
252  
84  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Long An  
Tỉnh/thành  
phố  
Tỉnh/thành phố  
Tình trạng GĐ  
Tây Ninh  
Tây Ninh  
Tổng  
Tổng  
GĐ có cha mẹ li hôn  
GĐ mẹ đơn thân  
75  
75  
Đã li hôn  
Tình trạng GĐ  
Tổng  
25  
25  
Mẹ đơn thân  
Tổng  
336  
100  
100  
336  
gia trên tinh thần tự nguyện. Như vậy, việc lựa chọn mẫu  
nghiên cứu đã được lọc ở giai đoạn đầu tiên là chỉ khảo sát  
các trẻ và phụ huynh các trẻ từ 6 đến 15 tuổi trên địa bàn  
Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tây Ninh có cha mẹ  
li hôn hoặc GĐ mẹ đơn thân. Dưới đây là một số kết quả  
thống kê cụ thể về đặc điểm khách thể nghiên cứu ban đầu  
(xem Bảng 1).  
Trắc nghiệm CBCL gồm 112 items do phụ huynh đánh  
giá về biểu hiện của trẻ. Hạn chế của trắc nghiệm là đôi  
khi mức độ quan tâm của phụ huynh đến trẻ thấp, dẫn đến  
thực trạng là đánh giá chưa chính xác về biểu hiện của trẻ.  
Để khắc phục thực trạng này và nhằm tìm hiểu một cách  
khách quan nhất về biểu hiện TTTL của trẻ trong GĐKTV,  
chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ quan tâm của cha mẹ  
với con cái trong GĐKTV với câu hỏi một lựa chọn trong  
phiếu khảo sát “Sự quan tâm của bạn đối với con?”, ba  
đáp án được đưa ra để phụ huynh lựa chọn lần lượt là Cao  
(Luôn quan tâm, theo dõi, hỗ trợ con cái trong mọi hoạt  
động trong đời sống hằng ngày) – Trung bình (Ít quan tâm,  
theo dõi, hỗ trợ con cái, nhưng vẫn dành sự yêu thương,  
quan tâm ở một mức độ nhất định) – Thấp (không quan  
tâm, bỏ mặc con cái). Các trường hợp phụ huynh có mức độ  
quan tâm “thấp” sẽ được loại bỏ để không ảnh hưởng đến  
kết quả nghiên cứu chung. Sau đây là kết quả của việc tìm  
hiểu này (xem Bảng 2):  
Phương pháp trắc nghiệm, điều tra bằng bảng hỏi, phương  
pháp phỏng vấn và phương pháp toán thống kê được sử  
dụng, trong đó phương pháp trắc nghiệm là phương pháp  
chủ đạo. Để xác định tỉ lệ trẻ trong GĐKTV có TTTL, mức  
độ TTTL của trẻ em trong GĐKTV, biểu hiện của TTTL  
của trẻ em trong GĐKTV và ảnh hưởng của nó đến tự đánh  
giá của trẻ. Lựa chọn sử dụng test đã được chuẩn hóa về kĩ  
thuật sử dụng nhằm đánh giá, đo lường một chỉ báo về tâm  
lí của một người hay nhóm người trên cơ sở đối chiếu với  
một thang đo đã được chuẩn hóa hoặc một hệ thống phân  
loại trên những nhóm mẫu khác nhau về phương diện xã  
hội. Nghiên cứu sử dụng các trắc nghiệm: CBCL - Child  
behavior checklist - củaAchenbach T. M nhằm sàng lọc ban  
đầu về tỉ lệ trẻ nghiên cứu trong GĐKTV có TTTL, mức  
độ TTTL của trẻ nghiên cứu trong GĐKTV và biểu hiện  
của TTTL của trẻ nghiên cứu trong GĐKTV; ETES của  
Toulouse nhằm khảo sát tự đánh giá của trẻ trong GĐKTV.  
Từ đó, xác định ảnh hưởng của TTTL đến tự đánh giá của  
trẻ trong GĐKTV.  
Bảng 2: Mức độ quan tâm của cha mẹ với con cái trong GĐKTV  
Mức độ  
Cao  
Tần số  
25  
Tỉ lệ %  
51.02  
44.89  
4.08  
Trung bình  
Thấp  
22  
2
Tổng  
49  
100  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Kết quả đánh giá về mức độ quan tâm giữa cha mẹ với con  
cái trong gia đình không toàn vẹn  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ quan tâm giữa cha  
Số 15 tháng 03/2019  
7
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
mẹ với con cái trong GĐKTV ở mức cao, trung bình và yếu,  
cụ thể như sau: Đứng vị trí thứ nhất là mức độ quan tâm ở  
mức “cao” với 25/49 phụ huynh (51.02%), đứng vị trí thứ  
hai là mức độ quan tâm ở mức “trung bình” với 22/49 phụ  
huynh (44.89%). Điều này có thể thấy, phụ huynh quan tâm  
đến con cái từ trung bình trở lên với tổng 47/49 (95.91%).  
Kết quả này trùng khớp với quan điểm dạy con của người  
Việt trong nghiên cứu của tác giả Ngô Công Hoàn, truyền  
thống của các GĐ Việt Nam rất yêu thương con cái trong  
GĐ, không bao giờ để đứa trẻ phải chịu thiệt thòi. Trẻ em  
được sinh ra dù ở bất kì tầng lớp, giai cấp xã hội nào, các  
bậc cha mẹ đều cố gắng hết sức để chăm lo từng li từng tí,  
không để con của mình chịu thiệt thòi. Từ đó, hình thành  
nếp sống “hi sinh đời bố, củng cố đời con” trong các GĐ  
Việt [4]. Ngoài ra, Việt Nam đang trên đà đổi mới và tiếp  
thu nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật của thế giới, trong đó  
có các phương pháp dạy con tiên tiến của nhiều quốc gia,  
đặc biệt là phương pháp dạy con lối sống độc lập, tự lực  
cánh sinh và luôn tận dụng thử thách, khó khăn để rèn ý chí,  
nghị lực trong cuộc sống của người Do Thái, người Nhật,  
người Mĩ,… [5]. Với những phương pháp này, các bậc cha  
mẹ sẽ ít quan tâm sâu sát con cái của mình hơn và để cho  
các em tự lập trong chính cuộc sống của mình từ nhỏ. Do  
đó, quan điểm này phù hợp với kết quả về mức độ quan tâm  
ở mức “trung bình” của các bậc phụ huynh. Hoặc có thể,  
mức độ quan tâm ở mức trung bình xuất phát từ hoàn cảnh  
GĐ li tán, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ không hạnh phúc  
ảnh hưởng đến sự quan tâm dành cho con trẻ của mình.  
Cuối cùng, chỉ có 2/49 phụ huynh (4.08%) đánh giá có  
mức quan tâm đến con cái ở mức “thấp”. Như vậy, nghiên  
cứu sẽ tiến hành loại bỏ 2 trường hợp phụ huynh có mức độ  
quan tâm đến con cái trong GĐKTV “thấp” và chỉ nghiên  
cứu 47 trẻ em trong GĐKTV để đảm bảo tính khách quan  
về biểu hiện của TTTL.  
6
7
8
Vấn đề xã hội  
1.63  
1.47  
1.50  
5
8
7
Hành vi vi phạm quy tắc ứng xử  
Hành vi hung tính  
Kết quả từ Bảng 3 cho thấy, khi so sánh các nhóm biểu  
hiện TTTL của trẻ em trong GĐKTV không có sự chênh  
lệch nhiều, có 5/8 nhóm biểu hiện thuộc mức trung bình và  
3/8 biểu hiện thuộc mức thấp. Cụ thể như sau: Đứng ở vị  
trí thứ nhất là nhóm biểu hiện “vấn đề chú ý” với ĐTB =  
1.80. Đứng vị trí thứ hai là biểu hiện “Lo âu - Trầm cảm”  
với ĐTB = 1.74. Đứng vị trí thứ ba là biểu hiện “Thu mình”  
với ĐTB = 1.72. Tiếp theo là biểu hiện “vấn đề tư duy” với  
ĐTB = 1.64. Biểu hiện “Vấn đề xã hội” với ĐTB = 1.63.  
Biểu hiện “Rối loạn cơ thể” với ĐTB = 1.53. Biểu hiện  
“Hành vi hung tính” với ĐTB = 1.50. Và cuối cùng là biểu  
hiện “hành vi vi phạm quy tắc ứng xử” với ĐTB = 1.47. So  
sánh với nghiên cứu của tác giả Fagan và Churchill về sự  
tác động của việc cha mẹ li hôn đến tâm lí con trẻ, nghiên  
cứu cho thấy, so với trẻ em từ các GĐ toàn vẹn, trẻ sống  
trong GĐKTV trở nên tồi tệ hơn và có xu hướng thù địch  
với người lớn, lo lắng, rút lui, không tập trung và dễ dàng  
gây hấn [6]. Như vậy, có thể thấy sự chênh lệch giữa các  
nhóm biểu hiện không nhiều, cho thấy rõ ràng sự tác động  
qua lại, liên hệ mật thiết với nhau giữa các nội dung (xem  
Bảng 4).  
Bảng 4: Biểu hiện chồng lấn những TTTL của trẻ em trong  
GĐKTV  
Biểu hiện  
Tần số  
Tỉ lệ %  
6.38  
8 nhóm biểu hiện  
7 nhóm biểu hiện  
6 nhóm biểu hiện  
5 nhóm biểu hiện  
4 nhóm biểu hiện  
3 nhóm biểu hiện  
TỔNG  
3
6
12.77  
12.77  
27.66  
19.15  
21.28  
100%  
6
2.2.2. Biểu hiện tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình không  
toàn vẹn qua 8 chỉ báo của Test CBCL do phụ huynh đánh giá  
8 nhóm biểu hiện TTTL của trẻ trong GĐKTV qua 8 chỉ  
báo của Test CBCL do phụ huynh đánh giá bao gồm “thu  
mình”, “lo âu - trầm cảm”, “rối loạn cơ thể”, “vấn đề chú  
ý”, “vấn đề tư duy”, “vấn đề xã hội”, “hành vi vi phạm quy  
tắc”, “hành vi hung tính” (xem Bảng 3).  
13  
9
10  
47  
Kết quả Bảng 4 cho thấy, biểu hiện chồng lấn những  
TTTL của trẻ trong GĐKTV tối thiểu từ 3 nhóm biểu hiện  
trở lên và tối đa là 8 nhóm biểu hiện dựa trên 8 chỉ báo của  
test CBCL, cụ thể như sau:  
Đứng ở vị trí thứ nhất rơi vào “5 nhóm biểu hiện” với  
27.66%. Đứng vị trí thứ hai rơi vào “3 nhóm biểu hiện” với  
21.28%. Đứng vị trí thứ ba rơi vào “4 nhóm biểu hiện” với  
19.15%. Điều này có thể thấy rằng, những TTTL của trẻ  
em trong GĐKTV chủ yếu rơi vào khoảng trung bình từ 3  
nhóm biểu hiện - 5 nhóm biểu hiện với tổng 68.09%. Điều  
đáng quan ngại là số lượng trẻ em có biểu hiện chồng lấn  
TTTL trên 6 biểu hiện cũng không hề nhỏ. Trong đó, số  
lượng trẻ em ở mức “6 biểu hiện” và “7 biểu hiện” có tỉ lệ  
Bảng 3: Biểu hiện các nhóm TTTL của trẻ em trong GĐKTV  
TT Các nhóm biểu hiện  
ĐTB  
Xếp hạng  
1
2
3
4
5
Thu mình  
1.72  
1.74  
1.53  
1.80  
1.64  
3
2
6
1
4
Lo âu - Trầm cảm  
Rối loạn cơ thể  
Vấn đề chú ý  
Vấn đề tư duy  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
8
Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Diễm My  
phần trăm bằng nhau là 12.77% và cuối cùng tỉ lệ trẻ em có thứ hai là nội dung “Con bạn hay cãi cọ, lí sự” (thuộc nhóm  
“8 biểu hiện” là 6.38%. Qua đó, có thể thấy số lượng trẻ em biểu hiện “hành vi hung tính”) với ĐTB = 1.97. Đứng ở vị  
có biểu hiện chồng lấn TTTL trên 6 biểu hiện là 31.92%. trí thứ ba là nội dung “Con bạn cảm thấy lúng túng trong  
Đây là một con số không hề nhỏ, ảnh hưởng và chi phối lớn mọi việc” (thuộc nhóm biểu hiện “vấn đề chú ý”) với ĐTB  
đến đời sống cá nhân các em. Và theo thời gian, nếu không = 1.94.  
được tháo gỡ những TTTL, các chỉ số này có thể tăng lên  
Tiếp theo là nội dung “Con bạn hay cảm thấy mình kém  
bởi tất cả những con số này không chỉ dừng lại ở đây khi mà cỏi” (thuộc nhóm biểu hiện “lo âu – trầm cảm”) với ĐTB  
các em ngày càng trưởng thành và đang phải đối diện với = 1.93. Nội dung “Con bạn không thể dứt bỏ những ý nghĩ,  
các biểu hiện này mỗi ngày.  
bị ám ảnh về một điều gì đó” (thuộc nhóm biểu hiện “vấn  
Theo tác giả Arkes, việc li hôn của cha mẹ ảnh hưởng đề tư duy”) với ĐTB = 1.92. Nội dung “Con bạn cảm thấy  
nặng nề đến đời sống tâm lí của con cái trong GĐ, đặc biệt thất vọng, buồn rầu hoặc trầm cảm” và “Con bạn hay đa  
tác động mạnh đến nét nhân cách của trẻ tuổi vị thành niên. nghi” (cả hai đều thuộc nhóm biểu hiện “lo âu trầm cảm”)  
Các em có nhiều khả năng sử dụng rượu 2 - 4 năm trước khi với ĐTB = 1.91.  
cha mẹ li hôn (khi GĐ đang xảy ra xung đột, không hạnh  
Nội dung “Con bạn lóng ngóng, vụng về” (thuộc nhóm  
phúc). Sau khi li hôn, vị thành niên có nguy cơ sử dụng biểu hiện “vấn đề xã hội”) với ĐTB = 1.88. Nội dung “Con  
rượu và cần sa tăng lên. Tầm quan trọng của các hiệu ứng bạn khó tập trung chú ý” (thuộc nhóm biểu hiện “vấn đề  
vẫn tồn tại khi thời gian trôi qua từ cuộc li hôn đó [7].  
chú ý”) với ĐTB = 1.87 và cuối cùng là nội dung “con  
Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Anthony, C. J., bạn hay bướng bỉnh” (thuộc nhóm biểu hiệnthuộc nhóm  
DiPerna, J. C., và Amato, P. R. cũng cho thấy, hệ quả sau “Hành vi hung tính’) với ĐTB = 1.86. Đây được xem xét  
cuộc li hôn của cha mẹ có liên quan đến những tác động tiêu như những biểu hiện điển hình của TTTL trong GĐKTV.  
cực đối với kết quả học tập của những trẻ đang trong giai So sánh với nghiên cứu của nhóm tác giả Ladan Hashemi  
đoạn trưởng thành, đặc biệt là đối với bé gái [8].  
và Halleh Homayuni, ta nhận thấy có sự tương đồng về các  
Như vậy, có thể thấy rằng những biểu hiện TTTL trong biểu hiện TTTL thường gặp ở trẻ sống trong GĐKTV, mức  
GĐKTV bao gồm nhiều biểu hiện cùng lúc, có mối liên kết độ trầm cảm, căng thẳng, lo lắng cùng với những biểu hiện  
mật thiết với nhau và tác động lớn đến mọi lĩnh vực trong về lối sống “Thích một mình”, cách li xã hội, hạn chế giao  
đời sống sinh hoạt cũng như đời sống tâm lí các em. Điều tiếp, dễ gây hấn và chậm chạp trong hành động, tư duy của  
này rung lên hồi chuông báo động với các nhà nghiên cứu, những trẻ trong GĐKTV (cha mẹ li hôn, li thân) cao hơn  
các cơ quan chức năng liên quan, nhất là trong lĩnh vực tâm đáng kể về các vấn đề cảm xúc và hành vi so với những  
lí học tham vấn – trị liệu, tìm hiểu giúp tháo gỡ vấn đề tâm trẻ sống trong GĐ toàn vẹn. Ngoài ra, các vấn đề về cảm  
lí của các em (xem Bảng 5).  
xúc và hành vi ở mức độ trung bình, nghiêm trọng và rất  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, TTTL của trẻ em trong nghiêm trọng phổ biến ở trẻ em trong GĐ li thân hơn là li  
GĐKTV dựa vào 8 nhóm biểu hiện có những biểu hiện hôn [9] (xem Bảng 6).  
TTTL điển hình với ĐTB = 1.91 nằm ở mức cao. Đứng ở  
Kết quả kiểm nghiệm so sánh về biểu hiện TTTL của trẻ  
vị trí thứ nhất là nội dung “Con thích ở một mình” (thuộc qua các biến số độc lập: giới tính, tỉnh/thành phố, cấp học  
nhóm biểu hiện “thu mình”) với ĐTB = 1.98. Đứng ở vị trí và tình trạng GĐ có sự khác nhau. Cụ thể như sau:  
Bảng 5: Những biểu hiện TTTL của trẻ em trong GĐKTV điển hình  
TT  
10 biểu hiện TTTL  
ĐTB  
Xếp hạng  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
Con thích ở một mình (thuộc nhóm “Thu mình”)  
1.98  
1.97  
1.94  
1.93  
1.92  
1.91  
1.91  
1.88  
1.87  
1.86  
1
2
3
4
5
7
7
8
9
10  
Con bạn hay cãi cọ, lí sự (thuộc nhóm “hành vi hung tính”)  
Con bạn cảm thấy lúng túng trong mọi việc (thuộc nhóm “vấn đề chú ý”)  
Con bạn hay cảm thấy mình kém cỏi (thuộc nhóm “lo âu - trầm cảm”)  
Con bạn không thể dứt bỏ những ý nghĩ, bị ám ảnh về một điều gì đó (thuộc nhóm “vấn đề tư duy”)  
Con bạn cảm thấy thất vọng, buồn rầu hoặc trầm cảm (thuộc nhóm “lo âu - trầm cảm”)  
Con bạn hay đa nghi (thuộc nhóm “lo âu - trầm cảm”)  
Con bạn lóng ngóng, vụng về (thuộc nhóm “vấn đề xã hội”)  
Con bạn khó tập trung chú ý (thuộc nhóm “vấn đề chú ý”)  
Con bạn hay bướng bỉnh (thuộc nhóm “hành vi hung tính”)  
ĐTB chung  
1.91  
Số 15 tháng 03/2019  
9
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 6: So sánh biểu hiện TTTL của trẻ qua các biến số độc lập  
Giới tính  
Nam  
Tỉnh/thành phố  
Cấp học  
Tình trạng GĐ  
GĐ có cha  
mẹ li hôn  
GĐ có mẹ  
đơn thân  
Nữ  
Long An  
Tây Ninh TP. Hồ Chí Minh Tiểu học  
THCS  
ĐTB  
Sig  
2.88  
3.1  
2.84  
2.55  
2.27  
3.57  
2.90  
1.76  
3.08  
2.49  
0.01  
3.49  
1.345  
Về mặt giới tính, kết quả kiểm nghiệm cho thấy, giữa nam tình cảm của cha nhưng các em được sống trọn trong tình  
và nữ cho thấy Sig = 1.345 và Sig > 0.05, suy ra không có  
sự khác biệt về biểu hiện TTTL của trẻ trong GĐKTV về  
mặt giới tính. Ở trẻ nam, có ĐTB = 2.88 và trẻ nữ có ĐTB  
= 3.1. Dù sự chênh lệch khá nhỏ nhưng phản ánh phần nào  
thực tế những biểu hiện TTTL này xuất hiện ở trẻ nữ nhiều  
hơn trẻ nam.  
Về tỉnh/thành phố sinh sống, kết quả kiểm nghiệm cho  
thấy Sig = 2.55 > 0.05. Vì vậy, không có sự khác biệt về  
địa điểm sinh sống của những trẻ trong GĐKTV với các  
biểu hiện TTTL do GĐKTV gây ra. Ngoài ra, dữ liệu còn  
phản ánh, ĐTB tại Thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất  
(3.57). Con số này cho thấy những trẻ sống trong GĐKTV  
tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải nhiều vấn đề và có  
nhiều biểu hiện TTTL hơn so với khu vực tỉnh Long An và  
Tây Ninh.  
yêu thương của mẹ. Đây là sự lựa chọn ngay từ ban đầu của  
người mẹ trong sự vui vẻ, đón nhận. Còn đối với trẻ sống  
trong GĐ có cha mẹ li hôn, thường các em phải chứng kiến  
cảnh cha mẹ gây gổ, cãi nhau, thậm chí bạo lực khiến các  
em mất niềm tin vào cuộc sống. Nhất là khi kết thúc cuộc  
hôn nhân này, những người trong cuộc thường chỉ trích đối  
phương, nói với con những điều không tốt về đối phương,  
làm giảm hình ảnh, giá trị của cha hoặc mẹ khiến các em  
khi chứng kiến cảnh này thường rơi vào trạng thái lo sợ,  
buồn khổ, mất niềm tin bởi ngay cả sống trong chính GĐ  
mình nhưng các em vẫn bị tổn thương, thiếu an toàn, bị  
đưa vào cuộc tranh luận của người lớn. Như vậy, có thể  
thấy môi trường, hoàn cảnh GĐ ảnh hưởng rất lớn đến nhận  
thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em.  
Về mặt cấp học, kết quả kiểm nghiệm giữa cấp Tiểu học  
và cấp Trung học cơ sở (THCS) cho thấy Sig = 1.76 và Sig  
> 0.05, không có sự khác biệt về biểu hiện TTTL của trẻ  
trong GĐKTV về mặt cấp học. Ở cấp Tiểu học, có ĐTB =  
2.90 và cấp THCS có ĐTB = 3.08. Sự chênh lệch không  
quá lớn và điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm phát  
triển tâm lí lứa tuổi. Bởi vì ở cấp THCS, các em bắt đầu vào  
độ tuổi dậy thì, tư duy, trí nhớ, chú ý… đều ngày càng phát  
triển, hoàn thiện hơn so với Tiểu học.  
Về tình trạng GĐ, kết quả kiểm nghiệm giữa GĐ có cha  
mẹ li hôn và GĐ có mẹ đơn thân cho thấy Sig = 0.01 và Sig  
< 0.05. Suy ra, có sự khác biệt về biểu hiện TTTL của trẻ  
trong GĐKTV ở mặt tình trạng GĐ. GĐ có cha mẹ li hôn  
có ĐTB = 2.49 và GĐ có mẹ đơn thân = 3.49, có sự chênh  
lệch. Qua kết quả, có thể thấy được những trẻ sống trong  
GĐ có mẹ đơn thân có ít biểu hiện TTTL hơn trẻ sống trong  
GĐ có cha mẹ li hôn. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực  
3. Kết luận  
Biểu hiện TTTL của trẻ em trong GĐKTV thông qua  
bảng đánh giá của 336 phụ huynh của test CBCL cho thấy  
cao nhất là nhóm biểu hiện “Chú ý”. Đứng vị trí thứ hai là  
biểu hiện “Lo âu - Trầm cảm”. Đứng vị trí thứ ba là biểu  
hiện “Thu mình”. Phân tích sâu về những biểu hiện TTTL  
điển hình của trẻ trong GĐKTV, biểu hiện “Con thích ở  
một mình” đứng vị trí cao nhất. Thứ hai là nội dung “Con  
bạn hay cãi cọ, lí sự”. Ở vị trí thứ ba là nội dung “Con bạn  
cảm thấy lúng túng trong mọi việc”. Dù kết quả trên chỉ  
được nhìn nhận dưới một chiều kích là nhận định của cha  
mẹ những trẻ đang sống trong GĐKTV nhưng cũng phản  
ánh phần nào thực trạng những biểu hiện TTTL mà các em  
gặp phải khi sống trong môi trường GĐKTV. Kết quả này  
là tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp  
hỗ trợ, giảm thiểu TTTL của trẻ sống trong GĐKTV trong  
tế bởi những trẻ em sống trong GĐ mẹ đơn thân có thể thiếu tương lai.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
10  
Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Diễm My  
Tài liệu tham khảo  
[1] Hương, Đ. T., (2014), Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm  
thần ở trẻ em từ 6 - 18 tuổi tại 02 cơ sở chăm sóc, giáo  
dục trẻ mồ côi (Luận văn thạc sĩ tâm lí học), Trường Đại  
học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[2] Hòa, N. M., (2018), Để giảm tỉ lệ li hôn: Học cách sống  
aspx?Cat_ID=125&News_ID=3274884  
[3] Wolchik, S., Christopher, C., Tein, J. Y., Rhodes, C. A., &  
Sandler, I. N., (2018), Long-Term Effects of a Parenting  
Preventive Intervention on Young Adults’ Attitudes  
Toward Divorce and Marriage. Journal of Divorce &  
Remarriage,1-18.  
[6] Fagan, P. F., & Churchill, A., (2012), The effects of  
divorce on children, Marri Research,1-48.  
[7] Arkes, J., (2013), The temporal effects of parental divorce  
on youth substance use, Substance Use & Misuse, 48(3),  
290-297.  
[8] Anthony, C. J., DiPerna, J. C., & Amato, P. R., (2014),  
Divorce, approaches to learning, and children’s academic  
achievement: A longitudinal analisis of mediated and  
moderated effects, Journal of school psychology, 52(3),  
249-261.  
[9] Ladan Hashemi  
&
Halleh Homayuni, (2017),  
Emotional Divorce: Child’s Well-Being, Journal  
[4] Hoàn, N. C., (1993), Tâm lí học gia đình, Trường Đại học  
Sư phạm Hà Nội.  
of Divorce & Remarriage. 58:8, 631 - 644. DOI:  
10.1080/10502556.2016.1160483  
[5] Báo Dân trí, (2016), Phương pháp giáo dục tiên tiến đến  
từ Nhật Bản đến Việt Nam. Truy cập tại: https://dantri.com.  
vn/giao-duc-khuyen-hoc/phuong-phap-giao-duc-tien-tien-  
nhat-ban-den-viet-nam-20160513134202117.htm  
[10] Dawson, D., (1991, Famili structure anh children’s health  
and well-being: data from the 1988 National Health  
Interview Survey on child health, Journal of Marriage and  
Famili, 53(3), 573-584. DOI: 10.2307/352734.  
PSYCHOLOGICAL TRAUMA’S SYMPTOMS OF CHILDREN LIVING  
IN THE INCOMPLETE FAMILIES IN VIETNAM  
Huynh Van Son1, Nguyen Thi Diem My2  
ABSTRACT: Unhappy family life in incomplete families is now becoming one of  
1 Email: sonhuynht[email protected]  
the most influential factors and causing psychological traumas for children.  
2 Email: myntd@hcmue.com  
Through learning about parents’ perceptions of their children’s psychological  
trauma symptoms in this family group, we found that the three symptom  
groups which show the characteristics of psychological trauma symptoms due  
to incomplete families are “Attention”; “Anxiety - depression” and “Seizure”.  
These are the situations we need to consider and propose psychological  
solutions, contributing to minimizing the psychological trauma for children in  
these families.  
Ho Chi Minh City University of Pedagogy  
280 An Duong Vuong Street, ward 4, district 5,  
Ho Chi Minh City, Vietnam  
KEYWORDS: Symptoms; psychological trauma; incomplete families; children.  
Số 15 tháng 03/2019  
11  
pdf 6 trang Thùy Anh 20560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số biểu hiện tổn thương tâm lí của trẻ sống trong gia đình không toàn vẹn tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bieu_hien_ton_thuong_tam_li_cua_tre_song_trong_gia_di.pdf