Khám xét chỗ ở theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
KHÁM XÉT CHỖ Ở THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM  
Lê Nguyên Thanh*  
*TS. Giảng viên Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Khám xét là biện pháp điều tra phổ biến trong tố tụng hình sự và cũng dễ  
xung đột với quyền con người. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân  
tích một số vấn đề cơ bản về biện pháp khám xét chỗ ở theo luật tố tụng  
hình sự Việt Nam, bao gồm: căn cứ, thẩm quyền và một số thủ tục tiến  
hành khám xét và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Khám xét chỗ ở, luật tố  
tụng hình sự.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 26/2/2021  
: 22/4/2021  
: 28/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Searching is a common criminal procedure investigation method that  
may conflict with human rights. Within the scope of this article, the  
author gives out an analysis of a number of grounds for the measures  
for residential searching according to the criminal procedure law of  
Vietnam, including the grounds, authority, and searching procedures  
and also the author proposes a number of recommendations for further  
improvements.  
Keywords: Residential searching;  
criminal procedure law.  
Asia.Article History:  
Received  
Edited  
: 26 Feb. 2021  
: 22 Apr. 2021  
: 28 Apr. 2021  
Approved  
Biện pháp khám xét (khám xét người,  
chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện)  
là một trong những biện pháp dễ xung đột  
với quyền cơ bản của con người được pháp  
luật quốc tế1 và Hiến pháp năm 2013 ghi  
nhận2. Đây cũng là biện pháp được áp dụng  
khá phổ biến trong thực tiễn tố tụng hình  
sự, đặc biệt là khám xét chỗ ở. Mặc dù pháp  
luật tố tụng hình sự hiện hành đã có những  
quy định chi tiết về căn cứ, thẩm quyền, thủ  
tục thi hành biện pháp khám xét chỗ ở, tuy  
nhiên, thực tiễn cho thấy, một số quy định  
của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp  
này cần được phân tích làm rõ để áp dụng  
thống nhất, bảo đảm quyền bất khả xâm  
phạm về chỗ ở.  
1. Căn cứ khám xét chỗ ở  
Căn cứ áp dụng khám xét chỗ ở cũng  
như tất cả các trường hợp khám xét khác,  
1 Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966 quy định: “1. Không  
ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm  
phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín; 2. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những  
can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”. Bản tiếng Việt, Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện  
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội -2002.  
2 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí  
mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí  
mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn; 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại,  
điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”.  
18  
Số 20(444) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
được quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 192  
Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015.  
Quy định của điều luật cho thấy, căn cứ  
khám xét chỗ ở là tất cả những gì mà dựa  
vào đó người có quyền ra lệnh khám xét có  
cơ sở để nhận định về sự hiện diện của công  
cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật,  
tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ  
liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến  
vụ án. Đối tượng khám xét để thu giữ như  
điều luật liệt kê thực chất là những nguồn  
chứng cứ chứa các chứng cứ của vụ án.  
các chứng cứ khác đã thu thập được cho  
thấy cần phải khám xét chỗ ở; thời điểm  
phát hiện tội phạm...  
Thực tiễn khám xét chỗ ở đối với một  
số vụ án kinh tế - chức vụ, tham nhũng,  
ma túy, an ninh quốc gia, tội phạm trong  
lĩnh vực công nghệ thông tin và mạng viễn  
thông và một số tội phạm có tổ chức khác...  
thì hầu như đều tiến hành khám xét chỗ ở.  
Căn cứ để khám xét chỗ ở đối với các loại  
tội phạm của những vụ án này là vì hệ thống  
chứng cứ rất phức tạp, đa dạng được cất  
giấu nhiều nơi, có thể liên quan đến nhiều  
người, ở nhiều thời điểm. Điều đó có nghĩa,  
đối với những vụ án loại này, người có thẩm  
quyền ra lệnh khám xét luôn có căn cứ để  
nghi ngờ hoặc nhận định rằng có công cụ,  
phương tiện, tài liệu, đồ vật... liên quan đến  
vụ án còn cất giấu và cần phải tiến hành  
khám xét.  
Bên cạnh những nguồn chứng cứ cần  
tiến hành các hoạt động khám xét để thu  
thập chứng cứ, riêng khám xét chỗ ở cần  
khám xét để phát hiện người đang bị truy  
nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân (đoạn  
2 khoản 1 Điều 192). Đây là trường hợp  
khám xét để tìm con người còn sống, bao  
gồm người bị truy nã, truy tìm do bỏ trốn  
để tiến hành bắt giữ hoặc nạn nhân bị bắt  
cóc, bị giữ trái phép cần được giải cứu. Bộ  
luật TTHS năm 2015 chưa quy định khám  
xét chỗ ở để tìm tử thi hoặc bộ phận cơ thể  
người được cất giấu. Với đối tượng cần tìm  
này, Bộ luật TTHS của Cộng hòa Liên bang  
Nga quy định: “Việc khám xét cũng có thể  
được tiến hành để phát hiện người đang bị  
truy nã và thi thể người chết” (Khoản 16  
Điều 182)3. Như vậy, theo pháp luật tố tụng  
của Liên bang Nga, tử thi hoặc bộ phận cơ  
thể người nếu có liên quan trong vụ án được  
sử dụng để thu thập chứng cứ chứng minh  
tội phạm thì cũng cần tiến hành khám xét.  
Đối với những vụ án của các tội phạm  
khác, căn cứ khám xét chỗ ở dựa vào đánh  
giá chủ quan của người có quyền ra lệnh  
khám xét còn phụ thuộc vào chứng cứ khác  
có được trước đó như từ lời khai, khám  
nghiệm hiện trường, khám xét người, khám  
xét phương tiện, đối chất... Kết quả thu thập  
chứng cứ từ những nguồn này cho thấy còn  
có chứng cứ từ các nguồn chứng cứ khác  
được cất giấu hoặc có người bị truy nã đang  
lẩn trốn, có nạn nhân bị giữ trái phép, có tử  
thi hoặc bộ phận cơ thể người đang cất giấu.  
Đối với những vụ án không bị bắt quả tang  
nếu có căn cứ khác để nhận định có công  
cụ, phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện  
tử... liên quan đến vụ án cần khám xét chỗ ở  
để thu giữ thì người có thẩm quyền cũng có  
thể ra lệnh khám xét.  
Như vậy, căn cứ khám xét chỗ ở không  
đơn giản chỉ là nhận định chủ quan, cảm  
tính của người có quyền ra lệnh khám xét  
mà cần dựa vào một số biểu hiện khách  
quan khác để có lý do nghi ngờ những gì  
cần tìm đang hiện diện ở chỗ ở cần khám  
xét. Đó là dựa vào tội phạm đã thực hiện;  
Vấn đề vướng mắc chủ yếu trong quy  
định căn cứ khám xét là nhận định mang  
tính chủ quan của người có quyền ra lệnh  
org/download/id/4248/file/RF_CPC_2001_am03.2012_en.pdf, truy cập 19/4/2020.  
Số 20(444) - T10/2021  
19  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
khám xét, đó là sự đánh giá tính “có căn  
cứ để nhận định...” về đối tượng cần tìm  
trong khám xét. Thực tiễn cũng có trường  
hợp, sau khi khám xét chỗ ở không thu  
giữ được gì4. Vì thế, có một số ý kiến cho  
rằng, vướng mắc trong căn cứ khám xét nói  
chung và khám xét chỗ ở nói riêng chủ yếu  
tập trung ở sự thiếu rõ ràng trong đánh giá  
thế nào là “có căn cứ để nhận định có công  
cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật,  
tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ  
liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến  
vụ án”. Nếu so sánh với pháp luật tố tụng  
hình sự của Nga và Đức thì mức độ diễn  
đạt ý thức chủ quan khi đánh giá về tính có  
căn cứ để ra lệnh khám xét của người có  
thẩm quyền cũng chỉ tương tự như vậy. Ví  
dụ, căn cứ khám xét theo Điều 182 Bộ luật  
TTHS Nga thì căn cứ là: “là có đủ những  
tài liệu để tin rằng (bản dịch tiếng Anh là:  
sufficient data to believe that...) ở một địa  
điểm hoặc trong một người nào đó có thể  
có công cụ phạm tội, những vật, tài liệu và  
vật có giá trị và có thể có ý nghĩa chứng  
minh quan trọng đối với vụ án”. Bộ luật  
TTHS Đức nêu căn cứ: “Việc khám người,  
khám đồ vật và khám chỗ ở của kẻ phạm  
tội hay người xúi giục hay đồng phạm bị  
nghi ngờ là đã thực hiện một hành vi phạm  
tội (bản dịch tiếng Anh là...is suspected of  
committing...) hoặc nghi ngờ là đồng phạm  
hoặc gây cản trở cho thực thi pháp luật...”  
(Điều 102)5. Căn cứ này cũng được diễn  
giải là: “người bị tình nghi hoặc nhà của họ,  
nơi làm việc hoặc bất kỳ địa điểm nào khác,  
nơi liên quan đến vật... được cho là bị phát  
hiện thì có thể khám xét6. Như vậy, về mặt  
lập pháp, rất khó đòi hỏi cao hơn về mức  
độ cụ thể, rõ ràng khi quy định các căn cứ  
khám xét mang tính chủ quan. Điều đó còn  
phụ thuộc vào loại tội phạm, tính chất vụ  
án, những chứng cứ thu thập được, ý thức  
pháp luật và niềm tin nội tâm của người có  
thẩm quyền ra lệnh khám xét.  
2. Về thẩm quyền ra lệnh khám xét chỗ ở  
Theo quy định tại Điều 193 của BLTTHS  
năm 2015, chủ thể có quyền ra lệnh khám  
xét gồm:  
- Trường hợp thông thường, người có  
quyền ra lệnh khám xét gồm:  
+ Những người có thẩm quyền quy định  
tại khoản 1 Điều 113: a) Thủ trưởng, Phó  
Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; b)  
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng  
Viện kiểm sát quân sự các cấp; c) Chánh án,  
Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh  
án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp;  
Hội đồng xét xử.  
+ Những người được giao nhiệm vụ  
tiến hành một số hoạt động điều tra được  
quy định tại khoản 2 Điều 35. Lệnh khám  
xét của những chủ thể này và của những  
người theo điểm a khoản 1 Điều 113 của  
Bộ luật TTHS (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng  
Cơ quan điều tra các cấp) phải được Viện  
kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi  
thi hành.  
- Trong trường hợp khꢀn cấp, những  
người có thẩm quyền ra lệnh giữ người  
trong trường hợp khẩn cấp được quy định  
tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật TTHS có  
4 Ví dụ thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Ngọc Thành về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính  
quyền nhân dân ngày 16/4/2020 của Cơ quan an ninh điều tra (ANĐT) Công an tỉnh An Giang. Đối với tội  
phạm này, Cơ quan ANĐT đã tiến hành khám xét chỗ ở nhưng kết quả khám xét không thu giữ được gì (Biên  
bản khám xét ngày 16/4/2020).  
5 Bộ luật TTHS Liên bang Đức (bản tiếngAnh), https://germanlawarchive.iuscomp.org/?p=754, truy cập 21/4/2020  
6
Hans-Heiner KÜHNE, Criminal procedure systems European Community, Christine VAN DEN  
WYNGAERT (Editor) and C.GANE, H.H.KÜHNE, F.MMCAULEY (Co-editor Butterworths, London,  
Brussels, Dublin, Edinburgh, 1993. p.151  
20  
Số 20(444) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
quyền ra lệnh khám xét7. Trong thời hạn  
24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra  
lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản  
cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm  
sát có thẩm quyền thực hành quyền công  
tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án. Đây  
được xem là trường hợp ngoại lệ khi ra lệnh  
khám xét.  
lệ là chỉ những trường hợp khꢀn cấp, nơi  
không có đủ thời gian để có lệnh khám của  
Tòa mà không ảnh hưởng đến việc khám  
xét, thì công tố viên hoặc thậm chí là cảnh  
sát tự ra lệnh khám xét. Đòi hỏi của pháp  
luật quốc tế cũng như Hiến pháp của Đức  
là vậy. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng  
ở Đức, “phần lớn việc khám xét dựa trên  
lệnh của công tố viên hoặc cảnh sát. Do đó,  
ngoại lệ đã trở thành quy tắc: lệnh khám  
xét do thẩm phán ban hành đã trở thành  
thực tế khá là đặc biệt, trong khi thực tiễn  
cảnh sát và công tố viên tự mình tìm kiếm  
đã trở thành quy tắc”9. Cảnh sát thường giả  
định rằng có nguy hiểm trong sự trì hoãn  
(danger in delay) do mất thời gian trình một  
vấn đề trước tòa án để có lệnh khám dẫn  
đến mất chứng cứ cần tìm. Thực tiễn này  
bị Tòa án Hiến pháp của Đức chỉ trích và  
tuyên bố rằng không đơn giản như giả định  
của cảnh sát mà phải có tài liệu về lý do  
không đạt được lệnh khám xét của tòa án.  
Hơn nữa, Tòa án Hiến pháp còn yêu cầu các  
Tòa án địa phương thiết lập một hệ thống  
“thẩm phán trực tuyến” (on –call judges),  
thậm chí sẵn sàng giải quyết lệnh khám xét  
ngoài giờ”10.  
Với quy định trên, dễ nhận thấy phạm vi  
người có thẩm quyền ra lệnh khám xét theo  
luật tố tụng hình sự Việt Nam khá rộng.  
Khám xét không thuộc trường hợp khẩn  
cấp, không chỉ có Tòa án mà Viện kiểm sát  
cũng có quyền độc lập ra lệnh khám xét.  
Ngoài ra, những chủ thể thuộc cơ quan điều  
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành  
một số hoạt động điều tra cũng có quyền  
ra lệnh khám xét nhưng phải được Viện  
kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Đây  
là những điểm khác biệt so với pháp luật ở  
nhiều nước châu Âu vốn đề cao quyền con  
người theo pháp luật quốc tế và Hiến pháp  
của mỗi nước. Theo Bộ luật TTHS của Đức  
(Điều 105), lệnh khám xét chỉ được thực  
hiện bằng lệnh khám xét của Tòa án. Thực  
tế, lệnh khám xét của Tòa án thường dựa  
trên đề nghị của công tố viên và không có  
phiên tòa. Lệnh khám xét bằng chữ viết,  
phải thể hiện rõ nơi khám xét cũng như  
những gì cần phát hiện8. Trường hợp ngoại  
Tương tự, Bộ luật TTHS của Nga, việc  
khám xét chỗ ở cũng phải phù hợp với sự  
bảo đảm của Hiến pháp, do đó thẩm quyền  
7 Những chủ thể này bao gồm: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; b) Thủ trưởng đơn vị  
độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu  
cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên  
phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng  
Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển,  
Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống  
tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; c) Người chỉ huy tàu bay,  
tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.  
8 Thomas Weigend, Criminal Procedure – Worldwide Study, Craig M. Bradley (Editor), Carolina Academic  
Press, 2007, Pp 249, 250  
9 Hans -Heiner KÜHNE, Criminal procedure systems European Community, Christine VAN DEN WYNGAERT  
(Editor) and C.GANE, H.H.KÜHNE, F.MMCAULEY (Co-editor Butterworths, London, Brussels, Dublin,  
Edinburgh, 1993. Pp151  
10 Thomas Weigend, Criminal Procedure – A Worldwide Study, Craig M. Bradley (editor), Carolina Academic  
Press, 2007, p. 250.  
Số 20(444) - T10/2021  
21  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
khám xét thuộc về Tòa án (Điều 165, Điều  
182). Để có lệnh của Tòa án thì điều tra viên  
với sự đồng thuận của công tố viên gửi đề  
nghị cho Tòa án. Đề nghị này được xem  
xét bởi một thẩm phán cấp huyện tại một  
phiên tòa. Điều tra viên, công tố viên có thể  
tham dự phiên tòa này11. Nếu việc tiến hành  
khám nhà, khám xét, thu giữ tài sản tại nơi  
ở hoặc khám người là không thể trì hoãn  
thì các hoạt động điều tra này có thể được  
tiến hành theo quyết định của Dự thẩm viên  
mà không cần quyết định cho phép của Toà  
án. Trong trường hợp đó, trong thời hạn 24  
giờ kể từ khi bắt đầu tiến hành hoạt động  
điều tra, Dự thẩm viên phải thông báo cho  
Thẩm phán và Kiểm sát viên về việc tiến  
hành hoạt động điều tra.  
điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm  
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đó  
là điểm khác biệt đáng lưu ý nhất về thẩm  
quyền ra lệnh khám xét theo luật tố tụng hình  
sự Việt Nam với luật tố tụng hình sự ở Đức,  
Nga và Nhật Bản.  
3. Một số vấn đề về trình tự, thủ tục khám  
xét chỗ ở  
Thứ nhất, có hay không thủ tục yêu cầu  
đương sự giao nộp những gì cần tìm trước  
khi tiến hành khám xét chỗ ở như một thủ  
tục bắt buộc?  
Bên cạnh những trình tự, thủ tục cần làm  
trước khi khám xét chỗ ở đã được luật quy  
định rõ thì thủ tục yêu cầu đương sự giao  
nộp những gì cần tìm trước khi tiến hành  
khám xét như một thủ tục bắt buộc trong  
khám xét chỗ ở chưa được luật quy định .  
So sánh với khám xét người, theo khoản 1  
Điều 194: Người tiến hành khám xét phải  
yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài  
liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ  
từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài  
liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành  
khám xét. Điều đó có nghĩa việc khám xét  
người chỉ được tiến hành sau khi thực hiện  
thủ tục yêu cầu người bị khám xét đưa ra  
(giao nộp) những gì cần tìm theo lệnh khám  
như một thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, đối  
với thủ tục khám xét chỗ ở (kể cả khám xét  
nơi làm việc, phương tiện), Điều 195 không  
quy định thủ tục yêu cầu người có chỗ ở bị  
khám xét phải giao nộp những gì cần tìm  
trước khi thực hiện lệnh khám như thủ tục  
khám xét người.  
Theo quy định của Bộ luật TTHS Nhật  
Bản12, lệnh khám xét cũng được ban hành  
bởi Tòa án (Điều 106, Điều 107).  
Như vậy, theo luật tố tụng hình sự của  
Đức, Nga và Nhật Bản, nguyên tắc chung là  
chỉ thừa nhận Tòa án là chủ thể có quyền độc  
lập ra lệnh tiến hành các hoạt động tố tụng  
có ảnh hưởng đến tự do của con người, trong  
đó có áp dụng biện pháp khám xét. Quyền  
ra lệnh khám xét của Cơ quan công tố và cơ  
quan điều tra không thông qua Tòa án được  
cho là ngoại lệ và trong trường hợp khẩn cấp,  
biết rằng thực tiễn ra lệnh khám xét bởi công  
tố viên và cảnh sát phổ biến hơn so với lệnh  
khám xét của Tòa án (như ở Đức). Trong khi  
luật tố tụng hình sự Việt Nam, ngoài Tòa án  
còn có Viện kiểm sát cũng có quyền độc lập  
ra lệnh khám xét. Ngoài ra, còn có thủ tục  
Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh khám xét của  
những người có thẩm quyền thuộc cơ quan  
11  
Vì điều luật không quy định thủ tục yêu  
cầu đương sự giao nộp những gì cần tìm  
trong khám xét chỗ ở trước khi tiến hành  
Catherine Newcombe, Criminal Procedure – A Worldwide Study, Craig M. Bradley (editor), Carolina  
Academic Press, 2007, Pp. 425-426.  
12 BộluậtTTHSNhậtBản(bảntiếngAnh),http://www.oecd.org/site/adboecdanti-corruptioninitiative/46814489.  
pdf, truy cập ngày 26/4/2020.  
22  
Số 20(444) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
khám xét nên cũng không quy định việc  
dừng (không tiếp tục) thi hành lệnh khám  
xét chỗ ở nếu đương sự đã giao nộp đủ  
những gì cần tìm và không còn căn cứ để  
khám xét. Như vậy, trong trường hợp công  
cụ, phương tiện phạm tội và các tài liệu, đồ  
vật khác liên quan đến vụ án đã được giao  
nộp đủ hoặc người đang bị truy nã, truy tìm  
đã trình diện, nạn nhân được giải cứu thì  
người thi hành lệnh khám xét có quyền dừng  
việc thi hành lệnh khám xét không hay vẫn  
tiếp tục khám xét mặc dù không còn căn cứ  
khám xét? Nếu dừng thi hành lệnh khám xét  
thì dựa vào quy định nào? Thông thường,  
sau khi người bị buộc tội hoặc đương sự đã  
giao nộp công cụ, phương tiện phạm tội, tài  
liệu, đồ vật... nhưng người khám xét vẫn  
nghi ngờ rằng việc giao nộp chưa đủ nên  
tiếp tục thực hiện lệnh khám xét. Riêng đối  
với người bị truy nã, bị truy tìm hoặc nạn  
nhân thì rất dễ nhận biết những gì cần tìm  
đã được giao nộp đủ chưa và có thể quyết  
định tiếp tục khám xét hay dừng thi hành  
lệnh khám.  
giao nộp những đồ vật, tài liệu và những vật  
có giá trị có thể có ý nghĩa đối với vụ án cần  
thu giữ. Nếu chúng được giao nộp một cách  
tự nguyện và không có căn cứ để cho rằng  
chúng còn bị cất giấu thì Dự thꢀm viên có  
quyền không tiến hành khám xét.  
Thứ hai, người chứng kiến khám xét  
chỗ ở:  
Điều kiện chung của người chứng kiến  
trong tố tụng hình sự được quy định tại  
khoản 2 Điều 67 Bộ luật TTHS, trong đó có  
quy định trường hợp không được làm người  
chứng kiến: a) Người thân thích của người  
bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng; b) Người do nhược điểm về tâm  
thần hoặc thể chất mà không có khả năng  
nhận thức đúng sự việc; c) Người dưới 18  
tuổi; d) Có lý do khác cho thấy người đó  
không khách quan.  
Khi tiến hành khám xét đều bắt buộc  
phải có người chứng kiến, tùy vào trường  
hợp khám xét mà pháp luật tố tụng hình sự  
quy định số lượng và đặc điểm người chứng  
kiến. Đối với biện pháp khám xét người còn  
có yêu cầu riêng về giới tính của người  
chứng kiến, còn người chứng kiến khám  
xét chỗ ở phải là người có tư cách đại diện  
chính quyền xã, phường, thị trấn.  
Việc quy định thủ tục yêu cầu đương sự  
giao nộp đầy đủ những gì cần tìm trước khi  
khám xét chỗ ở không chỉ có ý nghĩa nâng  
cao hiệu quả khám xét là tiết kiệm được thời  
gian, công sức khám xét, đánh giá thái độ  
hợp tác của đương sự mà quan trọng hơn là  
hạn chế đến mức cao nhất trường hợp phải  
khám xét, bảo đảm quyền con người trong  
tố tụng hình sự.  
Đối với trường hợp khám xét chỗ ở,  
khoản 1 Điều 195 Bộ luật TTHS quy định:  
“Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người  
đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ  
ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị  
trấn và người chứng kiến”. Riêng người đại  
diện chính quyền cấp xã, phường, thị trấn,  
điều luật không quy định rõ và cũng chưa  
được giải thích thống nhất chức danh, chức  
vụ của người đại diện. Thực tiễn khám xét  
thường cử người chứng kiến đại diện chính  
quyền là Trưởng, Phó Công an xã, phường,  
thị trấn (thường là cấp phó được phân công  
làm người chứng kiến), thậm chí là công an  
Vấn đề dừng thi hành lệnh khám xét khi  
đã được giao nộp đủ những gì cần tìm trước  
khi khám xét cũng cần quy định minh bạch  
để người thi hành lệnh khám xét áp dụng và  
chịu trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động  
khám xét. Tham khảo quy định của Bộ luật  
TTHS Nga (khoản 5 Điều 182): Trước khi  
khám xét, Dự thẩm viên yêu cầu tự nguyện  
Số 20(444) - T10/2021  
23  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
viên, cảnh sát khu vực13. Biên bản khám xét  
sau đó có xác nhận bằng chữ ký và đóng  
dấu của Trưởng công an xã, phường, thị  
trấn chứ không phải chữ ký của người trực  
tiếp chứng kiến. Thực tiễn này thuận lợi cho  
việc hợp tác tổ chức khám xét; tuy nhiên,  
nếu người chứng kiến là Trưởng, Phó Công  
an cấp xã hoặc công an viên có thể gây nghi  
ngờ về sự khách quan trong chứng kiến  
khám xét, do là người của “ngành công  
an” (có thể vi phạm điểm c khoản 2 Điều  
67). Hơn nữa, hiện nay, Công an phường,  
thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp  
nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên  
bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh  
sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về  
tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên  
quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền  
(Khoản 3 Điều 146 Bộ luật TTHS). Trong  
chiến lược chính quy hóa lực lượng công an  
xã14 có xu hướng mở rộng thẩm quyền của  
Công an xã như với thẩm quyền của Công  
an phường, thị trấn, Đồn Công an, trong đó  
có quyền kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác,  
tin báo tội phạm. Hay nói cách khác, Công  
an cấp xã không chỉ có thẩm quyền tiếp  
nhận nguồn tin về tội phạm mà còn có thẩm  
quyền xử lý tố giác, tin báo tội phạm (dù chỉ  
ở mức kiểm tra, xác minh sơ bộ). Vì vậy,  
việc một cá nhân thuộc Công an cấp xã đại  
diện chính quyền địa phương chứng kiến  
việc khám xét chỗ ở sẽ khó bảo đảm tính  
khách quan, đặc biệt đối với những vụ án  
mà trước đó Công an cấp xã ở địa phương  
đã tiếp nhận, xử lý sơ bộ tố giác, tin báo tội  
phạm, sau đó chuyển cho cơ quan điều tra  
có thẩm quyền và có lệnh khám xét chỗ ở.  
Ngoài ra, Trưởng, Phó công an xã, phường,  
thị trấn hoặc công an viên cũng khó có đầy  
đủ tư cách đại diện cho chính quyền cấp  
cơ sở trong việc ký xác nhận và đóng dấu  
vào biên bản khám xét với tư cách là người  
chứng kiến đại diện chính quyền. Vấn đề  
này, thiết nghĩ nên có quy định phù hợp  
hoặc hướng dẫn áp dụng thống nhất. Theo  
tác giả, người có chức vụ như Chủ tịch, Phó  
chủ tịch UBND hoặc Chủ tịch, Phó Chủ  
tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn  
được phân công phối hợp các hoạt động tư  
pháp mới có thể đại diện chính quyền chứng  
kiến việc khám xét chỗ ở.  
Thứ ba, về thời gian khám xét chỗ ở:  
Khám xét người không bị ràng buộc thời  
gian tiến hành là ban ngày hay ban đêm.  
Tuy nhiên, đối với khám xét chỗ ở thì khoản  
1 Điều 195 Bộ luật TTHS quy định “Không  
được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban  
đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải  
ghi rõ lý do vào biên bản”. Quy định không  
được khám xét chỗ ở vào ban đêm là nhằm  
bảo đảm quyền riêng tư, quyền được nghỉ  
ngơi của người có chỗ ở bị khám xét. Tuy  
nhiên, trường hợp khꢀn cấp là gì khi khám  
xét chỗ ở cũng cần được giải thích cho cụ  
thể hơn như để bắt người phạm tội quả tang,  
truy tìm người, giải cứu nạn nhân hoặc tìm  
những chứng cứ để thực hiện các hoạt động  
tố tụng khác mà nếu không thu thập kịp  
thời có khả năng sẽ bị tiêu hủy. Tham khảo  
luật tố tụng hình sự của Đức, thì luật của  
Đức cũng chỉ cho phép khám xét chỗ ở, nơi  
13 Ví dụ Biên bản khám xét chỗ ở đối với ông Nguyễn Văn H, ngày 7/8/2019 của CQĐT Công an thị xã Vĩnh  
Châu tỉnh Sóc Trăng trong vụ án mua bán trái phép các chất ma túy. Người chứng kiến đại diện chính quyền  
là Phó trưởng Công an Phường 2 thị xã Vĩnh Châu;  
Biên bản khám xét chỗ ở đối với Ngô Minh T, ngày 9/2/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an  
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy. Người chứng kiến đại diện chính  
quyền là Phó Trưởng Công an xã Lộ 25;  
Biên bản khám xét chỗ ở đối với Lê Thị Tuyết H, ngày 17/12/2018 của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình  
Chánh, TP. Hồ Chí Minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Người chứng kiến đại diện chính  
quyền là Công an viên Lê Minh H của Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh;  
Biên bản khám xét chỗ ở đối với Trần Thị Kim G ngày 22/3/2018 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh An Giang.  
Người chứng kiến đại diện chính quyền là cảnh sát khu vực.  
14 Theo Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị và Đề án số 106 của Đảng ủy Công an  
Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  
24  
Số 20(444) - T10/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
làm việc vào ban đêm để tìm kiếm người  
phạm tội quả tang, trong trường hợp khẩn  
cấp, hoặc đề nhằm truy bắt tù nhân bỏ trốn  
(Điều 104).  
trú theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006 và  
khuyến nghị của Liên hợp quốc17. Chỗ ở  
cũng khác với địa điểm, phương tiện cần  
khám xét.  
Luật tố tụng hình sự của Đức không xác  
định giới hạn chính xác chỗ ở. Bởi lẽ, không  
có tranh chấp nhiều và những yêu cầu pháp  
lý về khám xét cũng dễ nhận biết18. Điều  
104 Bộ luật TTHS của Đức chỉ phân biệt  
chỗ ở với nơi (không bị hạn chế thời gian  
khám xét) mà ai cũng có thể vào ra lúc ban  
đêm, hoặc địa điểm mà cảnh sát đã biết là  
nơi trú ngụ hoặc tụ tập của những kẻ phạm  
tội, là nơi chứa chấp tài sản do phạm tội mà  
có, hoặc nơi tổ chức đánh bạc, buôn bán ma  
tuý hay mại dâm.  
Bộ luật TTHS Nhật Bản (Điều 117) quy  
định: không cần tuân thủ hạn chế về thời  
gian khám xét liên quan đến việc thi hành  
lệnh thu giữ hoặc khám xét tại những địa  
điểm sau: (1) Những nơi được cho là thường  
xuyên được sử dụng để đánh bạc, xổ số tư  
nhân, hoặc các hành vi có thể gây tổn hại  
đến đạo đức; (2) Khách sạn, nhà hàng, hoặc  
bất kỳ nơi nào khác mà công chúng có thể  
vào ra ban đêm, với điều kiện là chỉ thực  
hiện khám xét, thu giữ trong những giờ mở  
cửa đối với công chúng.  
Theo khoản 1 Điều 195 Bộ luật TTHS  
năm 2015, khám xét chỗ ở không thuộc  
trường hợp khẩn cấp chỉ ràng buộc thời  
điểm bắt đầu khám xét (không được bắt đầu  
vào ban đêm) mà không ràng buộc thời điểm  
kết thúc. Như vậy, vẫn được coi là hợp pháp  
nếu bắt đầu thời điểm khám xét trước 22  
giờ và tiến hành khám cho đến khi kết thúc,  
có thể kéo dài việc khám xét vào ban đêm  
(sau 22 giờ). Luật tố tụng hình sự Nhật Bản  
quy định “trường hợp việc thi hành lệnh thu  
giữ hoặc khám xét đã bắt đầu trước lúc mặt  
trời lặn, thì biện pháp này có thể tiếp tục  
sau khi mặt trời lặn” (Điều 116)15. Rõ ràng,  
việc tiến hành khám xét chỗ ở vào ban đêm  
có đụng chạm đến thời gian nghỉ ngơi và  
quyền riêng tư nên thực tiễn khám xét cũng  
cần hạn chế việc bắt đầu khám xét sau khi  
mặt trời lặn, khoảng 18 giờ (mặc dù luật tố  
tụng hình sự không cấm)16 và kéo dài sau 22  
giờ, nếu không thuộc trường hợp khẩn cấp.  
Một vấn đề có liên quan đến thời gian  
khám xét là khái niệm “chỗ ở”. Như đã đề  
cập ở trên, chỗ ở có liên quan đến thời gian  
nghỉ ngơi và quyền riêng tư. Vì vậy, luật  
tố tụng hình sự có ràng buộc về thời gian  
bắt đầu thực hiện lệnh khám. Bộ luật TTHS  
Việt Nam không giải thích về chỗ ở và chắc  
chắn không đồng nhất với khái niệm nơi cư  
Như vậy, tác giả cho rằng, chỗ ở có thể là  
nhà, công trình hoặc bất cứ chỗ nào có thể  
ở, nghỉ ngơi hợp pháp và riêng tư. Chỗ ở  
có thể thuộc sở hữu của người ở hoặc được  
thuê, được cho ở nhờ. Những công trình  
15 Khác với Điều 116 Bộ luật TTHS Nhật Bản, theo Điều 134 Bộ luật TTHS Việt Nam, đêm được tính từ 22  
giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.  
16 Thực tiễn có khám xét chỗ ở sau 18 giờ, như khám xét chỗ ở của ông Nguyễn Hữu T. ngày 18/9/2018 trong  
vụ án vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí theo Điều 219 Bộ luật  
kham-xet-nha-ong-nguyen-huu-tin-va-nhieu-can-bo-3811514.html, truy cập 25/2/2021); Khám xét chỗ ở của  
ông Nguyễn Đức C. ngày 28/8/2020 trong vụ án chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước, quy định tại điều 337 Bộ  
ha-noi-nguyen-duc-chung-20200828200439735.htm, truy cập 25/2/2021.  
17 Về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở theo Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của  
Liên hợp quốc năm 1966, Ủy ban công ước Liên hợp quốc khuyến nghị các quốc gia báo cáo tương đương  
thuật ngữ “gia đình” và “nhà” (xem Bình luận chung số 16 Công ước). Đó là cách hiểu theo nghĩa rộng so với  
chỗ ở được khám xét theo luật tố tụng hình sự.  
18 Thomas Weigend, Criminal Procedure – A Worldwide Study, Craig M. Bradley (editor), Carolina Academic  
Press, 2007, p. 249  
Số 20(444) - T10/2021  
25  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
khác, cũng có thể là tòa nhà mặc dù là của cá  
nhân nhưng để kinh doanh, tụ tập, giải trí mà  
không phải để ở, nghỉ ngơi mang tính riêng  
tư thì không được coi là chỗ ở và không bị  
ràng buộc về thời gian bắt đầu khám xét.  
án (người có thẩm quyền của Viện kiểm sát,  
Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm  
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) chỉ  
có thể ra lệnh và tiến hành khám xét trong  
trường hợp khẩn cấp. Đó là những trường  
hợp ngoại lệ, cần được ghi rõ trong lệnh hoặc  
biên bản khám xét lý do tại sao không thể  
thực hiện được thủ tục đề nghị ban hành lệnh  
khám xét của Tòa19.  
Thứ ba, cần quy định thủ tục yêu cầu  
giao nộp những gì cần tìm trước khi tiến  
hành khám xét (chỗ ở, kể cả khám xét nơi  
làm việc, địa điểm, phương tiện) và quyền  
dừng thi hành lệnh khám xét của người thi  
hành lệnh khám xét (khám xét người, khám  
xét chỗ ở...) nếu những gì cần tìm theo lệnh  
khám xét đã được giao nộp đủ.  
Thứ tư, cần quy định rõ hoặc hướng dẫn  
cụ thể hơn người chứng kiến khám xét chỗ ở,  
đại diện chính quyền địa phương gồm những  
người có chức vụ gì. Theo tác giả, nên quy  
định người chứng kiến là Chủ tịch, Phó Chủ  
tịch UBND xã, phường, thị trấn hoặc Chủ  
tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã,  
phường, thị trấn để bảo đảm tính khách quan  
và tính đại diện đầy đủ của chính quyền địa  
phương khi tiến hành khám xét chỗ ở.  
Thứ năm, cần quy định cụ thể hơn: nếu  
khám xét chỗ ở được bắt đầu ban ngày mà  
việc khám xét kéo dài sang ban đêm thì  
vẫn tiếp tục khám xét cho đến khi khám xét  
xong. Tuy nhiên, thực tiễn cần hạn chế tối đa  
tình trạng này (đặc biệt là bắt đầu khám xét  
chỗ ở sau 18 giờ) để bảo đảm quyền riêng tư  
và nghỉ ngơi của các thành viên khác trong  
gia đình. Mặt khác, cũng cần xác định chỗ  
ở theo tiêu chí bảo đảm quyền riêng tư và  
nghỉ ngơi để phân biệt với những nơi mặc  
dù thuộc quyền quản lý, sở hữu của cá nhân  
nhưng sử dụng để kinh doanh, giải trí hoặc  
tụ tập đông người ra vào ngày đêm (khác  
với địa điểm) vẫn có quyền khám xét vào  
4. Kết luận  
Biện pháp khám xét nói chung và khám  
xét chỗ ở nói riêng là biện pháp điều tra  
trong tố tụng hình sự, được áp dụng tương  
đối phổ biến. Do khi thực hiện biện pháp  
này khó tránh khỏi xung đột với quyền bất  
khả xâm phạm về thân thể và chỗ ở của con  
người được Hiến pháp bảo vệ nên pháp luật  
cần quy định chặt chẽ và thực tiễn áp dụng  
cần thận trọng. Qua nghiên cứu pháp luật và  
thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời  
có so sánh với luật tố tụng hình sự của Đức,  
Nga và Nhật bản, tác giả kiến nghị một số  
vấn đề:  
Thứ nhất, cần bổ sung đối tượng cần phát  
hiện làm phát sinh căn cứ khám xét chỗ ở, đó  
là tử thi và bộ phận cơ thể người (kể cả khám  
xét nơi làm việc, địa điểm, phương tiện). Kết  
quả bổ sung sẽ bảo đảm đầy đủ hơn về căn  
cứ khám xét chỗ ở.  
Thứ hai, về thẩm quyền ra lệnh khám  
xét: Với định hướng cải cách tư pháp lâu dài  
nhằm hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền  
con người, nâng cao vị thế của ngành tư pháp  
đồng thời phù hợp với quy định của pháp  
luật nhiều nước, nguyên tắc chung chỉ có  
Tòa án (tư pháp) mới có quyền ra lệnh khám  
xét nói riêng và quyền ra lệnh áp dụng các  
biện pháp có hạn chế tự do của con người,  
trừ trường hợp khẩn cấp. Có như vậy mới  
bảo đảm quyền con người và phù hợp với  
xu hướng chung của pháp luật các nước trên  
thế giới. Tất nhiên, kiến nghị này sẽ động  
chạm đến nhiều chế định khác như biện pháp  
cưỡng chế; cơ cấu tổ chức và hoạt động của  
Tòa án để giải quyết thường trực yêu cầu ra  
lệnh khám xét của Viện kiểm sát và cơ quan  
điều tra. Các chủ thể khác không phải Tòa  
ban đêm  
19 Thực tiễn khám xét chỗ ở khẩn cấp hiện nay thường ghi lý do chung chung “không thể trì hoãn được” trong  
lệnh khám xét chứ không ghi trong biên bản khám xét (ví dụ lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Ngọc  
T ngày 16/4/2020 của Cơ quan ANĐT Công an tỉnh An Giang.  
26  
Số 20(444) - T10/2021  
pdf 9 trang Thùy Anh 11740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khám xét chỗ ở theo luật tố tụng hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkham_xet_cho_o_theo_luat_to_tung_hinh_su_viet_nam.pdf