Nội dung của di chúc theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
NỘI DUNG CỦA DI CHÚC THEO  
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
Hoàng Thị Loan*  
*TS. Đại học Luật Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trình bày, phân tích các quy định  
của Bộ luật Dân sự năm 2015 về nội dung của di chúc, đặc biệt đã chỉ ra một  
số hạn chế và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Di chúc, nội dung của  
di chúc, điều khoản của di chúc,  
Bộ luật Dân sự năm 2015.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 17/3/2021  
: 06/4/2021  
: 08/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author focuses on a analysis of the  
provisions of the Civil Code of 2015 on the content of wills, especially  
pointing out some limitations and making recommendations for further  
improvements.  
Keywords: Wills, contents of  
written wills, term of wills.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 17 Mar. 2021  
: 06 Apr. 2021  
: 08 Apr. 2021  
Approved  
1. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm  
2015 về nội dung của di chúc  
Điểm b khoản 1 Điều 630 BLDS năm  
2015 quy định: “Nội dung của di chúc không  
vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo  
đức xã hội”. Theo quy định này, khi người  
để lại di sản thực hiện quyền lập di chúc của  
mình chỉ cần đảm bảo không vi phạm những  
quy định của luật không cho phép người lập  
di chúc thực hiện. Hiện nay, hầu hết các văn  
bản quy phạm pháp luật đều liệt kê hành vi  
bị cấm tương ứng với phạm vi điều chỉnh  
của văn bản. Ví dụ, Luật Thương mại năm  
2005 (Điều 70, 71), Luật Doanh nghiệp năm  
2014 (Điều 17, 39), Luật Đất đai năm 2013  
(Điều 12)… Trong khi đó, BLDS năm 2015  
chỉ liệt kê một số hành vi bị cấm như: “Cấm  
lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục  
đích trục lợi hoꢀc gây chia rẽ, phương hại  
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 dành  
một chương riêng - Chương XXII quy định  
về thừa kế theo di chúc. Nội dung này bao  
gồm các vấn đề sau:  
Thứ nhất, điều kiện để nội dung của di  
chúc được coi là hợp pháp.  
Mặc dù nội dung của di chúc hoàn toàn  
do người để lại di sản tự định đoạt nhưng để  
được pháp luật bảo vệ, theo quy định của  
BLDS năm 2015, nội dung của di chúc phải  
đáp ứng các yêu cầu sau:  
- Có nội dung không vi phạm điều cấm  
của luật.  
Số 10(434) - T5/2021  
29  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam”1  
hay “nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình  
thức cho vay nꢀng lãi”2. Đối với hoạt động  
xác lập giao dịch nói chung và di chúc nói  
riêng, BLDS năm 2015 không quy định cụ  
thể trường hợp nào cấm, không cho phép  
thực hiện. Do vậy, điều kiện nội dung của di  
chúc không vi phạm điều cấm của luật3 cần  
hiểu theo hướng các điều khoản tổng hợp ý  
chí của người lập di chúc không rơi vào các  
trường hợp cấm được liệt kê trong các văn  
bản luật cụ thể. Việc quy định nội dung của  
di chúc không vi phạm điều cấm của luật là  
điểm mới của BLDS năm 2015. Đây cũng  
là một quy định thể hiện đúng tinh thần của  
Hiến pháp khi quy định tại khoản 2 Điều 14:  
“Quyền con người, quyền công dân chỉ có  
thể bị hạn chế theo quy định của luật trong  
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng,  
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,  
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.  
người thân thích với nhau. Cho nên, việc lập  
di chúc của cá nhân cũng được điều tiết theo  
hướng không thể để nội dung của di chúc trái  
với đạo đức xã hội. Về quy định này, có quan  
điểm cho rằng: “Việc lập di chúc có nội dung  
không trái pháp luật của một người mới chỉ  
là việc họ thực hiện bổn phận của công dân.  
Ngoài bổn phận công dân, họ còn phải thực  
hiện bổn phận làm người. Đạo làm người  
đòi hỏi các cá nhân khi lập di chúc phải luôn  
luôn hướng tới phong tục, tập quán, truyền  
thống nhân bản và tinh thần tương thân  
tương ái của cộng đồng gia đình cũng như  
cộng đồng dân tộc”4. Vì vậy, các giao dịch  
nói chung và việc lập di chúc nói riêng ngoài  
tuân thủ quy định của pháp luật, nội dung  
của di chúc còn không được trái đạo đức xã  
hội. Tức nội dung của di chúc thể hiện được  
quyền định đoạt thuộc về sự tự do của cá  
nhân nhưng phải đảm bảo những chuẩn mực  
ứng xử chung trong đời sống xã hội, được  
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.  
- Có nội dung không trái đạo đức xã hội.  
Theo quy định của Điều 123 BLDS năm  
2015, “đạo đức xã hội là những chuẩn mực  
ứng xử chung trong đời sống xã hội, được  
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Đề cập  
tới yếu tố đạo đức xã hội, chúng ta có thiên  
hướng về việc giải thích sự vật, hiện tượng  
phản ánh nét văn hóa, truyền thống, chuẩn  
mực về giá trị ứng xử trong đời sống của  
cộng đồng, quốc gia. Mỗi một quốc gia sẽ  
mang những nét đặc thù riêng về các chuẩn  
mực đạo đức này. Việt Nam là quốc gia mang  
nét đặc trưng vùng lúa nước, sản xuất nông  
nghiệp nên cuộc sống giữa những người  
dân cũng phản ánh sự yêu thương, trân quý,  
trọng tình, trọng nghĩa của các mối quan hệ  
con người, đặc biệt là quan hệ giữa những  
Xét về bản chất, đạo đức xã hội là yếu tố  
khó định lượng, nó không tồn tại giống quy  
định của pháp luật. Trong khoa học pháp  
lý chưa cho thấy sự độc lập trong việc xác  
định nội dung của di chúc trái đạo đức xã  
hội mà không vi phạm quy định của pháp  
luật. Điều này được giải thích rằng, quy  
định pháp luật của một quốc gia luôn phản  
ánh rõ nét kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền  
thống... của quốc gia đó. Vì vậy, các quy  
định của pháp luật Việt Nam hầu hết phản  
ánh được sự phù hợp về đạo đức xã hội  
của người Việt Nam. Do đó, khi một bản  
di chúc bị tuyên có nội dung vi phạm điều  
cấm của pháp luật thường nó cũng sẽ trái  
đạo đức xã hội.  
1 Điều 29 BLDS năm 2015  
2 Điều 471 BLDS năm 2015  
3 Khoản 1 Điều 630 BLDS năm 2015  
4 Phạm Văn Tuyết (2003), Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ luật học,  
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.94.  
30  
Số 10(434) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Việc lập di chúc là một trong các hành  
vi thực hiện quyền tự định đoạt của cá nhân  
liên quan đến tài sản. Bên cạnh quy định nội  
dung của giao dịch không vi phạm điều cấm  
của luật, không trái đạo đức xã hội, BLDS  
năm 2015 và các văn bản quy phạm có  
liên quan đã quy định nội dung quyền định  
đoạt tài sản của cá nhân. Đồng thời khoanh  
vùng, hành vi bị cấm liên quan tới quyền tự  
định đoạt của cá nhân có thể làm mất hiệu  
lực của di chúc. Điều này tạo ra hành lang  
pháp lý rõ ràng trong việc tôn trọng, bảo  
đảm quyền tự định đoạt của cá nhân và loại  
bỏ khả năng xâm phạm, lạm dụng tài sản  
của chủ thể khác để thực hiện tư lợi cá nhân  
hoặc mang lợi bất chất cho chủ thể nhất  
định thông qua bản di chúc.  
Hai là, họ, tên của người lập di chúc.  
Đây là điều khoản cá biệt hóa cá nhân  
và hành vi của người lập di chúc. Một bản  
di chúc luôn mang “sứ mệnh” là căn cứ để  
phân chia di sản. Nhưng quá trình phân chia  
phải gắn liền với việc xác định người để lại  
di sản là ai, họ đã chết hay chưa. Việc ghi  
nhận điều khoản này không chỉ mang lại lợi  
ích cho người lập di chúc mà còn bảo đảm  
quyền, lợi ích của những người thừa kế,  
người liên quan đến người xác lập di chúc.  
Do đó, họ và tên của người lập di chúc vẫn  
nên ghi nhận là điều khoản cần phải có  
trong di chúc.  
Ba là, nơi cư trú của người lập di chúc.  
Nơi cư trú của cá nhân là chỗ ở hợp pháp  
mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi  
cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc  
nơi tạm trú6. Theo quy định của pháp luật,  
việc xác định nơi cư trú của công dân có ý  
nghĩa: là nơi cá nhân thực hiện các quyền  
và nghĩa vụ đối với nhà nước với tư cách  
là công dân; là nơi mà cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền đăng ký và lưu trữ các giấy tờ  
về hộ tịch có liên quan đến cá nhân (đăng  
ký khai sinh, khai tử …); là nơi cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền tống đạt các giấy tờ có  
liên quan đến cá nhân; là địa điểm thực hiện  
nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ khi các  
bên không có thỏa thuận về địa điểm này và  
đối tượng của nghĩa vụ là động sản; là căn  
cứ để tòa án tuyên bố một cá nhân mất tích  
hay đã chết; là địa điểm mở thừa kế khi cá  
nhân chết; là nơi tòa án có thẩm quyền giải  
quyết tranh chấp nếu đó là nơi cư trú của bị  
đơn dân sự… Tuy nhiên, đối với việc lập  
di chúc dù ở dạng thức nào, việc ghi nơi cư  
trú của người lập di chúc trong bản di chúc  
cũng không thực sự có ý nghĩa. Vì thực tế,  
khi một cá nhân chết, cơ quan hành chính  
cấp cơ sở và quản lý hộ tịch phải hoàn tất  
Thứ hai, nội dung cụ thể của di chúc.  
Khoản 1 Điều 631 BLDS năm 2015 xác  
định, di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:  
Một là, ngày, tháng, năm lập di chúc.  
Điều khoản này giúp chúng ta xác định  
mốc thời gian thực hiện hành vi lập di chúc.  
Quy định này có ý nghĩa đối với việc xác  
định văn bản quy phạm pháp luật đang điều  
chỉnh5. Ngoài ra, yêu cầu nội dung của di  
chúc phải có ngày, tháng, năm lập di chúc  
còn ý nghĩa trong việc giải quyết tranh chấp  
đối với trường hợp một người lập nhiều  
bản di chúc đối với một tài sản. Khoản 5  
Điều 643 BLDS năm 2015 quy định: “Khi  
một người để lại nhiều bản di chúc đối với  
một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có  
hiệu lực”. Như vậy, di chúc không được  
ghi ngày, tháng, năm lập sẽ không thể giải  
quyết tranh chấp trong trường hợp này. Hơn  
nữa, việc không ghi ngày, tháng, năm lập di  
chúc sẽ không thể xác định di chúc được lập  
trước hay sau khi người để lại di sản chết.  
Điều này có thể dẫn tới thực trạng, di chúc  
bị giả mạo.  
5 Xem khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.  
6 Điều 12 Luật Cư trú năm 2006.  
Số 10(434) - T5/2021  
31  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
các thủ tục theo quy định mai táng, cấp giấy  
chứng tử. Đây là căn cứ để xác định nơi  
cư trú của cá nhân đã chết. Riêng về bản  
di chúc, chính những người thừa kế được  
hưởng trong di chúc hoặc những người có  
liên quan khi hoàn tất các thủ tục hưởng  
thừa kế, giải quyết tranh chấp (nếu có) sẽ  
kê khai, xác nhận nơi cư trú của người để lại  
di sản. Vì vậy, điều khoản nơi cư trú của cá  
nhân lập di chúc có thể có hoặc không trong  
bản di chúc.  
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự  
năm 2015 quy định “Đối tượng tranh chấp  
là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất  
động sản có thẩm quyền giải quyết”); (iii)  
xác định thẩm quyền cơ quan liên quan thực  
hiện vấn đề quản lý di sản trong trường hợp  
không có người thừa kế (khoản 3 Điều 616  
BLDS năm 2015); (iv) xác định hiệu lực  
của di chúc trong trường hợp di sản không  
còn. Theo đó, người thừa kế, các cơ quan  
liên quan được đảm bảo sự thuận tiện trong  
quá trình thực hiện quyền năng của mình  
đối với di sản.  
Bốn là, họ, tên người, cơ quan, tổ chức  
được hưởng di sản.  
Sáu là, phân định di sản thừa kế trong  
di chúc.  
Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được  
hưởng di sản là một trong các yếu tố cá biệt  
hóa chủ thể. Đối với di chúc, một trong các  
nội dung được quan tâm lớn nhất là chủ thể  
được hưởng di sản thừa kế. Nếu không có  
điều khoản này, quan hệ thừa kế theo di  
chúc sẽ không xuất hiện, việc dịch chuyển  
di sản sẽ không thể diễn ra hoặc diễn ra  
nhưng không theo mong muốn thực sự của  
người có di sản để lại. Kể cả trường hợp đặc  
biệt, thai nhi - chưa phải là chủ thể của quan  
hệ pháp luật xuất hiện, việc cá biệt hóa thai  
nhi thông qua họ, tên của người mang thai,  
hoặc người nào đó vẫn phải tồn tại mới có  
thể thực hiện việc phân chia di sản trên thực  
tế. Do đó, đây là điều khoản chủ yếu trong  
di chúc và phải là điều khoản bắt buộc.  
Năm là, di sản để lại và nơi có di sản.  
Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới  
hiệu lực của di chúc chính là di sản thừa kế.  
Một bản di chúc được lập hợp pháp nhưng  
di sản không còn tồn tại vào thời điểm mở  
thừa kế, việc phân chia sẽ không thể diễn  
ra. Điều này dẫn tới nhiều trường hợp chỉ  
có người lập di chúc mới biết rõ được mình  
có bao nhiêu loại tài sản, tài sản đó đang ở  
đâu. Điều khoản này có ý nghĩa sau: (i) tạo  
điều kiện thuận lợi cho việc kê khai di sản  
và xác nhận di sản; (ii) xác định Tòa án nơi  
có thẩm quyền thụ lý giải quyết các tranh  
chấp liên quan tới di sản thừa kế (điểm c  
Đây là điều khoản không được liệt kê  
trong khoản 1 Điều 631 BLDS năm 2015  
nhưng đây là điều khoản rất quan trọng.  
Nó tạo ra rõ ràng và khác biệt với trình tự  
phân chia di sản thừa kế theo pháp luật. Về  
nguyên tắc, hưởng theo pháp luật là hưởng  
bằng nhau. Hưởng theo di chúc là khác  
nhau vì tùy thuộc vào ý chí của người để lại  
di sản. Chính vì vậy, dù là định đoạt bằng  
nhau hay định đoạt khác nhau thì di chúc  
cần phải có điều khoản phân định phần giá  
trị di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng  
để định hướng phân chia cụ thể.  
Thứ ba, điều khoản mở rộng.  
Khoản 2 Điều 631 BLDS năm 2015 quy  
định: “Ngoài các nội dung quy định tại  
khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội  
dung khác”. Đây là điều khoản thể hiện rõ  
việc tự do lựa chọn các nội dung khác quy  
định bắt buộc từ pháp luật của người lập di  
chúc. Điều khoản này là một trong các nội  
dung mới của BLDS năm 2015 so với các  
văn bản quy phạm trước đây. Chúng tôi cho  
rằng, các văn bản quy phạm pháp luật trước  
đây không có điều luật nào ghi nhận nội  
dung của di chúc có điều kiện, nhưng xét về  
nguyên tắc thực hiện pháp luật, các chủ thể  
được phép làm những gì pháp luật không  
cấm. Do đó, quy định loại trừ các yêu cầu  
32  
Số 10(434) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
bắt buộc đối với nội dung của di chúc, di  
chúc có thể có các nội dung khác là một quy  
định không cần thiết.  
quyền, lợi ích của người thừa kế, người có  
liên quan, Nhà nước đặt ra quy phạm mang  
tính mệnh lệnh khi yêu cầu về tính trang  
trọng, tính chính thống đối với thể thức  
của bản di chúc. Điều này cũng tránh được  
nhiều tranh cãi, mâu thuẫn trong quá trình  
giải thích nội dung của di chúc. Tuy nhiên,  
quy định của khoản 3 Điều 631 BLDS năm  
2015 là chưa thực sự hợp lý và trong nhiều  
trường hợp pháp luật không đảm bảo được  
nguyên tắc tôn trọng quyền lập di chúc của  
cá nhân. Trên thực tế, di chúc có nội dung  
được viết tắt, viết bằng ký hiệu mà người  
khác vẫn hiểu được hoặc vẫn đưa tới một  
cách hiểu thống nhất thì cần được coi là  
hợp pháp. Ví dụ: Nội dung của di chúc định  
đoạt tài sản là tiền ngoại tệ được sử dụng ký  
hiệu hoặc từ viết tắt là USD (đô la Mỹ), ¥  
(nhân dân tệ Trung Quốc), JPY(yên Nhật),  
£ (bảng Anh), € (Euro)... hoặc nội dung của  
di chúc có nhắc tới các chủ thể như BIDV  
(Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam),  
Agribank (Ngân hàng Nông nghiệp và phát  
triển nông thôn)... Hoặc các cơ quan nhà  
nước như UBND (Ủy ban nhân dân)…  
Tham khảo BLDS các nước như Nhật,  
Pháp, Thái Lan… cho thấy, pháp luật dân  
sự của các nước này không quy định cụ thể  
về vấn đề này.  
Thứ tư, điều khoản sử dụng từ viết tắt, viết  
ký hiệu, đánh dấu số trang trong di chúc.  
Khoản 3 Điều 631 BLDS năm 2015 quy  
định: “Di chúc không được viết tắt hoꢀc  
viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều  
trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự  
và có chữ ký hoꢀc điểm chỉ của người lập di  
chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa  
chữa thì người tự viết di chúc hoꢀc người  
làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh  
chỗ tẩy xóa, sửa chữa”. Thực tế cho thấy,  
việc viết tắt, viết bằng ký hiệu trong nội  
dung của di chúc trong nhiều trường hợp  
là ý chí của chính cá nhân viết di chúc. Họ  
hiểu được những từ viết tắt, ký hiệu được  
sử dụng trong di chúc. Nhưng di chúc được  
luật định có hiệu lực khi người lập chết đi.  
Do đó, nội dung của di chúc có bao gồm cả  
từ viết tắt, viết bằng ký hiệu sẽ không phản  
ánh được một cách trung thực ý chí của cá  
nhân lập di chúc. Điều này có thể dẫn tới  
tình trạng nội dung của di chúc được hiểu  
bằng nhiều cách khác nhau. Bên cạnh đó,  
bản di chúc gồm nhiều trang cũng là điều  
thường thấy ở thực tế. Nếu di chúc được  
viết với dung lượng nhiều trang thì luật  
cũng định rằng mỗi trang đều phải ghi số  
thứ tự, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người  
lập di chúc, để tránh tình trạng không đảm  
bảo được tính liền mạch về nội dung của  
di chúc, đồng thời không đảm bảo được  
tính khách quan của việc lập di chúc. Hoặc  
trong quá trình lập di chúc có xuất hiện sự  
tẩy xóa, sửa chữa, pháp luật cũng quy định  
người tự viết di chúc hoặc người làm chứng  
phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.  
Những quy định này hướng tới tính thống  
nhất trong áp dụng đối với các trường hợp  
vi phạm điều khoản này.  
Thứ năm, nội dung của di chúc có đꢀt  
điều kiện.  
Việc đặt điều kiện hay triển khai những  
nội dung khác trong di chúc như thế nào là  
tùy thuộc vào ý chí của người để lại di sản,  
chỉ cần nội dung này đảm bảo sự không vi  
phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo  
đức xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nội  
dung di chúc của một cá nhân xuất phát từ  
tư duy rất “đời thường”, cho nên có những  
di chúc đặt ra điều kiện như sau: (i) Di chúc  
định đoạt di sản cho vợ nhưng chỉ cho hưởng  
nếu vợ không kết hôn với người khác; (ii)  
di chúc định đoạt cho con nhà và quyền sử  
dụng đất nhưng với điều kiện không được  
Xuất phát từ vị trí của di chúc trong chế  
định thừa kế và giá trị thực sự của nó đối với  
Số 10(434) - T5/2021  
33  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
bán và tặng cho người khác; (iii) di chúc  
định đoạt cho con được hưởng thừa kế với  
điều kiện phải chăm sóc một người nào đó  
bị bệnh tâm thần, bị mất khả năng lao động,  
già yếu đến khi người này chết…  
Thứ nhất, sửa đổi khoản 1, 2 Điều 631  
BLDS năm 2015 theo hướng làm rõ hơn nội  
dung của di chúc.  
Khoản 1 Điều 631 BLDS năm 2015 quy  
định: “Di chúc gồm các nội dung chủ yếu  
sau…”. Cách thể hiện này tạo nên cách hiểu  
đây là điều khoản chỉ dẫn áp dụng, tức là có  
thể có hoặc không đưa vào nội dung của di  
chúc. Bên cạnh đó, quy định của khoản 1 và  
khoản 2 điều này sẽ không mâu thuẫn với  
nhau nếu xác định khoản 1 là nội dung cần  
phải có và khoản 2 là chỉ dẫn thêm nội dung  
khác. Theo đó, khoản 1, 2 Điều 631 BLDS  
năm 2015 sẽ được sửa đổi lại như sau:  
Điều 631  
Chúng tôi cho rằng, xuất phát từ nhiều lý  
do, người lập di chúc định đoạt tài sản của  
mình cho người khác mong muốn tài sản  
của họ được duy trì và tồn tại lâu, mang lại  
ý nghĩa, giá trị vật chất cho người thừa kế.  
Vậy nên, họ sẽ cố níu kéo ở mức có thể bằng  
việc đặt điều kiện trong di chúc rằng không  
được bán, không được thế chấp, cầm cố ...  
và hy vọng nội dung di chúc đó sẽ được thực  
hiện khi họ chết đi. Những tư duy này hoàn  
toàn là bình thường ở đời sống xã hội nhưng  
xét về mặt pháp lý, người lập di chúc đang  
xác lập một giao dịch và thông qua giao dịch  
này sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm  
dứt quyền, nghĩa vụ của người hưởng di sản.  
Nếu chúng ta hiểu đây là quyền của người  
thừa kế sẽ không trọn vẹn, vì đã tồn tại là  
quyền, cá nhân đó có thể thực hiện hoặc  
không. Còn nếu coi đây là nghĩa vụ thì nghĩa  
vụ này vi phạm quy định của pháp luật. Vì  
người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ về  
tài sản do người chết để lại trong phạm vi di  
sản được hưởng. Rõ ràng, từ góc độ đời sống  
xã hội, chúng ta cũng nhận thấy một sự o  
ép, bó buộc, áp đặt ý chí của một chủ thể lên  
một chủ thể khác. Tuy nhiên, xét dưới góc  
độ pháp lý, việc hưởng thừa kế trong trường  
hợp này hay không vẫn do người thừa kế chủ  
động lựa chọn chứ không có sự áp đặt. Chính  
vì vậy, người thừa kế đã lựa chọn chấp nhận  
điều này đồng nghĩa với việc gắn kết nhận  
thức, hành vi của mình với điều kiện có trong  
di chúc. Nên di chúc có đặt điều kiện nhưng  
không vi phạm điều cấm của luật vẫn có giá  
trị pháp lý.  
1. Nội dung của di chúc do người lập di  
chúc định đoạt.  
2. Trong nội dung của di chúc phải có  
ngày, tháng, năm lập; họ, tên của người lập  
di chúc; họ, tên (hoꢀc yếu tố cá biệt khác)  
của cá nhân, tên của cơ quan, tổ chức được  
hưởng di sản. Ngoài ra, di chúc có thể có  
các nội dung khác phụ thuộc vào ý chí định  
đoạt của người lập di chúc.  
…………  
Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 631  
BLDS năm 2015 theo hướng cho phép viết  
tắt trong di chúc nhưng cần giải thích (đối  
với từ ngữ thông dụng thì không cần giải  
thích). Theo đó, khoản 3 Điều 631 BLDS  
năm 2015 sẽ được sửa đổi lại như sau:  
3. Nội dung của di chúc có thể viết tắt  
hoꢀc viết bằng ký hiệu nhưng phải được  
giải thích đối với từ viết tắt hoꢀc ký hiệu  
đầu tiên, trừ trường hợp những từ viết tắt  
hoꢀc ký hiệu thông dụng. Nếu di chúc gồm  
nhiều trang thì mỗi trang cần được ghi số  
thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người  
lập di chúc.  
2. Kiến nghị  
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa  
chữa thì người tự viết di chúc hoặc người  
làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ  
Nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định  
của BLDS năm 2015 về nội dung di chúc,  
tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:  
tẩy xóa, sửa chữa  
34  
Số 10(434) - T5/2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 16300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nội dung của di chúc theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnoi_dung_cua_di_chuc_theo_quy_dinh_cua_bo_luat_dan_su_nam_20.pdf