Một số vấn đề về việc nạo phá thai và quyền được sống của thai nhi còn trong bụng mẹ ở Việt Nam

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC NẠO PHÁ THAI VÀ  
QUYỀN ĐƯỢC SỐNG CỦA THAI NHI CÒN TRONG  
BỤNG MẸ Ở VIỆT NAM  
Văn Trương Ngọc Trâm  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Phương Nguyên  
TÓM TẮT  
Việt Nam là một quốc gia đang nỗ lực trong giai đoạn chuyển mình để có thể trở thành một  
đất nước phát triển mà trong đó vấn đề đang được quan tâm cũng như nỗ lực để hoàn thiện  
là bảo vệ nhân quyền. Tính đến năm 2020 thì pháp luật về việc nạo phá thai và quyền sống  
của thai nhi còn trong bụng mẹ ở Việt Nam vẫn còn là một vấn đề đang bị bỏ ngõ khi chưa  
được đề cập cụ thể cũng như khai thác triệt để. Qua đó, tác giả nhận thấy được tầm quan  
trọng của việc tìm hiểu, phát hiện những thách thức cũng như cơ hội để có thể thiết lập các  
quy định nhằm khắc phục tình trạng nạo phá thai cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của thai nhi còn trong bụng mẹ ở Việt Nam.  
Từ khóa: luật Quốc tế (LQT), nạo phá thai, nhân quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của thai  
nhi còn trong bụng mẹ, thai nhi còn trong bụng mẹ (Thai nhi).  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Để có thể tiến hành tìm hiểu và khai thác trọn vẹn vấn đề liên quan đến nạo phá thai và  
quyền của thai nhi thì phải đề cập đến quyền được sống của con người, theo Điều 6 Công  
ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (gọi tắt là ICCPR) ghi nhận thì “Mọi người đều  
có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị  
tước mạng sống một các tùy tiện”. Cũng dựa trên công ước này mà Hiến Pháp 2013 của  
Việt Nam đưa ra quy định về quyền sống tương tự tại Điều 19 là “Mọi người có quyền sống.  
Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai được tước đoạt tính mạng trái luật”.  
“Nạo phá thai là biện pháp sử dụng thuốc hoặc thủ thuật ý tế nhằm mục đích đưa bài thai ra  
ngoài và chấm dứt thời kỳ thai nghén. Thực tế nạo phá thai là chấm dứt thai kỳ hay chấm dứt  
sự sống của thai nhi trước khi sinh một cách cố ý" [8.Tr.55]. Nếu thai nhi được coi là một tính  
mạng, cần phải bảo vệ thì việc nạo phá thai đồng nghĩa với việc tước đoạt tính mạng, tước  
đoạt quyền được sống của một người. Ngoài ra thì nạo phá thai cũng để lại nhiều hệ lụy cho  
thai phụ trong vấn đề sinh sản và sức khỏe sau này như vô sinh, băng huyết, ảnh hưởng  
đến vấn đề dân số, giới tính ở Việt Nam. Nên có thể nhận định rằng ngoài việc ảnh hưởng  
đến quyền sống của thai nhi còn trong bụng mẹ thì nạo phá thai còn có thể gây ra rất nhiều  
hậu quả xấu khác.  
“Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới WHO tính đến năm 2019 thì Việt Nam là  
quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất Đông Nam Á và cao thứ 5 thế giới với từ 250.000-  
1802  
300.000 ca mỗi năm, trong đó, có khoảng 75% rơi vào độ tuổi từ 15- 19" [7]. Hơn thế, con số  
này đang không ngừng tăng cùng với sự phát triển của xã hội và sự bất cập của pháp luật.  
Một vấn đề mà tác giả đặt ra trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, về nguyên nhân dẫn đến  
những con số “khổng lồ” trên một phần là xuất phát từ những thiếu sót cũng như lỗ hỏng của  
pháp luật Việt Nam trong việc thiết lập các quy định liên quan đến nạo phá thai. Việt Nam  
chưa thực sự có biện pháp để ngăn chặn hành vi nạo phá thai một cách hợp lý và những  
quy định hiện hành là chưa đủ về mức độ để răng đe, các mức phạt được quy định trên thực  
tế chỉ thể hiện sự cảnh cáo mà không phải là hình phạt trong việc can thiệp, đe dọa đến  
quyền được sống của thai nhi.  
2 QUYỀN SỐNG CỦA THAI NHI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN  
Quyền sống của thai nhi còn trong bụng mẹ theo quan điểm của tác giả và dựa trên quyền  
sống ghi nhận tại Điều 6 ICCPR có thể được hiểu đơn giản là:"Quyền của thai nhi còn trong  
bụng mẹ được sống, được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe. Không ai có thể tước đi mạng  
sống của thai nhi một cách tùy tiện". Quyền sống của thai nhi là một vấn đề cần phải được  
quan tâm trên hết vì quyền thai nhi trong pháp luật còn khá mơ hồ và chưa được công nhận  
vì thai nhi còn trong bụng mẹ không phải là cá nhân trong pháp luật Việt Nam. Điều đó đã  
khiến cho thai nhi chưa được bảo vệ đúng cách và luôn trong tình trạng có thể bị xâm phạm  
đến tính mạng và sức khỏe.  
Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã và đang mở đường phát triển quyền lợi của thai nhi nói  
chung và quyền sống của thai nhi còn trong bụng mẹ nói riêng. Nhưng trong thực tế còn rất  
nhiều sự nhầm lẫn liên quan đến thai nhi còn trong bụng mẹ, đơn cử như việc nhiều người  
vẫn còn nhận định rằng thai nhi chỉ là một phần “tài sản” của người mẹ và người mẹ có  
quyền trong việc lựa chọn nạo phá thai hoặc không [5.Tr.1]. Nhiều chủ thể khác thì hiểu  
nhầm về vấn đề thai nhi còn trong bụng mẹ thì không phải là con người, vì vậy họ còn quan  
ngại việc công nhận thai nhi là một cá nhân trong pháp luật khi chưa nắm chắc được thai nhi  
đó có thể ra đời hay không.  
Trong khi quyền được sống có thể được xem như quyền lợi tối cao của một cá nhân, trên tất  
cả những lợi ích khác thì quyền sống của thai nhi còn trong bụng mẹ lại rất dễ bị xâm phạm  
trong khi thực tế thì quyền được sống này phải được ưu tiên bảo vệ. Nhiều tổ chức hay các  
Công ước quốc tế như Ủy ban về quyền trẻ em (gọi tắt là CRC), ICCPR, Công ước quốc tế  
về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (gọi tắt là CPPCG),… cũng đưa ra một số điểm  
quan trọng củng cố nội dung của quyền sống là kể cả liên quan đến an ninh quốc gia, trong  
tình trạng khẩn cấp của quốc gia cũng không thể can thiệp đến quyền được sống của con  
người, đồng thời phạm vi của quyền sống phải được mở rộng ra nhằm đảm bảo sự tồn tại  
của con người bao gồm cả giảm tỷ lệ chết ở trẻ em [8.Tr.8-10] Có thể thấy vấn đề quyền  
sống là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong phạm vi nhân quyền mà trong đó bao  
gồm cả quyền được sống của thai nhi nhưng hiện trạng nạo phá thai ở Việt Nam lại tăng cao  
theo thời gian gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được sống của thai nhi còn trong  
bụng mẹ.  
Quyền sống của thai nhi nên được đề cao và thực thi một cách cấp thiết vì thai nhi không chỉ  
là một chủ thể nên được bảo vệ bởi nhân quyền mà thai nhi còn là tương lai của quốc gia,  
của hành tinh. Bảo vệ thai nhi là bảo vệ tương lai, hơn thế nữa, cần phải xóa bỏ sự phân  
biệt trong việc bảo vệ các chủ thể. Chủ thể nào cũng cần sự bảo vệ của pháp luật, cũng cần  
1803  
có quyền cố hữu là được sống. Thay đổi được hiện trạng nạo phá thai, bảo vệ được quyền  
sống của thai nhi sẽ giúp nhân quyền được phát triển hơn, trọn vẹn hơn.  
3 HẠN CHẾ CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC KIỂM SOÁT NẠO PHÁ THAI VÀ  
NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC THIẾT LẬP QUYỀN CHO THAI NHI CÒN  
TRONG BỤNG MẸ  
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại thì thai nhi còn trong bụng mẹ chưa được coi  
là một cá nhân, tương đương với việc thai nhi sẽ chưa được bảo vệ bởi pháp luật cho đến  
khi được sinh ra. Theo khoản 3 điều 16 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 thì “Năng lực pháp luật  
dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”, đồng nghĩa  
với việc định nghĩa về cá nhân trong pháp luật Việt Nam là để chỉ cá thể sau khi được sinh  
ra chứ không phải là cá thể còn trong bụng mẹ như thai nhi. Thiếu sót trên đã, đang và sẽ  
tiếp tục dẫn đến nhiều hệ lụy cũng như gây nhiều khó khăn trong việc phát triển hệ thống  
pháp luật trong phạm vi nhân quyền ở Việt Nam.  
Về vấn đề thời điểm thai nhi nên được công nhận là cá nhân thì các quốc gia đều có “công  
thức” khác nhau để xác định. Có quốc gia cho rằng xác định được thời điểm thai nhi có thể  
tồn tại dựa vào việc xác định thời điểm thai nhi có thể tồn tại khi bị sinh non (cụ thể là từ tuần  
22 đến tuần 36 thì thai nhi đã có thể tồn tại dù là ngoài tử cung của thai phụ - khi bị sinh  
non), nhưng đây không phải là cách xác định hợp lý vì khả năng sống của trẻ sinh non cũng  
không thể được bảo đảm dưới góc độ y tế. Ngoài ra thì còn có thể xác định bằng thời điểm  
mà thai nhi có thể hoạt động khi còn trong bụng mẹ, dù vậy thì theo sự tiến bộ của y học các  
nghiên cứu đã chỉ ra thai nhi có thể có những cử động nhỏ từ tuần thứ 10 của thai kỳ thay vì  
là tuần thứ 18 theo những nghiên cứu trước đó [6.Tr.6]. Trong nhiều quan điểm được thể  
hiện thì một số người cho rằng “sự sống được bắt đầu từ lức thụ thai và cấu trúc gen của  
con người cũng được xác định từ lúc thụ thai” nhưng cũng có những nhận định rằng “khả  
năng thành phôi thai từ lúc thụ thai là chưa rõ ràng và việc nhận định thai nhi một con người  
sau khi thai nhi được sinh ra thì an toàn hơn” [6.Tr.4]. Dù thai nhi có quá trình phát triển,  
thành hình theo quy luật, trung bình là 42 tuần, phát triển theo tam cá nguyệt (tam cá nguyệt  
thứ nhất là 14 tuần đầu của thai kỳ, tam cá nguyệt thứ 2 bắt đầu từ tuần 15 đến tuần 28, tam  
cá nguyệt cuối cùng tính từ tuần 19 tới lúc sinh là tuần 42) nhưng để đưa ra thời điểm nhất  
định nhằm xác định thời điểm thai nhi có quyền vẫn là một bài toán khó cho pháp luật Việt  
Nam.  
Đối với các quyền của thai nhi còn trong bụng mẹ theo quy định hiện hành ở Việt Nam thì  
thai nhi chỉ có một số quyền về tài sản, lao động hay quy định nhằm bảo vệ quyền lợi thai  
phụ. Quyền tài sản của thai nhi cụ thể là “Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng  
hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà  
người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng;  
nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng” theo khoản 1 điều 660  
Bộ luật Dân sự 2015. Hay quyền về lao động “quy định về chế độ thai sản và những hạn chế  
bắt buộc khi xử lý kỷ luật, giới hạn quyền lợi của người sử dụng lao động, bảo vệ quyền lợi  
của người phụ nữ mang thai, gián tiếp bảo vệ cả quyền lợi của thai nhi” tại các điều 123,  
155, 157, 158 Bộ luật Lao động 2019. Và liên quan đến hình sự cũng có những quy định bảo  
vệ thai phụ đồng thời gián tiếp bảo vệ thai nhi nhưng quy định chưa thực sự làm rõ quyền lợi  
của thai nhi “Bảo vệ quyền lợi của những thai nhi còn chưa chào đời trước những hành vi  
xâm hại, đồng thời cân nhắc mức xử phạt đối với thai phụ và mức tăng nặng đối với tội phạm  
1804  
mà thai phụ là nạn nhân” quy định trong các điều 36, 40, 51, 123 của Bộ luật Hình sự 2015.  
Những quy định hiện hành liên quan đến thai nhi ở Việt Nam đều chưa thực sự nêu được  
tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ tính mạng của thai nhi như một cá nhân ở Việt Nam  
nhưng lại đưa ra các quyền liên quan đến tài sản dành cho thai nhi.  
Trên thực tế, đã có rất nhiều quốc gia đề cao vấn đề nhân quyền trên thế giới đưa ra những  
quy định khác nhau trong pháp luật của họ để bảo vệ thai nhi còn trong bụng mẹ, theo pháp  
luật của các quốc gia đó thì tại một thời điểm nhất định thai nhi sẽ được coi là một cá nhân  
được hưởng các quyền và lợi ích cơ bản của một cá nhân, từ đó thì việc nạo phá thai trở  
thành một hành vi phạm pháp, bị cấm và hạn chế ở nhiều quốc gia trên thế giới. Một số quốc  
gia cấm hoàn toàn hành vi nạo phá thai trong mọi trường hợp là Philippines, Cộng hòa  
Dominica, Vatican, Lào, Mỹ,... Nhiều quốc gia cũng thực hiện việc hạn chế nạo phá thai như  
Brazil, Hàn Quốc, Ấn Độ, Irag,… các quốc gia này chỉ cho phép nạo phá thai trong các  
trường hợp đặc biệt có thể kể đến như thai nhi là kết quả của hành vi tội phạm tình dục hoặc  
thai hư. Bên cạnh đó còn rất nhiều quốc gia như Nga, Hà Lan, Campuchia trong đó có cả  
Việt Nam chưa quy định rõ ràng để ngăn cấm việc nạo phá thai.  
Tình huống hiện tại của Việt Nam tương tự như quan điểm trong án lệ Roe v. Wade là “lựa  
chọn nạo phá thai hay không là kết quả của quyền riêng tư của phụ nữ và Nhà nước có thể  
không can thiệp vào sự lựa chọn đó” [6.Tr.8] và phần lớn quan điểm của Roe tập trung về  
sức khỏe, quyền riêng tư của người mẹ. Do chưa có sự bảo đảm nhất định về quyền dành  
cho thai nhi mà việc kiểm soát nạo phá thai cũng trở nên khó khăn hơn khi dường như ngoại  
trừ vấn đề về đạo đức thì không còn trói buộc nào để khiến việc nạo phá thai ngừng gia  
tăng. Chỉ khi thai nhi có quyền thì việc triển khai các quy định để kiểm soát việc nạo phá thai  
mới có thể thuận lợi hơn vì pháp luật có thể dựa vào những quy định đó để giảm tỷ lệ nạo  
phá thai và để bảo vệ cho thai nhi còn trong bụng mẹ.  
Tác giả nhận thức được hiện thực là không có quy định cụ thể về quyền thai nhi dẫn đến  
hiện trạng mức phạt trong việc nạo phá thai chỉ dừng ở chế tài xử phạt vi phạm hành chính  
mà không có các hình thức xử lý vi phạm khác. Theo khoản 2 điều 98 NĐ 117/2020/NĐ-CP  
quy định mức phạt vi phạm đối với các quy định về chẩn đoán, xác định giới tính thai nhi  
phạt từ 5-10 triệu đồng đối với hành vi chẩn đoán và tiết lộ giới tính thai nhi, bị tước quyền sử  
dụng giấy phép hoạt động chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng.  
Theo nghị định này thì hành vi bói toán để xác định giới tính thai nhi cũng bị phạt từ 03 đến  
05 triệu đồng. Tuyên truyền, phổ biến, tư vấn phương pháp để có được giới tính thai nhi theo  
ý muốn thì sẽ bị phạt tiền từ 03 đến 05 triệu. Theo điều 100 NĐ 117/2020/NĐ-CP thì hành vi  
loại bỏ thai nhi do lựa chọn giới tính có các mức phạt tưởng ứng. Ngoài những quy định về  
nạo phá thai trên thì pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có xử lý đặc biệt nào đối với các  
hành vi nạo phá thai và các công tác triển khai xử lý vi phạm cũng gặp rất nhiều khó khăn do  
sự “khôn khéo” của các cơ sở khám, nạo phá thai “chui”. Hiện trạng chính xác là chưa có  
cách xác định thế nào là gây hại đến thai nhi hay nạo phá thai có phải là gây hại đến một cá  
nhân trong pháp luật Việt Nam hay không.  
Việc triển khai quyền dành cho thai nhi còn trong bụng mẹ tại Việt Nam trên thực tế còn rất  
nhiều thách thức để có thể thực hiện cũng như hoàn thiện. Quyền của thai nhi còn trong  
bụng mẹ chưa thể được thiết lập khi pháp luật Việt Nam chưa công nhận thai nhi như một  
cá nhân để bảo vệ, khi đó thai nhi sẽ vẫn chưa được hưởng những quyền lợi cơ bản của  
một cá nhân, của một công dân Việt Nam. Để có thể bảo vệ được thai nhi còn trong bụng  
1805  
mẹ thì việc triển khai quy định về quyền của thai nhi, xác định được thời điểm thai nhi có  
quyền cũng như siết chặt hành vi nạo phá thai “vô tội vạ” là cần thiết hơn bao giờ hết. Trong  
đó, để có thể thúc đẩy việc kiểm soát nạo phá thai và thiết lập quyền cho thai nhi mà cụ thể  
là bảo vệ quyền sống cho thai nhi thì việc học hỏi những “nước bạn” về cách xử lý vấn đề  
trên là thiết thực hơn bao giờ hết. Nhưng những quy định được lựa chọn để nêu cao tối đa  
quyền lợi của thai nhi và thai phụ cũng cần phải được xem xét để phù hợp với văn hóa, xã  
hội và pháp luật Việt Nam.  
4 NHỮNG QUY ĐỊNH MÀ CÁC QUỐC GIA KHÁC ĐÃ ĐẶT RA ĐỂ GIẢI QUYẾT  
“BÀI TOÁN” QUYỀN SỐNG CỦA THAI NHI VÀ NHỮNG ĐIỀU VIỆT NAM CÓ  
THỂ ÁP DỤNG  
Việt Nam cần tiến hành việc xác định thời điểm thai nhi được công nhận là cá nhân để có  
thể thuận lợi tiến hành việc bảo vệ quyến sống của thai nhi còn trong bụng mẹ và hạn chế  
hành vi nạo phá thai trái phép. Theo chu kỳ phát triển của thai nhi thì thai nhi sẽ phát triển  
gần như toàn diện về hình thể vào tuần thứ 12 của thai kỳ nên tại thời điểm tuần thứ 12 thì  
thai nhi đã có hình dáng của một con người hoàn chỉnh. Ngoài ra vào tuần thứ 16 của thai kỳ  
thì đã có thể xét nghiệm được giới tính của thai nhi [2], vì thế từ tuần 12 đến tuần 16 (trung  
bình từ tháng thứ 3 đến thành thứ 4 của thai kỳ) đã có đủ thời gian để thai phụ nhận ra sự  
hiện diện của thai nhi và cũng là thời điểm mà thai nhi đã trở thành “con người” hoàn chỉnh  
về hình dáng. Nên, dựa vào việc xác định này thì pháp luật Việt Nam có thể đưa ra mốc thời  
gian mà thai nhi được công nhận là một cá nhân là từ khoảng tuần 12 tới tuần 16 của thai  
kỳ. Việc thiết lập được thời điểm để thai nhi được xác nhận là cá nhân sẽ giúp thai nhi có  
được những quyền lợi cơ bản, đồng thời sẽ tạo thuận lợi để triển khai các quy định khác liên  
quan đến thai nhi còn trong bụng mẹ như quy định về việc nạo phá thai.  
Hiện tại có rất nhiều quốc gia cho phép phá thai trong một khoảng thời hạn mà quốc gia đó  
đặt ra, đồng nghĩa khi thai kỳ vượt quá thời hạn được cho phép thì không được thực hiện  
hành vi nạo phá thai. Tại Mỹ, cấm hầu hết các trường hợp nạo phá thai sau khi có tim thai  
vào tuần thứ 6 của thai kỳ nhưng những người phản đối cho rằng nạo phá thai vào thời điểm  
này là quá muộn khi hầu hết phụ nữ đến thời điểm này mới cảm nhận được họ đang mang  
thai và thậm chí tại quốc gia này thì những hành vi gây hại đến tính mạng thai nhi còn bị liệt  
vào tội ngộ sát hay giết người. Ngoài ra thì các nước “hợp pháp hóa” cho việc nạo phá thai  
cũng có những khung thời gian tối đa để có thể tiến hành nạo phá thai, ở Uruguay thời gian  
được nạo phá thai là từ khi thụ thai cho đến đến tuần thứ 12 của thai kỳ (khoảng tháng thứ 3  
của thai kỳ) nhưng để được nạo phá thai thì phải chờ 05 ngày và tham khảo ý kiến của Hội  
đồng gồm 03 chuyên gia, đối với nhiều nước là thành viên của khối Liên minh châu Âu (EU)  
cho phép nạo phá thai đối với thai nhi có thai kỳ dưới 14 tuần, tuy nhiên, thời hạn có thể  
được tăng thêm tùy theo tình tiết của vụ việc. Trong các quốc gia này Việt Nam có thời gian  
cho phép nạo phá thai khá cao lên đến 22 tuần (trung bình là tháng thứ 5 của thai kỳ). Tác  
giả nhận ra một sự thật rằng cho phép nạo phá thai trong một mốc thời gian nhất định như  
quy định của môt số quốc gia vẫn tương tự việc hợp pháp hóa hành vi sát hại một con  
người, một cá nhân trong một thời hạn cho phép. Khác biệt duy nhất là cá nhân đó chưa thể  
thấy được ở bên ngoài, chưa được sinh ra cũng như chưa thể hoạt động như một con người  
thực sự.  
Từ đó phát hiện ra việc cho phép nạo phá thai và đưa ra mốc thời gian mà thai phụ không  
được nạo phá thai lại không “lý tưởng” cho thực tế so với việc cấm nạo phá thai và chỉ cho  
1806  
phép nạo phá thai trong các trường hợp ngoại lệ. Phân tích sau hơn những ngoại lệ mà các  
quốc gia khác sẽ cho phép để tiến hành việc nạo phá thai thì có thể thấy, ở Paraguay việc  
nạo phá thai bị cấm kể cả trong trường hợp thai nhi là kết quả của hành vi tội phạm tình dục  
và chỉ cho phép nạo phá thai khi thai nhi gây biến chứng nguy hiểm có thể ảnh hưởng tới  
mạng sống của thai phụ. Ở Ấn Độ thì việc nạo phá thai được cho phép khi việc mang thai có  
thể đe dọa đến tính mạng thai phụ và thai nhi là hậu quả của hành vi tội phạm tình dục.  
Tương tự Ấn Độ là Hàn Quốc nhưng quốc gia này còn cho phép “thêm” việc nạo phá thai  
trong trường hợp “hỏng” thai hay loạn luân. Qua những đặc điểm khác nhau trong pháp luật  
của các quốc gia trên thế giới mà tác giả nhận thấy sự quan tâm về quyền của thai nhi và  
việc ngăn chặn tình trạng nạo phá thai còn chưa được trọn vẹn, trong khi có nhiều quốc gia  
quá khắt khe trong việc nạo phá thai dẫn đến quyền lợi của thai nhi và thai phụ bị ảnh hưởng  
thì vẫn còn nhiều quốc gia khác “phớt lờ” lời kêu gọi được sống của các thai nhi chưa thể  
lên tiếng vì quyền lợi của mình.  
“Theo số liệu năm 2013 của Liên hiệp quốc, 97% các quốc gia trên thế giới đã cho phép nạo  
phá thai để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của phụ nữ. Trong đó, khoảng 65% các quốc gia  
cho phép nạo phá thai khi sức khỏe của thai phụ bị đe dọa, 49% các quốc gia cho phép nạo  
phá thai khi thai nhi bị khiếm khuyết hoặc việc mang thai là kết quả của hành vi tội phạm tình  
dục. Chỉ 34% các quốc gia cho phép nạo phá thai vì lý do kinh tế - xã hội hoặc nạo phá thai  
theo yêu cầu”[1]. Thực tại cho thấy đa số các quốc gia đều có những quy định cũng như  
ngoại lệ riêng trong việc nạo phá thai mà chủ yếu ngoại lệ này nhằm bảo đảm sức khỏe thai  
phụ khi xuất hiện tình trạng thai nhi bị khiếm khuyết, thai hư, có thể gây nguy hiểm đến tính  
mạng của thai phụ hay thai nhi là kết quả của hành vi tội phạm tình dục, ở đây tác giả tạm  
gọi các hiện tượng trên là tình trạng thai nhi “tiêu cực”. Hiện tại, pháp luật Việt Nam cho  
phép nạo phá thai theo yêu cầu và trường hợp cấm nạo phá thai duy nhất là thai nhi trên 22  
tuần tuổi theo Quyết định 4620/QĐ-BYT nhưng nếu trong trường hợp thai nhi gặp sự cố có  
thể gây nguy hiểm đến tính mạng của thai phụ thì kể cả dưới tình huống thai nhi trên 22 tuần  
tuổi nếu được sự chỉ thị của chuyên gia việc tiến hành nạo phá thai để bảo toàn tính mạng  
cho thai phụ là cần thiết và hợp lý.  
Pháp luật Việt Nam có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm từ những quốc gia tiên  
phong trong việc triển khai quyền dành cho thai nhi. Việc giới hạn tuần thai kỳ mà thai phụ  
có thể tiến hành nạo phá thai cũng là một biện pháp, song, điều này chưa thực sự hiệu quả  
khi các nước áp dụng quy định tương tự đều có tỷ lệ nạo phá thai cao và gặp nhiều khó  
khăn trong việc kiểm soát nạo phá thai. Nhưng nếu áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn việc  
nạo phá thai và đưa ra những ngoại lệ hợp lý trong phạm vi văn hóa, xã hội, pháp luật của  
Việt Nam thì việc kiểm soát có thể sẽ dễ dàng hơn cho Việt Nam. Vậy nên, đề xuất của tác  
giả là ban hành một văn bản hay luật cụ thể về việc nghiêm cấm hành vi xâm phạm đến  
quyền và lợi ích của thai nhi như các văn bản luật “feticide law” hay “fetal abuse law”, trong  
đó đề cập rõ thai nhi có quyền lợi như một cá nhân từ tuần thứ 15 của thai kỳ và kể từ thời  
điểm thai nhi được xem như một cá nhân trong pháp luật Việt Nam thì đồng nghĩa với việc  
các vi phạm về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm mà thai nhi là bên bị hại đều  
được điều chỉnh và bảo vệ bởi pháp luật. Trong đó hành vi nạo phá thai sẽ được coi là một  
hành vi cố ý gây hại về tính mạng của thai nhi và bị xử lý tương tự như tội phạm theo Bộ luật  
Hình sự 2015, đồng thời các cơ sở y tế vi phạm quy định về Luật Nạo phá thai cũng sẽ bị xử  
lý nghiêm khắc. Nhưng cũng sẽ có những quy định để cho phép nạo phá thai trong các tình  
1807  
trạng mà gọi chung là tình trạng thai nhi “tiêu cực” để đảm bảo tính an toàn về tính mạng,  
sức khỏe của thai phụ và đảm bảo tính nhân đạo cho thai nhi.  
Nghiên cứu về những ngoại lệ trong tình trạng thai nhi “tiêu cực”, tác giả chia ra 2 trường  
hợp chính là “an toàn cho thai phụ” và “nhân đạo cho thai nhi”. Trước tiên là các trường  
hợp thai nhi “tiêu cực” đặt trong phạm vi “an toàn cho thai phụ”, trong trường hợp này sẽ  
lấy sức khỏe và an toàn tính mạng của thai phụ làm tiền đề để xem xét các ngoại lệ. Các  
trường hợp có thể gây nguy hiểm để tính mạng thai phụ hay gây thương tổn cho cơ thể  
mà có thể dẫn tới các hệ lụy xấu như vô sinh, bằng huyết nếu có kèm theo ý kiến, kiến  
nghị loại bỏ thai nhi của chuyên gia thì đều có thể xem là ngoại lệ trong nạo phá thai. Có  
thế đưa ra một vài ví dụ thực tiễn như “trường hợp nghén dữ dội, kéo dài kèm theo ra máu  
được xếp vào dạng nghén bệnh lý chửa trứng toàn phần thì nguy cơ ung thư rau thai là rất  
lớn, không nên giữ thai vì có thể nguy hiểm đến tính mạng người mẹ” hay “trường hợp thai  
phụ nhiễm bệnh nặng, không thể tiếp tục thai kỳ chẳng hạn như bệnh tim nặng, bệnh lao  
đang tiến triển, basedow nặng, ung thư đang điều trị bằng tia xạ, AIDS giai đoạn cuối”[9]  
trong các trường hợp này thì tỷ lệ “mẹ tròn con vuông” là vô cùng thấp. Trên thực tế, các  
biến chứng về bệnh tật có thể ảnh hưởng nhiều đến việc bảo trì thai nhi trong bụng của  
thai phụ nếu thai phụ có các bệnh nền trước đó, trong các tình huống này thì ngoại lệ nạo  
phá thai sẽ được đề xuất bởi các chuyên gia có thẩm quyền và việc có tiến hành nạo phá  
thai hay không thì sẽ phụ thuộc vào thai phụ.  
Về trường hợp thai nhi “tiêu cực” đặt trong phạm vi “nhân đạo cho thai nhi”, giải thích về từ  
nhân đạo trong cụm từ trên thì tác giả ngụ ý rằng đây là nhân đạo trong việc cho thai nhi  
được sống trọn vẹn, có cơ hội phát triển toàn vẹn. Trong quá trình mang thai có rất nhiều  
khả năng phải nạo phá thai không chỉ để giữ an toàn cho thai phụ mà còn là vì thai nhi, trong  
trường hợp thai lưu (thai nhi chết và lưu lại trong tử cung) thì việc bỏ thai là điều bắt buộc,  
nhưng nếu thai nhi bị các dị tật, khiếm khuyết có thể phát hiện qua siêu âm thì thai phụ có  
thể được chọn để xem xét có nên giữ thai hay không vì điều này có thể gây ảnh hưởng cuộc  
sống phát triển lâu dài của thai nhi. Ngoài ra, thì thai nhi là kết quả của hành vi tội phạm tình  
dục hay thai nhi là kết quả của loạn luân cũng có thể được đưa vào ngoại lệ vì những tình  
huống trên có thể gấy ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc, phát triển của thai nhi khi sinh ra,  
có thể được suy xét vào phần ngoại lệ.  
Tổng kết lại thì việc nạo phá thai đều phải đặt trên lập trường sức khỏe, tính mạng của thai  
phụ và thai nhi để suy xét, đặc biệt đối với thai nhi vì đó là chủ thể chưa thể tự bảo vệ cũng  
như lên tiếng vì quyền lợi của bản thân trong khi thai nhi cũng là một cá thể cần được bảo vệ  
bởi pháp luật. Thai nhi còn trong bụng mẹ cần có quyền, cần được công nhận như một cá  
nhân trong pháp luật Việt Nam và việc nạo phá thai cần được siết chặt nhưng cũng phải có  
những ngoại lệ hợp lý để quyền lợi của thai phụ và thai nhi được bảo vệ tối đa. Hoàn thiện  
luật pháp về quyền của thai nhi cũng như là luật pháp về nạo phá thai không chỉ để bảo vệ  
quyền sống, quyền phát triển của thai nhi mà còn là để tạo bước đệm trong việc hoàn thiện  
luật về nhân quyền ở Việt Nam. Nhân quyền có thể không còn là điều mới mẻ nhưng nó vẫn  
chưa được quan tâm trọn vẹn tới tất cả cá nhân, cá thể trong cộng đồng, vì vậy, tác giả hy  
vọng bài báo này có thể góp phần để phát triển về nhân quyền cũng như để tạo dựng được  
sự bảo vệ dành cho thai nhi còn trong bụng mẹ.  
1808  
5 KẾT LUẬN  
Theo sự gia tăng của số liệu thống kê về tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam qua từng năm thì vấn  
đề thiết lập quyền dành cho thai nhi còn trong bụng mẹ lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết.  
Trong thời đại mà con người đều được bảo vệ bởi nhân quyền thì thai nhi cũng phải được  
bảo vệ như một con người, một cá nhân. Do những khó khăn hiện tại mà việc triển khai  
quyền dành cho thai nhi còn nhiều rào cản nhưng việc thiết lập quyền dành cho thai nhi sẽ là  
điều tất yếu trong tương lai mà pháp luật Việt Nam đang hướng tới. Bên cạnh đó thì pháp  
luật để siết chặt về hành vi nạo phá thai cũng rất cần thiết, vì việc đưa ra các quy định về  
nạo phá thai và việc bảo vệ quyền sống của thai nhi cùng lúc có thể tạo điều kiện để hai vấn  
đề trên bổ trợ cho nhau trong việc thực thi pháp luật vì ngăn chặn nạo phá thai nhằm mục  
đích bảo vệ quyền sống thai nhi mà đưa ra quyền lợi cho thai nhi cũng là biện pháp tốt để  
ngăn chặn được hành vi nạo phá thai trái phép. Tác giả hy vọng trong tương lai gần pháp  
luật về nhân quyền sẽ được triển khai mạnh mẽ hơn cũng như đầy đủ hơn để bảo vệ cho cả  
thai nhi còn trong bụng mẹ cũng như tất cả người dân của Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Báo Quản trị, 19/10/2015. Luật phá thai của các nước trên thế giới, xem tại  
138268.aspx  
[2] Bích Ngân, 12/08/2019. Sự hình thành và phát triển của thai nhi qua 42 tuần tuổi, xem  
nhi/?fbclid=IwAR2n0T2q_FaR4lxealwIC-UwGau2d2iAV6Qb5gGg-  
eAa9iXvVgKTaQkIswI  
[3] Bộ luật Dân sự 2015.  
[4] Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).  
[5] Gaurav Garwa (2009). Jurisprudential analysis of right to life of fetus, xem tại link:  
[6] Julianna Frisch (2008). Abortion, feticide and fetal abuse: searching for consistency,  
[7] Lê Phương, 27/09/2017. Việt Nam đứng số 1 Đông Nam Á, số 5 thế giới về nạo phá  
so-5-the-gioi-ve-nao-pha-thai-1445060.tpo?fbclid=IwAR1LEum-  
0IV7pxgom6Yv1KP5gjYasthPbgdhr_dBN-hioS8h__9ff7HUj8M  
[8] Lỗ Thị Thu Hà (2014). Quyền sống của thai nhi và vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp  
luật Việt Nam về phá thai. Luận văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[9] Trường hợp không nên giữ thai, xem tại link: https://hongngochospital.vn/nhung-  
truong-hop-khong-nen-giu-thai/  
1809  
pdf 8 trang Thùy Anh 9700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về việc nạo phá thai và quyền được sống của thai nhi còn trong bụng mẹ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_viec_nao_pha_thai_va_quyen_duoc_song_cua_th.pdf