M&A cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường bán lẻ

M&A CƠ HỘI CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
KHI THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ  
CH. Mai Thoại Diễm Phương  
ThS. Trương Thị Thuý Vân  
TÓM TẮT  
Thị trường bán lẻ, nhất là hình thức doanh nghiệp với chuỗi bán lẻ hiện  
đại đang chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt. Các nhà bán lẻ trong nước theo  
nhận định của nhiều chuyên gia thì vẫn còn nhiều nhược điểm: Giá cả thiếu  
cạnh tranh; Chất lượng mua hàng thiếu ổn định; Hệ thống phân phối chưa được  
rộng khắp về các vùng nông thôn… Để có thể lớn mạnh đủ sức trụ vững ở thị  
trường này, M&A có thể là một lựa chọn. M&A là một phương thức rất bình  
thường và cũng thông dụng trong những năm gần đây ở trên thế giới cũng như ở  
Việt Nam. M&A giúp dẫn đầu xu hướng; M&A giúp DN tìm lại thế cân bằng;…  
Tuy vậy M&A tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp, cần có khung  
pháp lý chắc chắn về vấn đề M&A nhằm tránh tình trạng tự phát.  
Thị trường bán lẻ  
Theo báo cáo về “Mức độ sôi động của các thị trường bán lẻ khu vực  
châu Á – Thái Bình Dương 2014″ do CBRE công bố, Việt Nam là một trong  
những thị trường bán lẻ tiềm năng được đánh giá cao vào bậc nhất khu vực do cơ  
cấu dân số trẻ và sức mua ngày càng được cải thiện nhờ tầng lớp trung lưu bành  
trướng mạnh mẽ.  
Hình 1. 10 quốc gia có thị phần bán lẻ cao nhất trong năm 2014  
Nhìn vào thực tế, vấn đề đáng lo ngại nhất chính là nội lực của hệ thống  
bán lẻ Việt Nam hiện nay vẫn còn khá nhiều yếu điểm, trong đó phải kể đến bốn  
điểm yếu cơ bản là: tài chính, hậu cần, sự chuyên nghiệp và vấn đề nhân lực.  
75  
Giải pháp M&A:  
Để có thể lớn mạnh đủ sức trụ vững ở thị trường này, M&A có thể là một  
lựa chọn tối ưu. M&A, được viết tắt từ hai chữ Tiếng Anh “Merger (sáp nhập)  
và Acquisition (mua lại)” là một thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính  
kinh doanh và quản trị chiến lược. Hoạt động M&A là hoạt động sáp nhập hay  
mua bán giữa hai hoặc nhiều công ty với nhau. Trong giai đoạn khủng hoảng  
kinh tế như hiện nay, việc hai công ty sát nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn  
hai công ty hoạt động riêng lẻ. Trong một số trường hợp, những công ty lớn sẽ  
mua lại các công ty nhỏ và yếu hơn nhằm tạo nên một công ty mới có sức cạnh  
tranh hơn và giảm thiểu chi phí. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng  
thị phần và đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Vì thế, những công ty nhỏ  
thường sẵn sàng để công ty khác mua. Điều đó sẽ tốt hơn nhiều so với việc bị  
phá sản hoặc rất khó khăn để tồn tại trên thị trường.  
M&A hiện đang diễn ra phổ biến tại các quốc gia trên thế giới. Năm  
2013, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt 2.215 tỷ đô, trong đó các thương vụ M&A  
diễn ra nhiều nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông chiếm tới  
23%. Đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, giá trị M&A đạt 403,4 tỷ đô  
tăng 15% so với năm 2012, trong đó Nhật Bản là quốc gia có những thương vụ  
M&A lớn với tổng giá trị M&A đạt 42,9 tỷ đô. Trước năm 2007, mỗi năm Việt  
Nam chỉ có không quá 50 thương vụ M&A, với giá trị giao dịch cao nhất khoảng  
300 triệu USD. Bắt đầu từ năm 2009, giá trị của các thương vụ M&A đã đạt hơn  
1,08 tỷ USD và đến năm 2012 giá trị này đã tăng thành 5,1 tỷ USD. Theo dự  
kiến của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng của hoạt động này đến năm 2017 có  
thể đạt 25-30%. Trong số các nhà đầu tư nước ngoài, đối tác Nhật Bản chiếm ưu  
thế trong các hoạt động M&A tại Việt Nam, tiếp theo là Mỹ và Singapore.  
M&A là một công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tái cấu trúc, duy trì và  
nâng cao hiệu quả hoạt động. M&A còn khơi nguồn đầu tư lớn từ nước ngoài đổ  
vào để tăng khả năng phát triển kinh tế của các quốc gia. Các hoạt động này đã  
tạo ra một xu thế hướng các công ty, tập đoàn đến việc liên kết tập trung nhằm  
tận dụng các giá trị cộng hưởng từ thương hiệu, tài chính và thị trường. Mục  
đích cuối cùng của hoạt động M&A thường để kết hợp lợi ích tài chính, hạ thấp  
chi phí vốn của doanh nghiệp và tạo ra giá trị ngay cả khi các hoạt động của  
doanh nghiệp không sinh lợi. Vấn đề quan trọng là làm sao để hai bên thống nhất  
về mục tiêu.  
Những hạn chế của hoạt động M&A  
Trên thực tế, hoạt động M&A cũng gặp không ít khó khăn khi thực hiện:  
• Hệ thống luật pháp còn bất cập: Mặc dù Chính phủ đã có nhiều  
khuyến khích cho hoạt động đầu tư và nỗ lực cải cách môi trường pháp luật,  
nhưng các thương vụ M&A ở Việt Nam vẫn gặp phải những rào cản nhất định  
về pháp luật và chính sách quản lý. Theo quan điểm nhà đầu tư, sự bất cập của  
76  
hệ thống luật pháp vẫn là một trở ngại chính và tối quan trọng trong sự phát triển  
của hoạt động M&A. Trong năm 2013 và đầu năm 2014, một vài quy định mới  
liên quan đến hoạt động M&A thay thế các quy định cũ đã được ban hành, như  
Nghị định mới về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần ngân hàng thương  
mại Việt Nam; Nghị định 189/2013/NĐ-CP, thay thế Nghị định 59/2011/NĐ-CP  
về việc tư nhân hóa các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (SOEs), có thể đưa  
đến cải cách SOEs; Dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư khắc phục các giới hạn pháp lý  
hiện tại;...  
• Thay đổi về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài: Theo pháp luật  
hiện hành, quyền sở hữu nước ngoài bị hạn chế ở một số lĩnh vực kinh doanh  
trong việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được sở hữu một tỷ lệ nhất  
định trong vốn điều lệ của công ty mục tiêu. Cụ thể, 30% là tỷ lệ áp dụng đối với  
lĩnh vực ngân hàng; 49% áp dụng đối với dịch vụ viễn thông dựa trên hạ tầng có  
sẵn, lĩnh vực kinh doạnh giải trí và trò chơi điện tử; 51% áp dụng đối với dịch vụ  
nghe nhìn, dịch vụ vận tải đường bộ; 65% áp dụng đối với dịch vụ viễn thông  
không có cơ sở hạ tầng hoặc được phép đầu tư lên đến 100% trong các lĩnh vực  
không hạn chế.  
• Tìm kiếm công ty đầu tư mục tiêu phù hợp: Việc tìm một mục tiêu  
đầu tư đáng giá ở Việt Nam có thể được xem là khá thử thách, chủ yếu do thiếu  
các thương vụ chất lượng với quy mô phù hợp (trong đa số các ngành) và do  
thiếu các công ty đại chúng và thông tin thị trường. Do đó, nhiều nhà đầu tư tự  
dựa trên kiến thức và mối quan hệ của họ để tìm công ty đầu tư mục tiêu. Thêm  
vào đó, quá trình từ xác định công ty đầu tư mục tiêu hấp dẫn đến hoàn tất thành  
công thương vụ khá thử thách. Các nhà đầu tư rất coi trọng và đánh giá cao đội  
ngũ lãnh đạo có năng lực và đáng tin cậy, nhưng đây vẫn còn là một khía cạnh  
gây nhiều khó khăn. Cũng cần lưu ý rằng, việc thống nhất mục tiêu và chiến  
lược của nhà đầu tư và công ty đầu tư mục tiêu chưa bao giờ là một việc đơn  
giản và dễ dàng.  
• Sự thiếu chu đáo của bên bán: Ở Việt Nam, tầm quan trọng và sự cần  
thiết của một nhà tư vấn tài chính có kinh nghiệm trong một thương vụ M&A  
vẫn chưa được bên bán doanh nghiệp đánh giá cao. Thậm chí, một số doanh  
nghiệp không sẵn lòng kết hợp với một nhà tư vấn tài chính để được hỗ trợ trong  
việc điều phối và hoàn thành giao dịch bán doanh nghiệp, vì nghĩ rằng, họ có thể  
tự làm tốt hơn. Kết quả là sẽ tạo ra những căng thẳng và trong nhiều trường hợp  
đây có thể là lý do chính dẫn đến sự thất bại của thương vụ.  
• Công bố thông tin còn hạn chế: Một trong những khó khăn phổ biến  
trong quá trình soát xét tại Việt Nam là không có sẵn những công cụ tìm kiếm,  
cũng như mức độ tin cậy và kho dữ liệu thông tin. Vì vậy, quá trình soát xét sẽ  
được thực hiện chủ yếu dựa trên các tài liệu được cung cấp bởi bên bán liên quan  
77  
đến khía cạnh pháp lý, thuê, tài chính và hoạt động của công ty đầu tư mục  
tiêu. Trong khi đó, phía các nhà đầu tư yêu cầu các điều khoản cam kết và đảm  
bảo để đề phòng các rủi ro trong việc dựa trên toàn bộ thông tin khi độ chính xác  
chưa được đối chiếu với nhiều nguồn tại Việt Nam.  
• Tính minh bạch và chính trực của đội ngũ lãnh đạo: Môi trường  
kinh doanh tại Việt Nam chưa được minh bạch bằng các nước phát triển trên thế  
giới và chế tài pháp lý chưa được nhất quán. Vì thế, các công ty trong nước  
thường có những giao dịch thiếu minh bạch. Các công ty thường duy trì hai hệ  
thống sổ sách kế toán và đây là điều khá phổ biến. Công ty thường “giấu diếm”  
các nhà đầu tư tiềm năng những thông tin bất lợi về kinh doanh, như vấn đề về  
thuế, giao dịch với các bên liên quan, nợ/nợ tiềm ẩn và những tranh chấp/kiện  
tụng hiện có. Những quan ngại về năng lực và tính trung thực của đội ngũ lãnh  
đạo cũng cần được nhắc đến. Năng lực của đội ngũ lãnh đạo được đặc biệt lưu ý  
trong những thương vụ phức tạp, cũng có thể do những lo ngại của các nhà đầu  
tư về sự khác biệt về môi trường kinh doanh cũng như văn hóa lãnh đạo giữa nhà  
đầu tư và đội ngũ điều hành. Tính minh bạch của ban lãnh đạo doanh nghiệp  
đang là nguyên nhân đáng kể dẫn đến thất bại của các thương vụ.  
• Mức giá kỳ vọng chưa hợp lý của bên bán doanh nghiệp: Đây là hệ  
quả của việc thiếu hệ thống quản trị chuyên nghiệp, trong đó quyết định kinh  
doanh và kế hoạch đa phần được dựa trên “kinh nghiệm” hoặc “cảm tính” hơn là  
dựa trên thông tin và số liệu thực tế như đã đề cập ở trên. Một kế hoạch kinh  
doanh quá tham vọng sẽ đẩy giá kỳ vọng của bên bán đến mức phi thực tế. Một  
trong những cách thức để xoa dịu vấn đề này là nhà đầu tư đưa ra mức giá kỳ  
vọng sớm hơn (sau khi xem xét những tài liệu trọng yếu của bên bán doanh  
nghiệp) để xác định và tìm hướng giải quyết trước sự khác biệt mức giá giữa hai  
bên. Nhà đầu tư cũng cần chuẩn bị cơ sở hợp lý của mức giá đề nghị, dựa trên  
đánh giá rủi ro và tiềm năng của công ty, tình hình tài chính hiện tại và vị thế  
cạnh tranh trong ngành, bên cạnh những yếu tố khác.  
Tình hình ở Việt Nam hiện nay, với sức nóng của sự phát triển kinh tế,  
việc gia nhập WTO và sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đã tạo điều  
kiện hiệu thuận lợi thúc đẩy hoạt động M&A. Các hoạt động M&A trở thành  
mối quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như các cơ quan  
quản lý nhà nước. Sự gia tăng các thương vụ M&A trong thời gian qua cho thấy  
nhiều doanh nghiệp đã coi đây là hoạt động đầu tư, một kênh tham gia thị trường  
và là một trong những giải pháp để tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của  
doanh nghiệp.  
Để các hoạt động M&A do doanh nghiệp Việt Nam thực hiện có tỷ lệ  
thành công cao và nâng cao giá trị gia tăng cho các thương vụ M&A này, các  
doanh nghiệp Việt Nam cần tự trang bị cho mình kiến thức về hoạt động M&A  
78  
(các thủ tục, nguyên tắc, phương pháp định giá, quyền và nghĩa vụ của các bên  
tham gia, giải quyết tranh chấp phát sinh,…) cần bổ sung và đào tạo nguồn nhân  
lực chất lượng cao đáp ứng việc thực hiện các thương vụ M&A. Bởi yếu tố cốt  
lõi của các thương vụ M&A là việc định giá doanh nghiệp, đa phần các thương  
vụ M&A không thành công đến từ việc người bán trả giá quá cao so với giá trị  
thực tế của doanh nghiệp, vượt mức chi trả của người mua hoặc sau khi đã mua  
thì lại lúng túng trong việc quản lý một hệ thống cơ cấu tổ chức mới. Ngoài các  
yếu tố tự thân doanh nghiệp thì hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động M&A  
cần thống nhất và cụ thể hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việc lựa  
chọn được hình thức M&A phù hợp với nhu cầu, mục đích và môi trường kinh  
doanh của doanh nghiệp, kết hợp với một đội ngũ chuyên gia tốt, chuyên nghiệp  
cùng với sự hỗ trợ và bảo vệ của một hệ thống pháp luật hiệu quả sẽ giúp các  
hoạt động M&A của doanh nghiệp Việt Nam thành công hơn nhưng vẫn tránh  
được những rủi ro có thể có của hoạt động này như xung đột giữa các cổ đông  
lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông nhỏ hay các tác động của việc  
thay đổi nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
79  
pdf 5 trang Thùy Anh 17260 Free
Bạn đang xem tài liệu "M&A cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường bán lẻ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfma_co_hoi_cho_cac_doanh_nghiep_viet_nam_khi_tham_gia_vao_thi.pdf